Tags

,

Đầy Tớ Vô Dụng

  • Lộc Vũ

Trong buổi họp hàng tháng vào Chúa Nhật đầu tháng tại phòng tập hát cạnh văn phòng giáo xứ, Nhóm Nhỏ Kitô-hữu Inê Thành chúng tôi học hỏi và chia sẻ lời Chúa về bài phúc âm của thánh Luca 17:5-10 đăng trên tờ Hiệp Nhất hôm đó. Khi các tông đồ xin Chúa Giêsu ban thêm lòng tin cho họ, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp là có ban cho họ hay không, nhưng Ngài lại kể một câu chuyện về cách đối xử của ông chủ nhà đối với người đầy tớ vừa mới cầy bừa ngoài đồng trở về. Một là mời người đầy tớ vào bàn ăn, hai là bảo người ấy dọn bữa tối cho chủ ăn xong rồi mới được ăn. Rồi Ngài hỏi ngược lại các tông đồ rằng, “Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không?” Rồi Ngài tự trả lời là không, và khuyên các môn đệ rằng, “Khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.” (Lc 17:10).

Bài phúc âm này có vẻ khó hiểu vì các môn đệ xin một đàng thì Chúa Giêsu lại cho một nẻo. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực mà Chúa muốn dạy các môn đệ qua đoạn phúc âm này?

Để dẫn giải ý nghĩa của bài phúc âm này, Lm. Xuân Nguyên kể chuyện về một ngôi thánh đường mới khánh thành do tiền đóng góp của mọi giáo dân trong một cộng đoàn nọ, và ngài nhận định như sau:

“Điều làm cho ngôi nhà thờ vật chất có giá trị là do bởi lòng quảng đại dâng cúng đóng góp xuất phát từ sự hy sinh thật tình như của lễ chung góp vào lễ hy sinh thánh giá của con người. Lúc đó, mọi cá nhân sẽ hòa hợp nên một như của lễ duy nhất, và tự nhiên họ được hòa tan trong sự hiện diện của Chúa Kitô thập giá ở đó.  Chúa Kitô dạy chúng ta về sự hy sinh này: ‘Phần các con, khi làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.’ (Lc 17:10). Phải, bởi vì Chúa thích tấm lòng hy sinh chứ không phải của lễ” (trích Hiệp Thông số 83).

Qua lời giải thích trên đây của cha Xuân Nguyên, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ bài học hy sinh. Rồi cha ngưng lại ở đó mà không giải thích thêm. Còn đối với bản thân tôi là một người giáo dân bình thường, tôi nghĩ rằng Chúa muốn tôi phải có thái độ khiêm hạ khi làm công việc Chúa giao phó.  Khi làm bất cứ công việc gì mà Chúa muốn tôi phải làm, tôi làm công việc đó như một bổn phận. Dù không muốn làm, tôi  cũng phải hy sinh mà làm, không được phép từ chối hay thoái thác vì bất cứ lý do gì,  vì đó là bổn phận hay nghĩa vụ của một người tin theo Chúa. Và khi làm xong, tôi phải có lòng khiêm hạ mà nhìn nhận rằng mình chỉ là người đầy tớ vô dụng vì chỉ biết làm điều mình phải làm. Quả vậy, trong cuộc sống của một người Kitô-hữu, tôi phải giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời, 6 điều răn của Hội Thánh, 14 mối thương người và cố gắng sống theo 8 mối phúc thật mà Chúa đã truyền dạy. Tôi chưa có một sáng kiến hay tự ý làm hơn những điều Chúa muốn nơi tôi cả. Vì thế dù tôi có thành công lớn lao trong công việc Chúa muốn tôi làm, tôi không thể tự hào về bổn phận phải làm; tôi càng không được phép kể công với Chúa hay với bất cứ ai; nhất là tôi không có quyền đòi hỏi Chúa phải cám ơn hoặc trả ơn cho tôi qua các lời tôi cầu xin nơi Chúa, vì Chúa đã trả lời rõ ràng là chủ nhà KHÔNG phải mang ơn người đầy tớ khi nó đã làm theo lệnh của chủ (x. Lc 17:9). Đến đây tôi tự nhủ rằng không biết có công việc nào Chúa muốn tôi làm mà lại thưởng công cho tôi không? Chẳng hạn như việc truyền giáo? Một giáo dân tầm thường như tôi không đi tu mà lại tự nguyện làm công việc rao giảng Tin Mừng của các cha và các sơ thì có được Chúa thưởng công cho chăng?

Vì Nhóm Nhỏ không có cha linh hướng và không biết hỏi ai, nên tôi tự mò mẫm tìm hiểu qua Thánh Kinh, các giáo huấn của Giáo Hôi và các sách báo công giáo. Cuối cùng tôi tìm thấy các giáo huấn về tông đồ giáo dân dưới đây.

Truyền Giáo: Tự Nguyện hay Nhiệm Vụ?

“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con” (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Giáo Hội vẫn tiếp tục thực thi cho đến thời đại ngày nay. Tôi là một chi thể của Giáo Hội nên tôi cũng phải chia sẻ sứ mệnh truyền giáo trong bậc sống của tôi.

Thánh Phaolô tông đồ đã tự thú rằng:  “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cor 9, 16-17).

Công Đồng Vaticanô II qua hiến chế Tín Lý Về Giáo HộI (GH) và sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (TĐGD) công bố từ năm 1965 đã nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dân là phải truyền bá Phúc Âm cho thế giới và làm chứng nhân cho Chúa Kitô (GH số 35 & 36), và canh tân các trật tự trần thế trong bậc sống của mình (TĐGD số 7).

Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: “Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại” (Sứ điệp Truyền giáo, số 2).

“Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài” (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).

Truyền Giáo: bằng rao giảng hay bằng chứng nhân?

Là một phần tử của Giáo Hôi với sứ mệnh được sai đi đem tin mừng Phúc Âm cho mọi người, mỗi người gíao dân bắt buộc phải làm việc tông đồ vì “việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô-giáo” (Jn 4:14). Nhiệm vụ đó không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Vì vậy, mỗi giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào công cuộc tông đồ và truyền giáo của giáo hội địa phương bằng việc tông đồ cá nhân hoặc tông đồ tập thể trong các đoàn thể, hiệp hội, phong trào giáo dân (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân của ĐGH Gioan Phaolô II, số 28).

Các vị chủ chăn trong Giáo Hội nhấn mạnh về vai trò chứng nhân cho Tin Mừng của người công giáo trong thế giới hôm nay như sau:

ĐGH Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ trong dịp mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2000 rằng: “Chỉ có những người tín hữu đang thực sự sống những gì mình tuyên giảng trên môi, mới được người khác đón nghe mà thôi” (Hiệp Thông 18-6-2000).

ĐGH Phaolô VI: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy nầy đã là những chứng nhân”.

Giám Mục Gerard Huyghe, cựu Giám mục giáo phận Arras, Pháp: “Giá trị của một Giáo Hội không dựa vào con số người nhập đạo, nhưng ở tại chứng tá Tin Mừng mà các cộng đoàn kết hợp nên Giáo Hội thực hiện” (trích trong cuốn Le Chrétien au seuil des temps nouveaux của Hồng Y Suenens, Ed. Fiat, 1997, tr. 51).

Gần đây nhất, tôi đọc được một quan niệm truyền giáo thực tiễn sau đây của Tập San Dấn Thân số mới nhất, đăng trên tuần báo điện tử Công giáo Maranatha số 24 ngày 23-10-2004:

             “Chúng tôi quan niệm truyền giáo không phải chỉ là đứng rao giảng giữa nhà thờ, xây cất, sửa sang những đền thờ lộng lẫy để Chúa có chỗ ngự, nhưng quan trọng hơn, là đi, là sống thật những điều rao giảng, mở rộng cửa nhà Chúa cho mọi người trong đạo cũng như ngoại đạo, là phá đổ những hàng rào ngăn cách, đi tìm những con chiên lạc mang về, là phục vụ không phải được phục vụ… Hơn ai hết, những môn đệ theo chân Chúa phải là những người sống thật, sống đúng tinh thần khó nghèo, phục vụ, yêu thương của Đức Kitô khi Người còn ở dương thế. Chúng tôi cũng quan niệm theo đạo, giữ đạo, chuẩn bị cho cuộc sống đời sau không phải chỉ là đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, xin lễ, quà tặng hậu hỉ cho chủ chiên, rộng rãi góp tiền xây cất thánh đường nguy nga là đủ…, nhưng quan trọng hơn, làm muối mặn men nồng, mang tình yêu thương đến những người bất hạnh, kém may mắn hơn mình; sống đức tin không phải chỉ mến Chúa mà còn phải yêu người vì như Chúa dạy “Ai cho người đói ăn, người khát uống, người rách mặc… là đã làm cho chính Thầy đó.” Đạo Chúa không phải để “giữ” mà để “truyền”. Tin Mừng không phải để giấu kín, dành riêng cho bổn đạo mà phải được mọi thành phần dân Chúa làm loa phát đi, không rao phát bằng lời nói mà rao phát bằng đời sống, bằng hành động dấn thân phục vụ tha nhân”.

 Tin Đạo, Giữ Đạo và Sống Đạo

Qua các tài liệu trên tôi hiểu ra rằng tôi có bổn phận làm tông đồ giáo dân để rao giảng những điều mình tin và sống những điều mình giảng. Tôi phải sống đạo chứ không chỉ giữ đạo. Mà sống đạo tức là phải thể hiện đức tin của mình qua lối sống công bình vị tha bác ái, biết cho đi hơn là nhận lãnh, và phải làm chứng cho Tin Mừng bằng hành động hơn là chỉ rao giảng xuông. Nhất là không được tự hào về những thành quả đạt được vì như thánh Phaolô đã từng nói, không phải tôi cải hóa người khác mà chính là nhờ quyền năng của Lời Chúa. Tôi cũng không được đòi hỏi Chúa phải trả công cho tôi; không được phàn nàn vì công tác tông đồ quá vất vả mà còn bị người khác hiểu lầm, ganh ghét hoặc chê bai này nọ.

Hiểu như vậy, tôi cảm thấy hổ thẹn về đức tin nông cạn của mình vì biết bao lần tôi đã tự hào rằng tôi tham gia vào nhiều đoàn thể công giáo tiến hành hơn các người khác; rằng Nhóm Nhỏ Kitô-hữu của tôi là nhóm duy nhất còn sinh hoạt trong khi các nhóm khác đã tan hàng sau Năm Thánh 2000; rằng tôi đọc nhiều sách và hiểu lẽ đạo thâm sâu hơn nhiều người khác; rằng một hội đoàn mà tôi đang tham gia tích cực nhất là hội đoàn hăng say nhất cộng đoàn, đóng góp nhiều nhất cho cộng đoàn và làm việc có phương pháp nhất cộng đoàn. Còn nhiều tự hào khác tôi vấp phải mà không đủ chỗ để kể ra cho hết.

Sau khi đã tìm hiểu, học hỏi và suy gẫm, tôi chợt hiểu ra ý Chúa khi các môn đệ xin ban thêm đức tin thì Chúa lại khuyên họ phải có thái độ khiêm hạ của một người đầy tớ vô dụng khi làm xong công việc chủ giao phó. Chính thái độ khiêm hạ xuất phát từ nhận thức được thân phận “đầy tớ vô dụng” của họ đã thể hiện đức tin đích thực của một người tin theo Chúa. Vì một khi đã nhận biết mình là “tôi đòi” của Chúa thì không có lý do gì để tự hào cả; còn việc có được khen thưởng hay không là do lòng khoan dung và nhân hậu của Chúa.

Lạy Chúa xin ban thêm đức tin cho con để con luôn luôn nhận thức được rằng con là “đầy tớ vô duyên bất tài, nhưng con luôn luôn trung tín chân thành” như lời của cha cố Phêrô Vũ Đình Trác đã ghi trong bản nhạc “Tình Chúa Yêu Tôi”. Và xin Chúa cũng ban thêm đức tin cho cả những anh chị em đang làm công tác tông đồ với con trong cộng đoàn của con nữa. Amen.