• About
  • Tâm Linh
    • Suy Niệm
    • Hiểu và Sống Tin Mừng
    • Giáo Huấn GHCG
    • Thần Học
  • Hôn Nhân & Gia Đình
    • Hôn Nhân
    • Gia Đình
  • Sống Khỏe
  • Giải Trí
  • Thơ
  • Nhạc
  • Tranh Ảnh
  • Điều Cần Biết
  • Xã Hội
    • Tôn Giáo
    • Chính Trị
    • Văn Hóa
    • Giáo Dục
    • Kinh Tế
    • Kỹ Thuật
    • Triết Lý
    • Ẩm Thực
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • ĐS16
  • QGHC
  • HBT/TNTTW
  • Linh Tinh

locnvu.blog

~ This site is belonged to Loc Vu

locnvu.blog

Author Archives: locngocvu

Cánh Cò – Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Miến Điện, Việt Nam

Cánh Cò – Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam

Thứ Tư, ngày 11 tháng 11 năm 2015

viết từ Việt Nam

Bà Aung San Suu Kyi trong những ngày vận động tranh cử

Cả ngày Chúa Nhật ngày 8 tháng 11 năm 2015, có lẽ dân tộc hạnh phúc và tự hào nhất hành tinh này là Miến Điện. Họ hạnh phúc khi đưa ngón tay nhuộm xanh lên khoe với thế giới rằng cuối cùng thì nhân dân Miến cũng đã tiến tới được bến bờ dân chủ thật sự, dù cái bến ấy mới chỉ được đóng tạm bằng những chiếc cọc tre để con thuyền chính trị của quốc gia ghé lại. Nhưng niềm tin và sức mạnh để mang con thuyền vào được cái bến thô sơ ấy chừng như đang hừng hực không gì có thể làm cho nguội đi.

Năm mươi ba năm, một hành trình không thể gọi là ngắn để lật đổ một chế độ quân phiệt toàn trị. Thế nhưng con số 53 năm ấy không ngưng một chỗ như nước ao tù mà nó luôn khuấy động khi nhiều khi ít cho đến khi thành sóng to bão lớn.

Trước cuộc bầu cử của người dân Miến Điện, nhiều người Việt đưa ra câu thách thức: “Tôi đố đảng cộng sản Việt Nam dám làm như Miến Điện”. E rằng nếu họ làm ngay, làm thật vào lúc này thì người đưa ra thách thức sẽ hối hận! Dễ hiểu lắm, bộ máy của nhà cầm quyền sẽ huy động tối đa để người dân đi bầu…cho họ. Trớ trêu nhất mà ai cũng nhận thấy: người ra tranh cử lúc này là ai, có đủ sáng giá cho người dân bỏ phiếu cho họ hay chưa?

Hãy nhìn thẳng vào những sự thật đã và đang làm cho Việt Nam tê liệt, chai lì và trong một thời gian dài sắp tới khó nói có thể đủ mạnh làm cho nhà nước này sợ hãi trong một cuộc phổ thông đầu phiếu dân chủ.

Bắt đầu từ đâu cũng thấy một con số không. Người nông dân, hơn 80 % dân số của Việt Nam là họ. Những tấm lưng trần giỏi giang trên đồng ruộng và chưa bao giờ làm một điều gì khiến chính quyền lo lắng chứ nói chi tới sợ hãi. Họ khuân vác sự thiếu thốn trong ý thức, kiên trì và chịu đựng áp bức một cách đáng khen. Chính quyền gọi đó là lực lượng cách mạng và sau 70 năm lực lượng cách mạng này vẫn còn có thể sử dụng qua việc nạo vét tới cạn kiệt sức lao động của họ vào từng hạt lúa, con tôm để ngoác miệng ra tự hào về tiềm năng phát triển kinh tế. Người nông dân ôm nỗi lo đói nghèo nằm ngủ và chưa bao giờ trong giấc mơ của họ có một đêm mơ được cầm lá phiếu để đi bầu.

Con cái của họ, đứa nào đầu óc tối tăm sẽ tiếp tục gục đầu dưới ruộng, đứa thông minh một chút lên thành phố thì chỉ một thời gian ngắn sẽ chạy theo cái cách mà con ông cháu cha ăn chơi đàn đúm rồi lại chạy về nhà trộm lúa giống cha mẹ đi bán để ăn chơi. Đứa nào may hơn một chút thì kiếm tấm chồng xa xứ để mà trưng bày phô diễn với chị với em tại vùng quê nghèo mà chúng bỏ đi.

Sinh viên Việt Nam nhiều như trấu nhưng trong cái đám trấu ấy mấy người được như sinh viên của Myanmar cách đây 23 năm. Họ hiên ngang đứng thẳng trước mũi súng của quân phiệt, người này bị bắn ngã xuống, người khác lại đứng lên. Trong ba ngàn con người đã hy sinh ấy sinh viên Việt Nam có được mấy người?

Trí thức Việt Nam là một con số đáng tự hào trong khu vực. Nhưng vẫn chỉ là con số thôi. Con số thống kê và con người trí thức cách biệt và chống đối lẫn nhau. Giáo sư Tiến sĩ nhiều vô số kể nhưng lên tiếng ủng hộ biểu tình chống Trung Quốc thì cả nước chỉ được vài người…trên mạng. Ấy là chống Trung Quốc mà còn như thế nếu chống trực tiếp đảng và chính phủ thì con số sẽ ra sao?

Người Việt Nam gọi tên bà Aung Shan Suu Kyi cho … đỡ nhớ, vì đã quá lâu Việt Nam không có được một hình ảnh đáng kính như bà.

Nhưng người ta không thể cứ nhớ và ước ao một lãnh tụ không hề có thật trong cộng đồng của mình đang sống. Sự thay đổi chính trị nào cũng phải thay da lột xác và chịu đớn đau. Không thể hỏi chừng nào mà nên hỏi tại sao chưa có cái chừng nào ấy.

Cái “tại sao” đầy dẫy mà dễ thấy nhất là từ chính mỗi người của chúng ta. Hãy nhớ lại vài mẩu chuyện nho nhỏ để biết thêm hai chữ “tại sao” này.

Khi Miến Điện bùng nổ biểu tình của sinh viên năm 1988, hàng ngàn sinh viên bị bắn, lập tức sư sãi và dân chúng xuống đường bất kể chính quyền quân phiệt đàn áp dã man. Hàng ngàn người vào tù trong đó có hàng trăm nhà sư, kiên trì tranh đấu cho sự vùng dậy của sinh viên.

Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc bị nhà nước đàn áp dữ dội, người dân đứng nhìn như thể họ không phải là người Việt. Một nhóm nhỏ bị tấn công, bị bắt, bị hù dọa và sau đó liên tục bị sách nhiễu. Xã hội ung dung và những con người “dại dột” đấu tranh đó chìm sâu vào bóng tối.

Miến Điện có một nền văn hóa của nhà Phật. Đạo đức và căn bản làm người được dạy dỗ trong các thế hệ sinh viên học sinh. Bi, trí, dũng của nhà Phật chảy trong máu huyết của người dân Miến và vì vậy họ tôn kính lãnh tụ của mình khi thấy sự dũng cảm và thông tuệ của bà là nguồn sinh lực cho đất nước. Từ tôn kính dẫn tới phục tùng là điều hiển nhiên.

Trong khi đó tại Việt Nam đạo Phật đã biến dạng trở thành buôn thần bán thánh. Sư sãi không ngồi nhồm nhoàm bổng lộc thì cũng đứng lộng ngôn trong tòa quốc hội. Một số sư ni chính đạo thì bị chính phật tử bao vây mua chuộc khi đòi cho bằng được những lá xâm thật tốt cho mình.

Căn bản văn hóa đã bị biến dạng như vậy nên thần tượng được nặn lên từ tro tàn của lịch sử liền được người dân tha hồ thờ cúng. Thanh niên nhảy múa trên những giai điệu đàn điếm và không chút tính người vì vậy khi ra đường gặp kẻ thương tật hay tai nạn chết người chúng sung sướng chụp ảnh mang khoe trên Facebook. Những kẻ trộm chó bị giết không cần biết tới luật pháp là gì trong khi bọn trộm tài sản quốc gia lại được đám dân đen ngưỡng mộ và chắt lưỡi vì mình không làm được như chúng.

Việt Nam với môn lịch sử bị bóp méo theo khẩu vị của đám thân Tàu còn Miến Điện lại sẵn sàng bỏ Tàu để tự lực cánh sinh bằng đôi tay và khối óc của họ.

Aung Shan Suu Kyi có một đảng chính trị đúng đắn với hàng trăm con người cộng tác đầy tài năng. Những con người âm thầm nhưng mạnh mẽ và cương quyết ấy góp phần tạo nên Aung Shan Suu Kyi trong khi ở Việt Nam chỉ cần một người có vẻ đáng tin cậy liền bị nhiều thế lực khác nhau, trong đó có cả thế lực tranh đấu, đồng minh đè cho bẹp xuống.

Người Miến lưu vong không có khái niệm quốc cộng, họ chỉ tranh đấu nhằm lật đổ quân phiệt để thành lập nền dân chủ và vì vậy sức mạnh của họ không bị phân tán. Tiếng nói bền bỉ của họ đấu tranh cho bà Aung Shan Suu Kyi được tự do đã nhắc nhở Hoa Kỳ và EU về người đàn bà bất khuất này và cuối cùng cũng lật đổ được sự lạnh lùng của thế giới.

Việt Nam mải mê phân chia ranh giới và mỗi người tự vẽ cho mình một vòng tròn cô lập. Không có một vòng tròn khép kín nào có thể nối được với một vòng tròn khác để tạo thành sức mạnh. Những vòng tròn bản năng ấy làm tê liệt sức chiến đấu trên mặt trận đấu tranh và tạo thêm niềm tin cho chính quyền hơn là tạo cho họ sự lo lắng cần thiết.

Cần thiết vì khi chính quyền lo lắng chính là lúc người dân biết được điểm chết của họ để tiếp tục tranh đấu, nhấn mạnh vào sự lo lắng ấy bằng những tác động cụ thể. Cũng như Miến Điện, khi bà Aung Shan Suu Kyi bị quản chế, đảng của bà chưa bao giờ lặng yên một ngày mà công tác đánh động quần chúng luôn được nêu cao, song song với sự yễm trợ của Mỹ và EU chính quyền quân phiệt cuối cùng cũng phải nhượng bộ.

Việt Nam không được một khuôn mẫu của Aung Shan Suu Kyi đã đành nhưng kể cả chờ đợi một người tương tự xuất hiện cũng phải biết cách. Tư thế ngồi chờ không phải là tốt đối với người hoạt động chính trị mà phải luôn luôn đứng, cho dù đứng chờ đi nữa, vì khi đứng người ta có thể chạy ngay ra đường khi có dịp, còn ngồi một thời gian quá lâu thì bắp thịt tê cứng, cơ hội đến mà chỉ lê lết chạy sau người khác thì thật quá buồn!

Và vì vậy đừng thách thức nhà nước có dám cho bầu cử tự do ngay vào hôm nay hay không, mà hãy tự thách thức chúng ta có dám để cho cơ hội ấy mau tới bằng chính hành động của mình bắt đầu từ hôm nay hay không.

Nguồn: thunguyen020845@yahoo.com.au posted on [ds16group]

Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Aung San Suu Kyi, cuộc đời, Myanmar, phụ nữ

Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar

 

 Bà Aung San Suu Kyi – lãnh đạo đảng Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD) – được ví như “ngọn hải đăng của niềm hy vọng” cho người dân Myanmar.
Suu Kyi là con gái của vị anh hùng dân tộc Myanmar – tướng Aung San. Ông Aung bị ám sát vào tháng 7/1947 – chỉ 6 tháng trước khi quốc gia Đông Nam Á giành độc lập. Lúc ấy, bà Suu Kyi mới lên 2 tuổi. Ảnh chụp bà Suu Kyi (giữa) cùng bố mẹ và hai người anh năm 1947 tại Burma.
Suu Kyi sinh ngày 19/6/1945. Bà là con gái của vị anh hùng dân tộc Myanmar – tướng Aung San. Ông Aung bị ám sát vào tháng 7/1947 – chỉ 6 tháng trước khi quốc gia Đông Nam Á giành độc lập. Lúc ấy, bà Suu Kyi mới lên hai tuổi. Ảnh chụp bà Suu Kyi (giữa) cùng bố mẹ và hai anh năm 1947 tại Myanmar.
 
Năm 1960, Suu Kyi chuyến tới Ấn Độ cùng mẹ Khin Kyi sau khi bà được bổ nhiệm làm đại sứ Miến Điện tại Ấn Độ và Nepal. 4 năm sau đó, Suu Kyi theo học ngành triết, chính trị và kinh tế tại trường Đại học Oxford (Anh). Trong thời gian này, bà gặp người chồng Michael Aris và sinh hai con trai. Ảnh chụp bà Suu Kyi với chồng vào năm 1973.
Năm 1960, Suu Kyi chuyển tới Ấn Độ cùng mẹ Khin Kyi sau khi bà được bổ nhiệm làm đại sứ Miến Điện (tên cũ của Myanmar) tại Ấn Độ và Nepal. 4 năm sau đó, Suu Kyi theo học ngành triết, chính trị và kinh tế tại Đại học Oxford (Anh). Trong thời gian này, bà gặp chồng Michael Aris. Ảnh chụp bà Suu Kyi với chồng năm 1973.
 
Suu Kyi và Aris sinh hai con trai là Alexander và Kim. Những đứa trẻ đã lớn lên ở Anh. Bà Suu Kyi quay trở về Rangoon vào năm 1988 để chăm sóc mẹ bị bệnh. Ảnh chụp bà Suu Kyi tại một cuộc phỏng vấn ở Rangoon ngày 28/8/1988.
Suu Kyi và Aris sinh hai con trai là Alexander và Kim. Những đứa trẻ đã lớn lên ở Anh. Từ năm 1985 đến năm 1987, Suu Kyi tập trung nghiên cứu để lấy bằng thạc sĩ văn học Myanmar tại trường Nghiên cứu Phương Đông và châu Phi (SOAS), thuộc Đại học London. Bà được bầu làm Ủy viên Danh dự của SOAS năm 1990. Trong hai năm, bà là ủy viên tại Viện nghiên cứu cao cấp của Ấn Độ (IIAS) ở Shimla. Bà cũng làm việc cho chính phủ liên bang Myanmar. Ảnh chụp bà Suu Kyi tại một cuộc phỏng vấn ở ​Yangon ngày 28/8/1988.
 
Quân đội đàn áp các cuộc biểu tình và tiến hành đảo chính vào ngày 18/9/1988. Một thời gian ngắn sau đó, ngày 24/8. Suu Kyi đồng sáng lập đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) và được bổ nhiệm chức vị cao nhất.
Bà Suu Kyi quay trở về ​Yangon vào năm 1988 để chăm sóc mẹ bị bệnh. Thời điểm bà quay về quê hương cũng là lúc Myanmar đang đứng giữa một cuộc chính biến. Bà sau đó trở thành lãnh đạo cuộc nổi dậy chống tướng Ne Win. Suu Kyi thành lập đảng Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD). Quân đội đàn áp các cuộc biểu tình và tiến hành đảo chính vào ngày 18/9/1988. 
 
- Năm 1991, Suu Kyi được trao giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh phi bạo lực vì dân chủ và nhân quyền. Vào thời điểm đó, bà chịu hai năm quản thúc tại gia trước những cáo buộc gây chia rẽ quân đội. Giai đoạn từ năm 1989 tới 2010, lãnh đạo phe đối lập bị quản thúc tại nhà gần 15 năm. Ảnh chụp bà Suu Kyi phát biểu trước khoảng 5.000 người tại trước nhà riêng, ngày 25/5/1996.
Chủ trương của đảng NLD là tranh đấu bất bạo động. Mặc dù bị cấm, Suu Kyi vẫn đi khắp nơi để phát động phong trào vì tự do và dân chủ. Bà từng đi thẳng vào mũi súng đã lên đạn của binh sĩ chắn đường để tỏ thái độ phản kháng. Tháng 12/1988, mẹ của Suu Kyi qua đời. “Mẹ dạy tôi một điều căn bản là bất công không bao giờ đứng vững vĩnh viễn”, bà từng chia sẻ. Ảnh chụp bà Suu Kyi phát biểu trước khoảng 5.000 người trước nhà riêng, ngày 25/5/1996.
 
- Hình ảnh bà Suu Kyi trong cuộc họp với bộ trưởng lao động Aung Kyi tại Yangon ngày 30/1/2008.
Tháng 5/1990, dù Suu Kyi vẫn bị giam lỏng, đảng NLD của bà thắng lớn (82%) trong cuộc bầu cử. Tuy nhiên, Liên đoàn Khôi phục Trật tự và Pháp luật Quốc gia (SLORC) không công nhận kết quả này. Năm 1991, Suu Kyi được trao giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh phi bạo lực vì dân chủ và nhân quyền. Vào thời điểm đó, bà chịu hai năm quản thúc tại gia trước những cáo buộc gây chia rẽ quân đội. Giai đoạn từ năm 1989 tới 2010, bà bị giam lỏng gần 15 năm. Hình ảnh bà Suu Kyi trong cuộc họp với bộ trưởng lao động (không xuất hiện trong ảnh) tại Yangon ngày 30/1/2008.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Bà Suu Kyi được hộ tống lên ôtô vào ngày thứ 3 của vụ xét xử bà tại nhà tù Insein ở thành phố Yangon, ngày 20/5/2009.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Cổng nhà bà Suu Kyi vào ngày 11/8/2009 khi tòa án cho rằng bà đã vi phạm các điều kiện quản thúc tại gia. Theo tòa Myanmar, bà Suu Kyi đã cho phép một người Mỹ lạ vào nhà. Người đứng đầu chế độ quân sự ra lệnh giam lỏng bà 18 tháng.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Trước áp lực quốc tế, bà Suu Kyi được trả tự do năm 2010. Ảnh chụp bà Suu Kyi gặp con trai Kim Aris tại sân bay Yangon ngày 23/11/2010. Bà đã không nhìn thấy con trong suốt 10 năm.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cầm tay Suu Kyi khi họ gặp nhau tại nhà của bà vào ngày 2/12/2011.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Sau 21 năm kể từ ngày được Hội đồng Nobel trao giải, ngày 16/6/2012, bà chính thức nhận giải thưởng danh giá trong buổi lễ tại thủ đô Oslo, Na Uy. Trao đổi với CNN ngay trước buổi lễ về khái niệm “hòa bình”, bà nói: “Với tôi, hòa bình chính là dựa trên định nghĩa của Myanmar về hòa bình. Nó có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn những yếu tố tiêu cực đe dọa hòa bình thế giới. Cho nên, hòa bình không có nghĩa là kết thúc chiến tranh, mà còn là tất cả những yếu tố đe dọa đến hòa bình, như phân biệt đối xử, bất bình đẳng, đói nghèo”.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Suu Kyi mỉm cười với những người ủng hộ khi bà tổ chức lễ hội té nước Thingyan phía trước cửa nhà ngày 16/4/2012.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Hai năm sau khi được phóng thích, bà Suu Kyi chính thức trở thành thành viên Hạ viện Myanmar trong cuộc bầu cử ngày 1/4/2012. Suu Kyi (giữa) và các nhà lập pháp của NLD tại một phiên họp thường kỳ của Hạ viện Myanmar vào tháng 2/2012. Bà tuyên thệ nhậm chức trước Quốc hội do quân đội hậu thuẫn.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra bắt tay bà Suu Kyi tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, ngày 31/5/2012. Đây là lần đầu tiên bà đặt chân ra nước ngoài trong hơn 20 năm.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Ngày 19/11/2012, nhân chuyến thăm Myanmar, Tổng thống Mỹ Barack Obama gặp thủ lĩnh phe đối lập tại dinh thự của bà. Ông không ngần ngại ôm và hôn bà Suu Kyi tại cuối buổi họp báo chung. Trước đó, ngày 20/9/2012, Quốc hội Mỹ trao tặng huân chương vàng – phần thưởng dân sự cao quý nhất của Mỹ – để ghi nhận những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh vì dân chủ tại Myanmar.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Suu Kyi đọc diễn văn tại Yangon vào ngày 4/12/2013.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt tay bà Aung Suu Kyi trong cuộc họp tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Trung Quốc, vào ngày 11/6​.
 
San Suu Kyi đã từng là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho nhiều người trong quân sự cai trị
Bà Suu Kyi cắt bánh trong lễ mừng sinh nhật lần thứ 70 tại tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Naypyidaw hôm 19/6. Bà từng được ví như “ngọn hải đăng của niềm hy vọng” cho người dân Myanmar trên con đường hướng tới nền dân chủ.
 
Trưa 8/11, bà Aung San Suu Kyi đến điểm bỏ phiếu trong vòng vây chào đón của người dân Myanmar.
Trưa 8/11, bà Suu Kyi đến điểm bỏ phiếu trong sự chào đón của người dân Myanmar. Kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử năm 2015 cho thấy đảng NLD của Suu Kyi đang đứng trước chiến thắng với 15 trong 16 ghế đầu tiên tại Quốc hội Myanmar. Chiến thắng của NLD là sự kiện mà thế giới mong đợi sẽ “thay đổi đáng kể” bối cảnh chính trị ở Myanmar. Đây cũng là chiến thắng dành cho người phụ nữ nhỏ bé nhưng có ý chí mạnh mẽ.
Nguồn: lienthicao@yahoo.com <ds16group@yahoogroups.com> 
posted on  Nov 13, 2015

Chứng Nhân Tình Yêu

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chứng nhân, tình yêu

CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU

Điều răn thứ 4 Chúa dạy: hãy thảo kính cha mẹ, ông bà tổ tiên. Yêu mến ông bà tổ tiên là yêu mến quê hương đất nước. Yêu mến đồng bào anh chị em trong quốc gia của mình.

Chúa Giêsu xuống thế làm người, Ngài cũng có một quê hương, một tổ quốc đó là đất nước Do Thái, Ngài rất yêu mến quê hương dân tộc của Ngài cho dù những người lãnh đạo đã lên án và giết Ngài.

Hôm nay chúng ta hãy nhìn vào gương sống của các thánh Tử Đạo Việt Nam và của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận để có một thái độ sống thích hợp trước hiện tình của quê hương đất nước Việt Nam hiện nay.

I-CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM: CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU

 

          Hiến tế đầu tiên của Giáo hội là Chúa Giêsu, Đấng đã tự hiến mạng sống mình vì yêu nhân loại. Các vị tử đạo đã theo sát mẫu gương của ngài trong cuộc khổ nạn, từ vườn Cây Dầu cho đến đỉnh đổi Canvê.

Các ngài đã hết lòng yêu mến Chúa và vì phần rỗi của các linh hồn nên đã dám anh dũng hi sinh mạng sống mình chị đựng bao nhiêu cực hình. Đồng thời các ngài cũng rất yêu mến quê hương Việt Nam nữa.

 

          Trong số 117 vị thánh tử đạo Việt Nam, có thánh Micae Hồ Ðình Hy làm quan Thái Bộc đời vua Tự Đức.  Khi vua Tự Ðức mời ông giả vờ bước qua thánh giá. Ông là người thanh liêm, được nhà vua hết sức tín cẩn, cho phụ trách ngành dệt trong cả nước. Nhưng ông cũng là một Kitô hữu xông xáo làm việc tông đồ. Ông không thấy có gì xung khắc giữa việc phục vụ đất nước với việc phục vụ Giáo Hội. Khi quân Pháp bắn phá cảng Ðà Nẵng thì ông bị bắt, bị kết án là khinh luật nước, chống lại triều đình. Ông Hy đã chấp nhận cái chết một cách bình thản. Trước khi chịu chém, ông còn xin hút một điếu thuốc, hương vị cuối cùng của trần gian mà ông muốn nếm trước khi nếm hương vị của thiên đàng vĩnh cửu. Hút xong điếu thuốc ông nói: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Ðức Kitô.”

Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, nguyên tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công giáo, để rồi lại bắt họ phải đạp lên Thánh Giá.

Dù bị bắt bớ, nhưng giới Công giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Alonso Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí giới đánh giặc bách hại “chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái”.

II–ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN: CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU    

–Tin cậy bất khuất vào tình yêu của Chúa:

Ngày mùng 6/9/2002, Chân Phước Gioan Phaolô II đã chủ tế tang lễ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận. Ngài nhắc đến ĐHY như là một “gương sáng của lòng trung tín Kitô hữu cho đến tử đạo”. Được như vậy là vì ĐHY đã đặt tất cả cuộc đời mình dưới dấu hiệu HY VỌNG. Chân Phước Gioan Phaolô II đã nói:

“Bí quyết của ngài là sự tin cậy bất khuất vào Chúa, được nuôi dưỡng bằng kinh nguyện và đau khổ chấp nhận vì yêu” Chúng ta hãy nghe chính ĐHY Thuận tâm sự: Video Clip Thánh Giá và Cầu Nguyện với Bí Tích Thánh Thể.

-Yêu mến mọi người, ngay cả kẻ thù:

Chúa dạy chúng ta yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai. Ngày 1/12 năm 1976, vào khoảng 10 giờ tối, ĐHY Thuận bị đưa xuống tàu ra Bắc cùng với 1,500 tù nhân khác. Trong thời gian bị biệt giam có lúc họ cho ĐHY Thuận đồ ăn với lượng muối quá độ để ngài khát nước. Rồi họ lại đem nhiều nước đến cho ngài uống. Nhưng mục đích của sự việc này là để tra tấn ngài, để hạ nhục nhân phẩm của ngài. Bởi sau khi uống nhiều nước, họ không mở cửa nhà tù cho ngài đi tiểu tiện mấy ngày liên tiếp. Ngài cố gắng chịu đựng với sức con người có thể, và chịu không nổi thì phải tiểu ra sàn nhà. Khi cán bộ đến rửa sàn ngục, họ mắng rủa ngài: “Ông tự coi mình là giám mục mà ông làm việc này ư? Ông không thấy nhục nhã sao?” Một lần, ngài ngẩng đầu lên đáp lời người cai ngục: “Tôi cám ơn anh đã đến rửa sàn ngục cho tôi, tôi xin lỗi khi ở trong tình trạng này!”

Ngài thú nhận kể từ giây phút nói lên câu “xin lỗi” đó, sự tự do đã đến với ngài, và ngài đã có thể bắt đầu yêu thương trở lại. Dần dần khả năng yêu thương “kẻ thù” của ngài thêm lớn mạnh. Chúng ta hãy nghe ngài tâm sự: Video Clip yêu kẻ thù.

-Yêu mến quê hương:

Nhận xét về con người ĐHY Thuận, đã có một tác giả tóm lược về ngài như sau:

“Một người có tướng cao ráo, gương mặt rộng đẹp sang cả, nét quý phái.

Một người có giọng nói mỏng, từ tốn, nhẹ nhàng, dí dỏm.

Một người thông minh và có trí nhớ dai mọi tình tiết.

Một người khôn ngoan, bình tĩnh, hiền hòa, đức độ bao dung.

Một người tự nhiên, dễ dàng thu hút cảm tình người đối thoại.

Một nhà giảng thuyết “ăn khách” đủ mọi giới.

Một bộ óc có tầm nhìn rất xa, rất rộng.

Một nhân vật có óc tổ chức, có tài lãnh đạo rõ nét.

Một cuộc đời để lại nhiều dấu ấn quan phòng gợi suy nghĩ.”

Là người Việt Nam và nhất là người Công Giáo Việt Nam, ai cũng hãnh diện vì có một Đức Hồng Y với những đức tính và tài năng hiếm có như vậy. Ngài là một người Việt Nam yêu nước, là một người Công Giáo trổi vượt, là một linh mục tận tụy làm việc tông đồ, là một ngôi sao sáng chói trong hàng Giám Mục Việt Nam, là một Hồng Y vang danh hoàn vũ. Ngài chính là vinh quang của Giáo Hội Việt Nam và làm rạng danh dân tộc Việt Nam.

Hôm nay, Ngài cũng mời gọi tất cả chúng ta, những người Việt Nam hãy thiết tha yêu mến quê hương dân tộc Việt Nam chúng ta: “Là người Công Giáo Việt Nam, Con phải yêu Tổ Quốc gấp bội. Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con. Cha mong giòng máu ái quốc. Sôi trào trong huyết quản con.”

Trong giờ phút cùng cực, khổ đau, hoạn nạn tại Cây Vông, Phú Khánh, ngày 8/12/1975, ngài đã dặn dò nhắn nhủ các thế hệ mai sau trong bài thơ “Con Có Một Tổ Quốc” hùng hồn như trang sử sau đây: video bài hát.

Tiếng chuông ngân trầm, Việt Nam nguyện cầu.

Tiếng chuông não nùng, Việt Nam buồn thảm.

Tiếng chuông vang lừng, Việt Nam khải hoàn.

Tiếng chuông thanh thoát, Việt Nam hy vọng.

Con có một tổ quốc Việt Nam. Quê hương yêu quý ngàn đời.

Con hãnh diện, con vui sướng. Con yêu non sống, gấm vóc.

Con yêu lịch sử vẻ vang. Con yêu đồng bào cần mẫn. Con yêu chiến sĩ hào hùng.

Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn. Núi cao, xương chất cao hơn.

Đất tuy hẹp, nhưng chí lớn. Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.

Con phục vụ hết tâm hồn. Con trung thành hết nhiệt huyết.

Con bảo vệ bằng xương máu. Con xây dựng bằng tim óc.

Vui niềm vui của đồng bào. Buốn nỗi buồn của Dân Tộc.

Một Nước Việt Nam. Một Dân Tộc Việt Nam.

Một Tâm Hồn Việt Nam. Một Truyền Thống Việt Nam.

Là người Công Giáo Việt Nam, Con phải yêu tổ quốc gấp bội.

Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con. Cha mong giòng máu ái quốc, sôi trào trong huyết quản con.

III–ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC: SỰ BÀNH TRƯỚNG VÀ XÂM CHIẾM CỦA TRUNG CỘNG.

 

Bản đồ hình lưỡi bò Trung Cộng muốn xâm chiếm.

Dàn khoan khủng “Dầu Khí Hải Dương 981” của Trung Quốc.

Tiếng khóc xé lòng của những người vợ, người mẹ ở Lý Sơn có chồng, con bặt âm vô tín ở Hoàng Sa.

Công trình bauxite-Alumin tại Nhân Cơ (Đắk Nông)

KHÁCH SẠN ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ 4 SAO

Một khu phố dành riêng cho Hoa kiều đang được xây dựng tại Bình Dương mang tên ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ.

IV- THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO YÊU MẾN QUÊ HƯƠNG

Đứng trước hiểm họa mất nước của dân tộc Việt Nam hiện nay, người Công Giáo Việt Nam chúng ta phải làm gì để cứu nguy đất nước. Xin thưa rằng:

-Theo lời khuyên dạy của các thánh Tử Đạo Việt Nam: “Chẳng phải là súng ống gươm giáo, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái.”

-Chúng ta hãy yêu thương và đoàn kết với nhau như lời ĐHY Thuận đã nhắn nhủ, để có “Một Nước Việt Nam, Một Dân Tộc Việt Nam, Một Tâm Hồn Việt Nam, Một Truyền Thống Việt Nam.”

       KẾT LUẬN:

 -Lời mời gọi: trong năm nay, cả cộng đồng hãy gia tăng hãm mình, hy sinh, lần chuỗi Mân Côi, và đọc kinh Các thánh Tử Đạo Việt Nam để cầu nguyện cho quê hương dân tộc Việt Nam.

-Đặc biệt trong ngày lễ kính các thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, qua lời bầu cử của Đức Mẹ La-Vang và các thánh Tử Đạo Việt Nam.

Xin Chúa ban cho quê hương được bình an, nhân quyền được tôn trọng, dân chúng được sống trong công lý, tự do, và dân chủ. Sự thật được tôn trọng.

Xin ban cho các vị lãnh đạo trên quê hương có tinh thần trách nhiệm, phục vụ, biết lo lắng và mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào và dân tộc.

Xin cho mọi người dân Việt Nam có lòng yêu mến quê hương đất nước biết làm tròn nghĩa vụ công dân bảo vệ tố quốc.

KINH CẦU NGUYỆN CHO VIỆC PHONG CHÂN PHƯỚC

Lạy Thiên Chúa tình yêu,

Chúa đã gọi và chọn Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm người mục tử nhân ái và tràn đầy tình yêu thương trong cuộc Lữ Hành đầy niềm Hy Vọng.

Chúng con cầu xin Chúa Thánh Thần và Ðức Mẹ La Vang, Mẹ chúng con, ban nhiều ơn phước và soi sáng trong tiến trình xét tuyên phong chân phước cho ngài.

Xin cho chúng con biết noi gương nhân đức và chứng nhân Tin Mừng đích thực của Ðức Hồng Y, mà canh tân sâu đậm đời sống Kitô hữu của chúng con và tôn vinh Thiên Chúa trong đời sống của anh chị em chung quanh. Chúng con cầu xin những ơn ấy nhờ Chúa Kitô là Chúa chúng con. Amen.

 

KINH CẦU CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Kính lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xưa đã biết dùng ơn Chúa, mà lướt thắng mọi khó khăn khổ cực, để gieo rắc hạt giống Phúc Âm, và xây dựng Hội Thánh Chúa trên đất nước Việt Nam. Các Thánh đã can đảm tuyên xưng đức tin, đến hy sinh mạng sống mình vì lòng yêu mến Chúa, và phần rỗi các linh hồn, nên đáng được hưởng hạnh phúc trên trời.

Chúng con xin hợp ý cùng các Thánh, mà tạ ơn Thiên Chúa, và Mẹ Maria, nữ vương các Thánh Tử Đạo, đã ban cho các Thánh được hồng phúc như vậy. Chúng con hoan hỷ ca tụng các Thánh, là những hoa tươi đầu mùa cao quý của Hội Thánh Việt Nam.

Xin các Thánh cầu bầu cho chúng con là con cháu, biết noi gương mà sống đạo Phúc Âm, thi hành bác ái, trung thành với Hội Thánh, và yêu mến quê hương; và khi chúng con gặp khó khăn nguy hiểm, xin các Thánh giúp đỡ ủi an, để chúng con đủ sức vâng theo ý Chúa, cộng tác vào mầu nhiệm Thập Giá cứu độ của Chúa Giêsu, tiếp tục con đường các Thánh đã đi, hầu đạt tới hạnh phúc muôn đời. Amen.
Lm. Joseph Nguyễn Thái

ĐTC Gioan-Phaolô II đã muốn nhắn nhủ chúng ta

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Tôn Giáo

≈ Leave a comment

Tags

Gioan-Phaolô

ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLỒ II  ĐÃ MUỐN NHẮN VỚI CHÚNG TA

TRONG ĐÁP TỪ GỞI HDGMVN

(Để tưởng nhớ giáp một năm Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II ra đi, về với Chúa)

( Và để kỷ niệm ngày Đức Thánh Cha được phong Chân Phước, 01.05.2011)

NGUYỄN HỌC TẬP

Trong bài  “ ĐỨC THÁNH CHA BÊNH VỰC CHA LÝ VÀ ĐỀ CẬP ĐẾN CHÍNH QUYỀN CSVN ” vừa qua, chúng tôi đã có dịp đề cập đến những luận điệu tuyên truyền “ rỉ tai ” cho rằng ĐÁP TỪ CỦA DTC CHO HDGMVN chỉ là một lá thư chung chung về Tự Do Tôn Giáo TDTG)  và vô thưởng vô phạt ,vì ĐTC không “ đá động ” gì đến Chính Quyền CSVN.

Luận điệu  không có lý chứng  trên của những ai không có thiện cảm, im thinh thít trước các nổ lực tranh đấu cho TDTGcủa dân tộc Việt Nam và cố tình bênh vực CSVN cho bằng được, mặc cho ĐTC trả lời từng điểm một cho THỈNH NGUYỆN THƯ  CỦA 158 LM và 24.601 Giáo Dân đồng ký.

Chúng tôi đã có dịp đối chiếu các câu trả lời của ĐTC và các lời kêu cứu đến Ngài của THỈNH NGUYỆN THƯ để chứng minh rằng ĐTC biết rõ tình trạng bách hại tôn giáo ở Việt Nam , cũng như  đã cho thấy việc ĐTC “ đá thẳng ”, vạch mặt chỉ trán  ai là thủ phạm bị Ngài quy trách cho việc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam.

1 – Hảy dũng cảm, nhận lãnh những thách đố:

Với những dòng viết dưới đây, chúng tôi không có ý trở lại vấn đề ĐTC  đáp từ  “chung chung ” hay trả lời từng điểm một đối với những gì mà chúng ta báo cho Ngài biết, cũng như  Ngài “ không đá động ” hay đã “ đá thẳng ”  Chính Quyền CSVN, mà là nhìn ĐÁP TỪ ĐTC CHO HDGMVN dưới  một cái nhìn khác.

Sau những lời chào hỏi đầu tiên chưa đến bốn hàng chữ, ĐTC đã gửi đến các Giám Mục Việt Nam  lời cầu chúc chân tình làm tinh thần  nền tảng cho những gì sẽ được Ngài đề cập đến trong cả bức thư ĐÁP TỪ:

“ Tôi xin chúc Quý Vị trong những giây phút hội ngộ nầy, sẽ cho Qúy Vị được tiếp tục trong dũng cảm sứ mạng tình yêu và phục vụ Chúa Giêsu Cứu Thế” ( Đoạn 1).

Và sau đây là lời cầu chúc và nhắn nhủ  các Ki tô hữu VN:

“ Khi quý vị trở về đất nước cao qúy của qúy vị, xin qúy vị hãy nói với các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các thầy giảng, giáo dân  và đặc biệt là giới trẻ, rằng ĐTC cầu nguyện cho họ và khuyến khích họ hãy nhận lãnh những thách đố mà Phúc Âm đem  lại, bằng cách noi gương các Thánh và các Vị Tử Đạo đi trước trên con đường Đức Tin. Máu các Vị đã đổ ra là hạt giống của cuộc sống mới cho đất nước ” ( Đọan 1).

Cách hành xử  phải có cho mọi thành phần dân Chúa đối với cuộc sống hiện tại ở quê nhà, ở “ đất nước cao quý của quý vị ”, đó là

– “ tiếp tục trong dũng cảm sứ mạng tình yêu và phục vụ Chúa Giêsu”

– và “ hãy chấp nhận những thách đố mà Phúc Âm đem lại”, “noi gương các Thánh và các Vị Tử Đạo đi trước trên con đưòng Đức Tin . Máu các Vị đã đổ ra là hạt giống của cuộc sống mới cho đất nước ”,

ĐTC chỉ dẫn cho tất cả chúng ta, Giáo Sĩ cũng như Giáo Dân, những gì chúng ta phải làm:

– “ Tình yêu Đức Ki tô thúc đẩy Giáo Hội phúc âm hóa và thúc đẩy các Giám Mục phúc âm hoá, bổn phận và trách nhiệm đầu của thiên chức qúy vị. Giáo Hội Việt Nam được mời gọi ra khơi dành ưu tư lớn cho việc truyền bá Phúc Âm và cho sứ mạng trong các chương trình tông đồ của qúy vị ”( Đoạn 2).

   – “ Giáo Hội Việt Nam được mời gọi hảy ra khơi để truyền bá Phúc Âm và thực hiện các chương trình tông đồ”, trong “ dũng cảm ”, chấp nhận        “ thách đố ”,  “ noi gương các Thánh và các Tử Đạo đã đi trước ”, “máu các Vị là hạt giống của cuộc sống mới”.

Có lẽ khi viết những dòng nầy ĐTC  không lưu tâm mấy đến các cuộc rước kiệu rầm rộ với mấy chục ngàn người tham dự, nhà thờ được tân trang và mới xây cất nguy nga đồ sộ, con số trẻ em được rửa tội gia tăng, con số gia đình công giáo thôi bỏ nhau được giãm xuống cho bằng, như hiện trạng và thống kê cho biết, cho bằng

– “ sự cần thiết phải phát triển việc đào tạo sơ khởi các thầy giảng cũng như việc đào tạo thưòng xuyên các Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ và Giáo Dân”.( id.)

– “Tôi khuyến khích quý Vị nên đẩy mạnh và hỗ  trợ mọi sáng kiến có thể giúp các vị Chủ Chăn và Giáo Dân, bằng mọi sự đào tạo thích hợp, để xây dựng và sống Đức Tin của họ, để làm chứng Đức Tin một cách tốt hơn” (  id.).

Người tín hữu Chúa Ki Tô ,Giáo Sĩ cũng như Giáo Dân, là người nhận biết bổn phận và thiên chức phục vụ Chúa và phục vụ anh em mình trong “ dũng cảm ”, dám hy sinh “ chấp nhận thách đố ”, nếu cần biết hy sinh cả mạng sống mình như “ các Thánh và các Tử Đạo đã đi trưóc ”, “ máu các Vị là hạt giống của cuộc sống mới ”.

Nhưng ngưòi Tín Hữu Chúa Ki tô không phải là kẻ hiếu chiến, chỉ biết đánh đấm, mà là con người biết đối thoại và cộng tác với tất cả mọi nguời:

– “ Chỉ một cuộc đối thoại tín nhiệm và xây dựng giữa các thành viên xã hội dân sự cũng đủ mở ra một niềm hy vọng mới cho toàn dân Việt Nam” ( Đọan 4).

Nhưng muốn có “ một cuộc đối thoại tín nhiệm và xây dựng ” cần phải có sự thành thật, tương kính, các thành phần tham dự cuột đối thoại phải là những thành phần đồng đẳng, được tự do phát biểu tư tưởng xây dựng của mình.

Thiếu những yếu tố tối thiểu vừa kể, cuộc “ đối thoại ” chỉ là nơi “ tiếp thu ” những mệnh lệnh độc thoại, là qụy lụy, “ xin cho ” và bố thí.

Đó chắc chắn không phải là môi trường để người Tín Hữu Chúa Ki Tô “ đối thoại tín nhiệm và xây dựng ”, có chăng  là con đường đã được ĐTC khuyến khích nên lãnh nhận trách nhiệm mình

– một cách “ dũng cảm”,

– “ chấp nhận thách đố”,

– “hảy ra khơi” ,

– “ noi gương các Thánh và các Tử Đạo đã đi trước ” ,

– “ máu các Vị là hạt giống của cuộc sống mới ”.

Môi trường hiện tại cho cuộc sống tôn giáo ở Việt Nam là môi trường nào?

Thiết nghĩ việc ĐTC đã dùng đến 20 lần “ quyền và quyền căn bản” ( droits et droits fondamentaux) của cá nhân cũng như của các tổ chức tôn giáo trong ĐÁP TỪ của Ngài (chúng tôi đã có dịp ghi lại trong bài viết ĐÁP TỪ DTC CHO HDGMVN vừa qua), như là bản  tố cáo Chính Quyền CSVN đán  áp tôn giáo  đã là một câu trả lời.

Và nếu ĐTC không nhìn thấy đến 20 lần các quyền căn bản của tôn giáo đang bị CSVN chà đạp, thì không có lý do gì Ngài nhắn với chúng ta hảy “ dũng cảm ”, “ chấp nhận thách đố ”, hảy bắt tay vào việc “ hảy ra khơi ”, “ noi gương các Thánh và các Tử Đạo đã đi trước ”.

Một lời nhắn nhủ, một sứ điệp cho thái độ phải có  đã quá rỏ. “ Ai có  tai nghe, thì hãy nghe !”.

2 – Tôi xin dâng Qúy Vị cho lời cầu bào của Dức Mẹ La Vang.

Vào những dòng cuối của bài ĐÁP TỪ , ĐTC dâng lời cầu nguyện của Ngài lên Đức Mẹ La Vang cho HDGMVN nói riêng và cho tất cả chúng ta nói chung:

– “ Tôi xin dâng Qúy Vị cho lời cầu bào của Đức Mẹ  La Vang, mà quý vị vừa cử hành trọng thể hồi năm ngoái trong dịp lễ 100 năm Đại Hội Thánh Mẩu ngày 15 tháng 8. Tôi biết lòng trông cậy con cái của Qúy Vị với  Chúa Ki tô. Xin Ngài  soi đường dẩn lối Quý Vị ”.

Ai trong chúng ta cũng biết ĐTC  có lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Mẹ Maria.

Dường như ở đâu có Đức Mẹ hiện ra, là nơi đó Ngài có đến hành hương để cầu nguyện với Mẹ: ở Nam Mỹ, ở  Nam Tư, ở Ba Lan, ở Civitavecchia ( Ý), ở Lourdes, ở Fatima và chắc chắn sẽ ở La Vang của chúng ta, một ngày nào đó tình hình và sức khỏe của Ngài cho phép. Rất tiếc, Ngài đã được Chúa đem đi sớm hơn, nên niềm hy vọng vừa kể không thể thực hiện được.

Ngài biết rất nhiều về Đức Mẹ La Vang của chúng ta, do đó Ngài đã phó thác HDGMVN trong tay Từ Mẩu ưu ái của Đức Mẹ.

Nhưng kể như vậy là chúng ta mới biết một cách hời hợt về mối “ thân tình ” riêng biệt của ĐTC đối với Đức Mẹ. Mối thân tình Mẹ con giữa Đức Mẹ và ĐTC còn có những đặc biệt hơn nữa .

Ngày 13 tháng 5 năm 1991, trên chuyến bay Roma-Lisbone, một ký giả của một nhật báo lớn ở Ý, tờ La Stampa, đã phỏng vấn ĐTC như sau:

– “Kính thưa ĐTC,  tại sao ĐTC đi hành hương ở Fatima?”

-“Tôi đến để thăm và cám ơn Đức Mẹ, vì những gì đã xảy ra năm 1989 ( năm khối CS ở Đông Âu và Liên bang Sô Viết sụp đổ, phải chăng đây là một trong các sứ điệp bí mật Fatima?). Kế đến tôi đến để cám ơn Đức Mẹ đã ra tay cứu tôi cũng ngày hôm nay, mười năm trước đây ( 13.5.1981, Alì Akja đã mưu sát Ngài tại công trường Thánh Phêrô). Tôi có đem theo viên đạn mà người ta đã bắn tôi để tặng cho Đức Mẹ làm kỷ niệm và người ta sẽ gắn vào vòng triều thiên của Mẹ. Và sau cùng tôi đến để cầu nguyện cho bốn quốc gia cộng sản cuối  cùng của nhân loại : Cuba, Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Nam”. ( La Stampa, 14.05.1991, 2).

Như vậy từ ngày 13.5.1991 , ĐTC đã gắn liền tên quốc gia Việt Nam vào viên đạn được gắn vào vòng triều thiên trên đầu Đức Mẹ Fatima, cùng với lời cầu khẩn không ngừng của Ngài cho dân tộc chúng ta.

Không lâu sau đó,  ĐTC đã làm phép lành cho năm tượng  Đức Mẹ La Vang, để phân phát ra khắp thế giới cho người Việt chúng ta vui mừng đi rước kiệu tôn vinh Mẹ.

Chúng ta hãy vui mừng và hảnh diện  tham dự đông đảo và trọng thể đi rước kiệu để tôn vinh Đức Mẹ La Vang , ân phúc đặc biệt của dân tộc chúng ta.

Hảy cất cao tiếng hát và lời cầu nguyện lên Mẹ cho dân tộc Việt Nam được hạnh phúc và cũng nói cho Mẹ và mọi người biết rằng bên cạnh chúng ta có ĐTC luôn luôn nhớ đến và cầu  nguyện với chúng ta cho đất nước, nhứt là hiện hay Ngài đang ở bên Chúa, chắc chắn lời cầu của Ngài sẽ được Chúa lắng nghe hơn nữa.

Ngài khuyến khích chúng ta hảy “ dũng cảm”, “ chấp nhận thách đố”, “ hảy ra khơi”, “noi gương các Thánh và các Tử Đạo đã đi trước”.

Viên đạn thiên hạ đã bắn Ngài và lời cầu nguyện của Ngài cho dân tộc Việt Nam đang còn gắng chặt trên mũ triều thiên của Đức Mẹ ở Fatima là một lý chứng và một nhắc nhở rằng dân tộc Vi ệt Nam luôn luôn trong trái tim ưu ái của Đức Thánh Cha, lúc Ngài còn ở trần gian hay hiện nay Ngài đang ở với Chúa cũng vậy.

Đi kiệu Đức Mẹ La Vang với tiếng hát cao cung và sóng nhạc triền miên, chúng ta đừng quên nói cho Đức Mẹ và mọi người biết về ĐTC, về các lời nguyện và Huấn Dụ của Ngài, về viên đạn của Ngài còn ở Fatima , về TDTG và nhân quyền ở Việt nam với 20 lần về các quyền căn bản mà ĐTC đòi hỏi và nhất là đừng ngái ngủ , dễ tin là

“Nhà Nước  luôn luôn làm chứng cho sự thật, tuyên bố sự thật và hành động cho sự thật. Mọi chuyện rồi đây sẽ được Nhà Nước sắp xếp ổn thỏa , “đừng có ồn ào chống đối”, như một Giám Mục quốc doanh nào đó đã tuyên bố.

Và nhứt là đừng tin ở Việt Nam Nhà Nước  đang cho  có Tự Do Tôn  Giáo và cho có Nhân Quyền, trong khi đó thì Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền là những Quyền Căn Bản của con người không cần có ai phải cho, mà bắt buộc mọi người phải tôn trọng, vì con người đó là người, có các quyền căn bản của mình tự bản thể nhân loại của mình, bắt buộc bất cứ ai cũng phải tôn trọng, để cho tất cả đều có một cuộc sống ” người cho ra người “.

Chà đạp nhân phẩm con người là lối sống mọi rợ:

“  Nhân Phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực quốc gia là nhận biết và kính trọng nhân phẫm đó ” ”

Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền căn bất khả xâm phạm của con người là nền tảng của mọi công đồng nhân loại, của hoà bình và chung sống thân hữu trên thế giới ” ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức )

 Nguồn: VN-Online

Đừng Sợ Chính Trị

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chính trị

Đừng Sợ Chính Trị

* Hồng Ân

Hiểm họa mất nước:

Trong vài tháng gần đây, dư luận trong và ngòai nước bàn tán xôn xao trên báo chí và các phương tiện truyền thông về hiểm họa mất nước do thái độ ngang ngược và bá quyền của Trung Cộng ngang nhiên công bố chủ quyền trên các đảo Hòang Sa và Hòang Sa của Việt Nam vì cho rằng 2 quần đảo này nằm trong vùng Lưỡi Bò mà Trung cộng đã tự ý khoanh vùng trên Biển Đông. Trung Cộng còn cấm các ngư phủ Việt Nam không được đánh cá gần các đảo này và lên tiếng đe dọa các nước ký hợp đồng với Việt Nam khai khác dầu khí ở vùng hải đảo này. Trên đất liền, chính quyền Cộng Sản Việt Nam để cho Trung cộng đang khai thác mỏ bô-xít ở Tây Nguyên và đưa 1.300.000 nhân công qua làm việc tại Việt Nam và xây dựng cả một thành phố Tầu ở tỉnh Bình Dương nữa. Trước hiểm họa mất nước này, dân chúng trong nước đã nhiều lần xuống đường biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng dù bị cảnh sát đàn áp và bắt bớ. Còn dân Việt tỵ nạn ở hải ngọai đã phản ứng ra sao? Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đông đảo Việt kiều cũng đã xuống đường biểu tình chống Trung Cộng và lên án nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam nhu nhược, bán nước cầu vinh.

Trong buổi sinh họat Đại Ultreya vào Chúa Nhật 16 tháng 10 năm 2011 vừa qua tại Trung Tâm Công Giáo, cha Nguyễn Thái, Phụ Tá Linh Hướng của Phong Trào Cursillo, trong phần đúc kết và trong bài giảng đã kêu gọi các anh chị cursillista hãy cầu chuyện cách riêng cho đất nước Việt Nam trước hiễm họa mất nước do mưu đồ xâm lược của Trung cộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa. Trong hai lá thư mục vụ đặng trên tờ Hiệp Thông ngày 2 và 9 tháng 10 năm nay, Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange, cũng nhắc nhở mọi giáo dân trong tháng Mân Côi này hãy cầu nguyện xin Đức Mẹ Mân Côi ban hòa bình và tòan vẹn lãnh thổ cho Nước Việt Nam trước ý đồ của Trung Cộng đang hăm he xâm chiếm lãnh thổ và các hải đảo của Việt Nam.

Hai vị lãnh đạo tinh thần đã gíong lên tiếng chuông báo động về hiểm họa mất nước và khẩn thiết kêu gọi các giáo dân cầu nguyện cho quê hương dân tộc. Trước đó một tháng, ngày 14 tháng 9, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Nam Cali cũng đã tổ chức một đêm thắp nến cầu nguyện cho quê hương tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster nhân ngày kỷ niệm 43 năm thủ tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng đã ký công hàm nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên đảo Hòang Sa và Trường Sa. Theo Ban Tổ Chức, số đồng bào tham dự đã lên tới ngót 5 ngàn người dù tổ chức vào ngày thứ tư trong tuần. Trên đường đi làm về, tôi cũng ghé tham dự đêm  cầu nguyện này, và nhận thấy các hội đòan cả đạo lẫn đời tham dự đều mang theo biểu ngữ đề tên đòan thể mình. Tôi đi vòng quanh tượng đài để quan sát và thấy phía Công Giáo chỉ có một biểu ngữ mang tên Cộng Đòan Huntington Beach mà thôi. Tôi cũng gặp một số các bạn bè quen biết trong các đòan thể công giáo và họ thắc mắc tại sao Công Giáo có 14 cộng đòan mà sao chỉ có một cộng đòan tham dự dù người được ủy thác làm Trưởng Ban Tổ Chức là ông Nguyễn Văn Liêm, Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange. Tôi nghĩ thầm cũng may là có cha Nguyễn Thái, Linh Hướng và Điều Hành Trung Tâm Công Giáo, đã đến tham dự và được mời lên phát biểu và dâng lời cầu nguyện cho quê hương dân tộc bên cạnh các vị lãnh đạo của các tôn giáo bạn.

Ngừơi Công Giáo thờ ơ với chính trị?

Người giáo dân Công Giáo Việt Nam ở đây thường bị mang tiếng là chỉ siêng năng đi lễ và cầu nguyện thôi. Ngòai ra, họ thừơng thờ ơ với các sinh họat chính trị dù có liên quan tới đấu tranh cho tự do tôn gíao và nhân quyền của đồng bào và đồng đạo ở quê nhà.

Đó là những người có thái độ tiêu cực về chính trị. Họ viện cớ rằng kẻ làm chính trị thường dùng các thủ đọan bất chính để nắm quyền bính với bất cứ giá nào với chủ trương “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” theo kiểu Macchiavelli, không quan tâm gì tới công ích và phúc lợi của dân chúng.

Thực ra, theo nguyên ngữ từ chữ “Polis” của Hy Lạp, chính trị là những phương thức tổ chức và điều hành quốc gia sao cho hữu hiệu nhằm mưu ích cho mỗi cá nhân và đồng thời mang lại ích lợi chung cho cuộc sống cộng đồng. Theo như ý nghĩa nguyên thủy cao đẹp này của chính trị,  mỗi công dân đều có bổn phận phải tham gia vào sinh họat chính trị để đi bầu các vị đại biểu nói lên tiếng nói của dân chúng, ứng cử vào các chức vụ dân cử, hoặc tham gia vào các tổ chức, đảng phái chính trị hoặc ra tranh cử vào các chức vụ điều hành quốc gia từ cấp địa phương đến cấp trung ương, ngõ hầu có cơ hội dùng tài năng và đức độ của mình để mưu ích lợi cho dân chúng. Một học giả người Ý, giáo sư Giovanni Sartori, đã cảnh cáo các người có thái độ thờ ơ và lãnh đạp với chính trị như sau:

– ” Giả sử anh có tư tưởng chính trị đúng đắn, chính đáng và có khả năng đem lại lợi ích cho dân tộc, hoặc có khả năng có thể đảm nhận những vai trò quản trị Đất Nước, nhưng vì ‘ an phận thủ thường, mặc kệ ‘, có thể kẻ khác có suy nghĩ lệch lạc, vô tài thất đức vì danh vọng, lợi nhuận ‘ nhào ra’” hoạt động chính trị, các hậu quả tai hại đổ nát sẽ đổ xuống trên đầu đồng bào, thân nhân của anh và cả trên đầu anh. Ráng chịu ! ” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III Zanichelli Bologna 1996, 133) (1)

Giáo Hội Công Giáo có ngăn cấm giáo dân sinh họat hoặc tham gia vào các họat động chính trị không?

Theo các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, cũng như những Thông Điệp sau đây của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không cấm đóan mà còn khuyến khích giáo dân tham gia sinh họat chính trị với lương tâm trách nhiệm của một công dân đối với quốc gia của mình.

Sau đây là một số trích đọan từ các văn kiện trên:

– “Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích…”.

– “ Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…”. 

 

– “ Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những nười khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn”.         

Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về đức bác ái chính trị:

– “ Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người” . 

 

Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân dấn thân vào chính trị:

– “ …việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác…”.

Đức Cố Giáo Hòang Gioan Phaolô II nói về tôn giáo và chính  trị:

Năm 1991, sau khi thể chế Cộng Sản ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết sụp đổ do sự vận động và can thiệp tích cực của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II với  Tổng Thống Nga Sô, Michael  Gorbaciov, và Tổng Thống Mỹ Reagan và bà Thủ Tuớng Thatcher của Anh Quốc, Ezio Mauro và Paolo Mieli, hai đặc phái viên của tờ La Stampa, một trong những tờ báo lớn nhứt ở Ý xin phép được phỏng vấn Đức Giáo Hoàng gioan Phaolô II: (2)

– “Kính thưa Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha làm chính trị, Đức Thánh Cha nghĩ sao?”.

   – ” Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là nhân quyền, sự tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Đức Giáo Hoàng có làm chính trị. Nhưng Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người” ( Ezio Mauro e Paolo Mieli, ” Giovanni Paolo II “, La Stampa 04.03.91, p.2).

Ý thức về sứ mạng của mình trong cuộc sống trần thế của  con người, Giáo Hội cũng cần can thiệp  vào các lãnh vực trần thế:

– ” Giáo Hội có quyền và bổn phận không những bảo vệ các nguyên tắc liên quan đến lãnh vực luân lý và tôn giáo, mà còn phải can thiệp vào các lãnh vực trần thế, mỗi khi cần phán đoán việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thiết thực” ( ĐGH Gioan XXIII, Mater et Magistra, 239).

Qua các dẫn chứng nêu trên về lập trường của Giáo Hội đối với chính trị, tôi cảm thấy mạnh dạn dấn thân vào các sinh họat chính trị, nhất là các họat động chính trị mang lại hy vọng cho các đống bào và đồng đạo của tôi ở quê nhà đang mong chờ được tụ do thờ phượng và được sống xứng đáng với phẩm giá con người mà Thiên Chúa đã tạo dưng nên theo hình ảnh của Ngừơi. Tôi thiết nghĩ chính trị là môi trường sinh họat chung của các cursilista ngòai các môi trường riêng của từng người trong Ngày Thứ Tư.

Tham khảo:

(1): Nguyễn Học Tập, “Tham Vọng Chính Trị”, vn-online@googlegroups.com

(2): Nguyễn Học Tập, “Tôn Giáo và Chính Trị”, vn-nline@googlegroups.com

An Ninh Máy Vi Tính và Những Cách Sử Dụng An Toàn

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Kỹ Thuật

≈ Leave a comment

Tags

an ninh, an tòan, máy vi tính

An Ninh Máy Vi Tính và Những Cách Sử Dụng An Toàn (Best Practices)
BBT No Firewall xin gửi đến các bạn trình bày của kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo trong buổi hướng dẫn về an ninh điện tử, được tổ chức trên Paltalk ngày 29/12 vừa qua.  Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo trách nhiệm về an ninh thông tin tại một công ty chuyên về quốc phòng tại Pháp. Ông thường xuyên cố vấn cho blog No Firewall.
 

Một vài con số liên quan đến máy vi tính

 Máy vi tính hiện nay trở thành rất thông dụng trong hơn 1/3 số gia đình trên khắp thế giới và trở thành dụng cụ phổ thông rất hữu ích cho việc trao đổi thông tin qua điện thư (email), tải xuống các tài liệu, thu thập thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội, mua bán, làm việc với nhau qua việc truy cập vào mạng toàn cầu Internet. Việc trao đổi dữ kiện, thông tin, còn trở thành một nhu cầu quan trọng hơn trong một xã hội độc tài trong đó mọi luồng thông tin độc lập dều phải chịu một sự kiểm duyệt gắt gao.
Hiện nay có khoảng từ 1,8 tỷ đến 2 tỷ máy vi tính trên khắp thế giới, so với hơn 2 tỷ người xử dụng mạng Internet. Năm 2010, số bán máy vi tính là 350 triệu, tăng 3,8% so với 2009, con số bán ước lượng cho 2012 là 400 triệu máy. Nếu tính đổ đồng, cứ 3 năm mới thay một máy vi tính, thì số máy vi tính tối thiểu hiện nay là 1,4 tỷ máy. Khoảng 1.000.000 máy  điện toán bị mất cắp mỗi năm. Số lượng máy vi tính cá nhân bị tấn công và trở thành một phần tử của một mạng botnet lên đến cả trăm triệu máy. Hầu như 100% các dữ kiện cá nhân, số ID, mật khẩu, trương mục ngân hàng, đều được chứa trong các máy vi tính dù tại nơi làm việc hay tại nhà riêng.

Do đó, việc tấn công bằng malware để chiếm các máy vi tính, lấy cắp các máy vi tính để khai thác dữ kiện, sử dụng các máy bị chiếm để tấn công các máy khác, trở thành rất thông dụng.

Trong Phần 2 về An Ninh máy Vi Tính và Những Cách Sử Dụng An Toàn (Best Practices)

Chúng ta sẽ cần nhận diện ra:

  • Những rủi ro lớn nhất khi sử dụng máy vi tính để biết cách phòng chống, kế tiếp là
  • Những cách sử dụng (behavior) an toàn thông dụng trong nhiều tình huống sử dụng máy khác nhau, và sau cùng là
  • Một số hướng dẫn về những biện pháp an ninh điện toán kỹ thuật cần thiết qua nhiều tầng an ninh từ thấp đến cao và bổ túc cho nhau.
Nhận diện những rủi ro (risks) khi sử dụng máy vi tính

Rủi ro là một tổng hợp nhân của các thành tố (component) sau đây:Risks = Threats X Vulnerabilities X Impact X Frequency
Threats = Đe Dọa
Vulnerabilities = Yếu Kém
Impact = Hậu quả
Frequency = Nhịp Độ

Thí dụ qua 4 trường hợp khác nhau:

• Nếu threats cao, nhưng vulnerabilities rất thấp, thì dù impact cao và nhịp độ xảy ra thường xuyên, Risks cũng chỉ ở mức trung bình
• Nếu threats trung bình, vulnerabilities trung bình, nhưng impact cao và nhịp độ trung bình thì risks cũng ở mức độ cao
• Nếu threats cao, vulnerabilities cũng cao, nhưng nếu impact rất thấp, thì dù frequency có cao, thì risks cũng chỉ ở trung bình
• Nếu threats cao, vulnerabilities trung bình, impact trung bình, nhưng frequency rất thấp, thì risks cũng chỉ mức trung bình

Sau đây là những rủi ro chính liên quan đến việc sử dụng máy vi tính, dựa trên tiêu chuẩn AICP (Availability, Integrity, Confidentiality, Proof):

 
 

Mất máy, máy bị ăn cắp 


Hậu quả: dữ liệu riêng tư cá nhân bị lấy cắp, sử dụng cho các hoạt động phi pháp. Đối với các thành phần hoạt động dân chủ, hoạt động của chính mình bị bại lộ và ảnh hưởng đến an ninh cá nhân của những người cùng hoạt động và có liên lạc với mình.

Máy bị tấn công và bị gài spyware 

Hậu quả: dữ liệu lưu trữ trong máy bị spyware thu thập và gởi ra bên ngoài, liên quan đến các tài liệu cá nhân riêng tư (trương mục ngân hàng, mật khẩu, giấy tờ cá nhân bị lấy cắp), các dữ kiện về hoạt động liên quan đến các thành phần dân chủ khác, những người quen biết. Thí dụ như các dữ kiện truy cập vào các trương mục, nằm trong máy bị lấy trộm nhằm xâm nhập vào các webmail để lấy các tài liệu riêng tư, truy tìm ra những người liên lạc với người chủ của máy.Máy bị tấn công, xâm chiếm và biến thành một phần tử của một mạng lưới botnet để tấn công từ chối dịch vụ (DOS) hay gởi thư rác spam.


Hậu quả: cùng hậu quả như trên, ngoài ra địa chỉ IP của máy bị liệt kê vào loại máy xấu và có thể bị ngăn chặn (block)Do đó, các cách sử dụng an toàn và biện pháp an ninh điện toán thiết trí trên máy nhằm
• để làm giảm thiểu rủi ro dữ kiện riêng tư bị lộ ra bên ngoài do bị malware xâm nhập hay máy bị mất,
• để tránh gây hại đến chính người sử dụng và những người quen biết, cùng hoạt động.

Những cách thức sử dụng an toàn (Best Practices)


Như trình bày trong Phần 1 Malware Rủi Ro, Nhận Diện và Cách Phòng Chống, cách thức sử dụng (behavior) an toàn đóng góp 10% vào phần bảo đảm mức an ninh nói chung.Sau đây là một số tình huống điển hình mà chúng ta cần quan tâm đến sự an toàn của máy vi tính.

Tại những nơi công cộng, tại cyber café, tại nhà ga, trên xe lửa, phi trường, trên phi cơ, khách sạn, tại nơi làm việc.

 
  • Không nối vào các nơi làm việc, hoạt động với các dữ kiện hệ trọng, nếu đường liên lạc không được mã hóa (bằng VPN Virtual Priate Network hay bằng SSL với giao thức HPPS)
  • Khi cần truy cập vào mạng Internet, cần tránh truy cập vào các web site “lạ” tại các nơi trên.
  • Khi nối bằng Wifi, mức độ mã hoá phải tối thiểu WPA hay tốt hơn là WPA2 (128 bits) nhằm phòng chống lại kẻ ở giữa nghe lén (Man In The Middle)
  • Không mở các hồ sơ quan trọng trong máy ở nơi công cộng có nhiều người có thể nhìn thấy được. Cần tìm một nơi khuất, lưng phải tựa vào tường, để tránh có kẻ nhìn trộm đằng sau lưng.
  • Luôn luôn mang máy vi tính trong hành lý mang tay và đem lên phi cơ, không bao giờ gởi hành lý có máy vi tính, không rời xa hành lý có máy vi tính, luôn mang theo nếu dời xa chỗ ngồi trên phi cơ, trên xe lửa hay trong khách sạn.
  • Không bao giờ cho người khác mượn máy vi tính, khi không sử dụng nữa nên tắt hẳn máy
  • Nên mang theo một thẻ nhớ USB có mã hóa chứa các hồ sơ quan trọng, các hồ sơ này không sao chép trong máy vi tính để phòng hờ trường hợp máy bị quan thuế tịch thu.
Khi nhận hay chuyển hay lưu trữ tài liệu, dữ kiện với thẻ nhớ USB
 
  • Cần khoá (block khả năng autorun từ thẻ nhớ USB) trên máy vi tính
  • Nên dùng thẻ nhớ của chính mình để chuyển hay nhận hồ sơ cho an toàn hơn. Cần giải mã trước tập hay directory đã được mã hoá để tránh tạo sự tò mò
  • Khi nhận hồ sơ nên quét thẻ nhớ USB ngay, trước khi chép vào đĩa cứng trong máy vi tính
  • Các nhu liệu mã hoá miễn phí có thể dùng : TrueCrypt (đĩa cứng), FlexCrypt (www.flexcrypt.com) , Zed (www.primx.eu) , PGP (http://www.pgpi.org/products/pgp/versions/freeware/winxp/8.0) , GnuPG (http://gpg4win.org/)
Khi đưa máy đi sửa hay thay máy

  • Nên nhờ một người quen thân tín, đi mua dùm máy, hơn là tự mình đi mua, nếu không muốn bị nhận diện
  • Trước khi mang máy đi sửa, nên cố gắng nhờ những người quen biết về điện toán xem dùm máy. Nên chép hết các hồ sơ quan trọng ra thẻ nhớ bên ngoài và mã hoá. Secured deletion các hồ sơ quan trọng trong máy (CCleaner), để tránh không còn dấu vết các hồ sơ đã xóa
  • Sau khi nhờ người quen mang máy sửa xong về, kiểm lại tất cả các functions xem có gì thay đổi hay không. Quét (scan ngay) với anti virus cập nhật. Tải xuống một anti virus thứ nhì để quét xem có gì thay đổi khả nghi hay không?
Cần tránh cho người khác, dù là quen biết sử dụng máy
 
  • Nếu không tránh được, nêu tạo ra một account khách mời (invite)
  • Yêu cầu không được tải xuống bất cứ chương trình software nào. Tốt nhất là nêu activate account control (cần đánh vào mật khẩu administrator nếu muốn thiết trí một nhu liệu mới)
  • Khi bắt buộc phải cho sử dụng máy của mình, nên có mặt tại chỗ, đứng đằng sau lưng để xem xét
  • Sau khi cho sử dụng xong, nên cho quét máy ngay (scan anti virus, anti spyware)
Chuẩn bị cho tình huống máy bị tịch thu
  • Cần quét thường xuyên (scan với Ccleaner) để xoá an toàn các hồ sơ không sử dụng nữa trong máy, ngay sau khi mỗi khi mở, làm việc trên các hồ sơ quan trọng.
  • Cần sao chép các hồ sơ quan trọng ra bên ngoài và lưu giữ trên một thẻ nhớ USB hay removable disk có mã hoá, để tránh trường hợp mất hết hồ sơ khi máy bị tịch thu.
  • Không giữ mật khẩu trong máy trừ khi mã hóa hồ sơ này. Luôn luôn xoá (clear) cache PGP hay của một chương trình mã hóa khác, để tránh pass phrase (mật khẩu) dùng cho mã hóa bị lộ
  • Cương quyết từ chối không cung cấp mật khẩu mã hóa.
Khi không sử dụng hoặc đi vắng khỏi nhà không lâu  
  • Máy nên tắt và nên lấy đĩa cứng ra bên ngoài. Cất dấu ở nơi kín đáo. Nếu vắng nhà lâu nên mang theo máy vi tính.
  • Trong trường hợp có hồ sơ quan trọng, nên sao chép vào trong một thẻ nhớ USB có mã hoá (PGP, TrueCrypt) và xoá an toàn (secured deletion) trong máy với CCleaner.
  • Máy cần có khoá tự động (lock). Nếu không có mặt trước máy, nên tắt đường liên lạc (wifi hay rút dây network RJ45 ra khỏi máy)

Những Biện Pháp An Ninh Điện Toán Kỹ Thuật

Đối với những rủi ro gây ra bởi malware, mỗi rủi ro đều cần có biện pháp phòng chống nhiều tầng (multi layer defense)

Các mức độ an ninh của máy vi tính được chia thành 4 mức độ từ thấp đến cao như sau :

Mức độ 1: Mức an ninh đạt 80% (70% kỹ  thuật + 10% cách sử dụng) liên hệ đến 99% người sử dụng Internet (ước lượng 1.980.000.000)

Mức độ 2: Mức an ninh đạt 95% (85% kỹ  thuật  + 10% cách sứ dụng) liên hệ đến 0,95%  người sử dụng Internet (ước lượng khoảng 19.000.000)
Mức độ 3: Mức an ninh đạt 99%, (89% kỹ  thuật  + 10% cách sử dụng) liên hệ đến 0,049%  người sử dụng Internet (ước lượng khoảng 1.980.000)

Mức độ 4: Mức an ninh đạt 99%+  liên hệ đến 0,001% —>   20.000

Mức độ 1 

 
Các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho mức độ 1
  • Anti virus, cập nhật, quét thường xuyên  (để khám phá và diệt trừ, cô lập các malware)
  • Anti spyware, cập nhật, quét thường xuyên
  • Cập nhật thường xuyên về an ninh để vá các lỗ hổng an ninh (patch security update).
Đặc điểm:
  • Ở mức độ 1 về an ninh, khi áp dụng triệt để các biện pháp phòng chống, mức độ an ninh tổng quát đạt khoảng 80%
  • Rủi ro cao nhất vẫn đến từ việc bị malware tấn công
  • Danh sách các URL các nhu liệu anti virus, anti spyware miễn phí (nofirewall.blogspot.com)
    • Microsoft Security Essentials http://www.microsoft.com/security_essentials/
    • Comodo Security suite http://www.comodo.com/home/internet-security/free-internet-security.php
    • AVG http://free.avg.com/us-en/homepage
    • AVAST http://www.avast.com/index
    • Avira http://www.avira.com/en/for-home
    • Bản xếp hạng các nhu liệu anti virus, anti spyware theo mức hiệu quả của khả năng khám phá và tiêu diệt các malware.
    • http://us.generation-nt.com/review-free-antivirus-virus-antispyware-spyware-antirootkit-rootkit-avira-avast-review-2028861-1.html
    • Các security suite mới đây đều có một số khả năng giới hạn chống root kit và Firewall và tương đối có hiệu quả khá đồng đều với nhau. Nếu có khả năng nên mua phiên bản thương mại ra, sẽ có được nhiều options hơn.
Những điểm cần quan tâm:
  • Cần liệt kê ra những nhu liệu đang sử dụng để activate cách cập nhật các vá (Patch). Ngoài các vá của Mirosoft hay Mac, cần tải xuống các vá của Adobe Reader, Flash Player, Itunes (Mac).
  • Cho hệ thống điều hành Windows và Mac, nên activate (bật) khả năng cập nhật các vá (patch) một cách tự động (ngay cho cả các chương trình ứng dụng như Microsoft Office, Adobe Reader, …)
  • Cần lấy option cập nhật hàng ngày và quét thường xuyên toàn bộ các điã cứng vào ban đêm, ít nhất 2 lần một tuần và tiêu diệt tự động mọi malware khám phá ra được (lúc đó, tắt Wifi hay rút giây network ra khỏi máy)
  • Cần xem xét nhu liệu có chạy thường xuyên trên máy (check icône trên task bar và process trên bảng CRTL+ALT+SUP)
  • Cần tham khảo thường xuyên kết quả các đợt quét xem có gì đáng quan tâm hay không.
 

Mức độ 2

 
Các biện pháp an ninh của mức độ 1
  • Anti rootkit, (nhằm phá vỡ việc che dấu malware)
  • Firewall để ngăn chặn các liên lạc không được cho phép ra bên ngoài.
  • Mã hóa một phần (partition) đĩa cứng, mã hoá các hồ sơ lưu trữ, gởi đi
Đặc điểm:
  • Ở tầng 2 về an ninh, khi áp dụng triệt để các biện pháp phòng chống, mức độ an ninh tổng quát đạt khoảng 95% (trừ rủi ro đến từ các malware loại “0 day “, có nghĩa là chưa có ấn dấu)
  • Rủi ro cao nhất vẫn đến từ malware qua điện thư (email), tải xuống hồ sơ, truy cập vào web site bị nhiễm malware. ở tầng này, việc mã hoá các hồ sơ, quan trọng sẽ giúp chống lại việc tài liệu bị lọt ra ngoài, khi máy bị mất hay bị ăn cắp hay bị malware loại trojan.
  • Danh sách các nhu liệu anti rootkit, firewall cá nhân và mã hóa miễn phí
  • Anti rootkit
    •  Spybot Search and Destroy http://www.safer-networking.org/en/index.html
    •  Sophos anti rootkit http://www.sophos.com/fr-fr/products/free-tools/sophos-anti-rootkit.aspx
    • Firewall
      • PC Tools Firewall Plus Free Firewall
      • Privatefirewall
      • Zone Alarm Free Firewall 2012
    • Mã hóa
      • PGP
      • TrueCrypt
      • FlexCrypt
      • Zed
    • Nên sử dụng 2 loại anti rootkit khác nhau để đối chiếu các kết quả tìm thấy
    • Nếu lưu giữ loại hồ sơ quan trọng, nên mã hóa ở mức hồ sơ (PGP) và toàn bộ đĩa cứng (TrueCrypt)
    • Định nghĩa rootkit : cụm từ đến từ hệ thống điều hành UNIX nay cũng hiện hữu trong hệ thống điều hành Windows. Một hệ thống bao gồm một số mệnh lệnh và function với mục tiêu tạo ra một context quản trị viên (administrator) để che dấu hoạt động của các malware.
Những điểm cần quan tâm:
  • Cần lấy option của Firewall : “tất cả những liên lạc ra bên ngoài, cần phải được sự chấp thuận (click vào OK)”, để khám phá và ngăn chặn những liên lạc bí mật ra bên ngoài, chỉ dấu của máy bị nhiễm malware loại trojan (có function key logger : thu lại những chữ đánh trên bàn phím như mật khẩu đề gởi lén ra ngoài)
  • Nên khởi động (launch) nhu liệu anti rootkit chuyên biệt, phụ thêm vào nhu liệu anti virus, anti spyware đã có ở mức độ 1, ít nhất 1 tuần 1 lần. Nhất là sau khi truy cập vào các web site không quen thuộc. Hiện nay, ước lượng khoảng vài triệu web site (trên tổng số hơn 500 triệu) bị nhiễm malware và trở thành máy chủ (server) để phân phối malware.
  • Cần thận khi phân tích kết quả tìm kiếm của nhu liệu anti rootkit (AVG, Sophos, …) vì có thể liệt kê ra những loại hồ sơ không phải là root kit. Cần xác định bằng cách chuyển lên web site www.virustotal.com hay www.threatexpert.com để kiểm chứng có đúng là malware loại rootkit không.
  • Cần sử dụng loại nhu liệu rà soát các process thông dụng như sysinternals (http://technet.microsoft.com/fr-fr/sysinternals) để kiểm soát xem có những process khả nghi (suspicious) nào đang chạy trong máy hay không (process explorer V11.02).
  

Mức độ 3

 
Các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho mức độ 3
  • Mức độ 1 + 2
  • Thẩm định rõ rệt mức độ các rủi ro (Risks Analysis)
  • Quan tâm đến các cảnh báo (security alert) để phòng chống
  • Phòng chống malware “0 day “, khi chưa tìm ra được dấu ấn của malware. Stormshield
  • Kiểm soát registry
Đặc điểm:
  • Ở tầng 3 về an ninh, khi áp dụng triệt để các biện pháp phòng chống, mức độ an ninh tổng quát đạt khoảng 99% (trừ rủi ro đến từ các malware loại “0 day “đặc biệt, có nghĩa là chưa có dấu ấn và nhằm vào một số mục tiêu nhất định). Ờ mức này, với sự hiểu biết các rủi ro trên mạng và về an ninh máy vi tính, xác xuất bị xâm nhập rất thấp.
  • Nếu máy được sử dụng vào một số lưu trữ dữ kiện quan trọng, đặc biệt, cần tiến hành một thẩm định mức độ rủi ro (risks analysis, method EBIOS, MEHARI, MARION, SANS (www.sans.org), Risk Management Guide của NIST http://csrc.nist.gov/publications/nistpubs/800-30/sp800-30.pdf , để lượng định những rủi ro cao nhất cần phòng chống và mức độ an ninh và các biện pháp kỹ thuật cần thiết.
  • Cần ghi danh và thu nhận những cảnh báo đến từ những cơ quan an ninh thông tin quốc gia (National CERT Computer Emergency Response Team, CERT-US, ANSSI (Pháp), BSSI (Đức), ENISA (Liên Âu)), và từ các phòng thí nghiệm về an ninh thông tin (security labs) của các công ty lớn về an ninh thông tin (McAfee, Sophos, Symantec, …). Nhận những cảnh báo này giúp cho chúng ta biết trước một số rủi ro (risks), đe dọa (threats) hay yếu kém (vulnerabilities) đang xảy ra trên mạng và có một số biện pháp phòng chống tối thiểu cần làm ngay.
Những điểm cần quan tâm:
  • Cần lấy algorithm mã hóa symetric một chìa khóa AES (Advanced Encryption Standard với độ dài (key length) 128 bits thay thế DES hay 3DES), hay algorithm mã hóa asymetric RSA 2048 bits 2 chìa khóa để có một mức độ an ninh vừa phải chống lại khả năng giải mã (decryption) trong một tương lai nhìn thấy được.http://www.cryptovision.com/fileadmin/media/documents/Whitepaper_Produkte/Modern_Cryptography.pdf
  • Khi nhận được security alert, cần xem xét ngay cảnh báo có liên quan trực tiếp đến việc sử dụng máy vi tính, điện thư, skype, nhu liệu mã hóa, Adobe Reader, Microsoft Office hay không. Nếu có cần áp dụng ngay những khuyến cáo.
  • Cần tải xuống và thiết trí Stormshield Personal Edition (http://spe.skyrecon.com/update/setup.exe), nhu liệu miễn phí cho máy vi tính, có khả năng chống lại các yếu kém vulnerabilities “ 0 day “, và chống lại các key logger một cách tự động. Stormshield không diệt malware, nhưng có khả năng ngăn chặn (block) hoạt động khả nghi (suspicious) của malware (thí dụ như nâng cấp quyền hạn thành administrator, mở ra cổng (port) mới để liên lạc ra bên ngoài, sửa đổi registry để bám vào máy, …)
  • Sử dụng Ccleaner hay một nhu liệu khác chuyên duyệt xét registry như PCTools Registry Mechanic để xoá thường xuyên và rà lại registry.
  • Quan tâm đến thời hạn hết chu kỳ bảo trì các phiên bản hệ thống điều hành, các chương trình ứng dụng (application), để chuyển sang (migration) sang phiên bản mới hơn.
 

Mức độ 4

Các biện pháp kỹ thuật cần thiết cho mức độ 4
  • Mức độ 1 + 2 +3
  • Xây dựng khả năng điều tra, truy tìm malware (forensic)
  • Xây dựng khả năng phân tích mã lệnh của malware để tìm ra mục tiêu, cách thức hoạt động, nguồn gốc của người chế tạo ra malware (reverse engineering)
Đặc điểm :
  • Ở tầng 4 về an ninh, khi áp dụng triệt để các biện pháp phòng chống, mức độ an ninh tổng quát đạt khoảng 99%+ (trừ rủi ro đến từ các malware loại “0 day “đặc biệt, có nghĩa là chưa có dấu ấn và nhằm vào một số mục tiêu nhất định). Ờ mức này, với sự hiểu biết các rủi ro trên mạng và về an ninh máy vi tính, xác xuất bị xâm nhập rất thấp.
  • Đây là tầng duy nhất có đề cập đến khả năng truy tìm nguồn gốc, những đặc điểm của malware và nếu cần phản công trên mặt pháp lý và kỹ thuật.
  • Cần xây dựng khả năng điều tra và truy tìm malware (forensic) của các chuyên viên điện toán về an ninh điện tử qua các khoá thực tập https://www.sans.org/security-training/advanced-computer-forensic-analysis-incident-response-98-mid, http://www.digitalintelligence.com/forensictraining.php , http://hsc-formation.fr/formations/forensic.html.fr
Những điểm cần quan tâm:
  • Cần quan tâm đến việc bảo quản tất cả những dữ liệu được sử dụng để điều tra, không được thay đổi (no write).
  • Tìm ra trong khối lượng dữ kiện của image memory và image disk, địa chỉ IP, dấu ấn (signature) của người chế tạo ra malware, qua việc phân tích mã lệnh (code analysis), tìm ra các cách thức xâm nhập, tự tồn tại trong máy, tự che dấu, cách thức thu thập dự kiện, thay đổi dự kiện và gởi về người chủ malware.
  • Tìm kiểm dấu vết xác định malware có thuộc một botnet như Zeus, TLD4, Mariposa, … http://www.damballa.com/downloads/r_pubs/WP_Malware_Samples_Botnet_Detection.pdf , để block bằng firewall.
  • Lập hồ sơ với đầy đủ dữ kiện để gởi cho ISP, cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan an ninh mạng sở tại để có một số biện pháp (active) cần thiết.
Reference:
ANSSI  www.ssi.gouv.fr (Pháp)
ENISA www.enisa.europa.eu (Liên Âu) European Networks and Information Security Agency
SANS www.sans.org
NIST www.nist.org
CERT-US www.us-cert.gov
AUSCERT (Autralian Computer Emergency Response Team)
CERT-A www.certa.ssi.gouv.fr


Download tài liệu qua dạng PDF.
Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo 
http://nofirewall.blogspot.com/2011/12/phan-2-ninh-may-vi-tinh-va-nhung-cach.html
XUONG DUONG
Nguồn: Nguyen Quang Duy <duyact@yahoo.com.au> posted on VN-Online
Date: 2012/1/7

Đức tin của chúng ta là đức tin chiến đấu và không hề sợ hãi

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chiến đấu, sợ hãi, đức tin

Đức Cha Daniel R. Jenky: Đức Tin Của Chúng Ta Là Một Đức Tin Chiến Đấu và Không Hề Sợ Hãi

§ Phaolô Phạm Xuân Khôi
Dưới đây là bản dịch bài giảng của Đức Cha Daniel R. Jenky, C.S.C., Giám Mục Peoria, Illinois, vào Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh 2012. Ngài nhấn mạnh: “làm một Kitô hữu không bao giờ dễ dàng và nó không giả thiết là dễ dàng! Thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ luôn luôn yêu những gì thuộc về chúng, và sẽ luôn luôn ghét chúng ta. Như Chúa Giêsu đã từng bảo trước, chúng đã ghét Thầy, thì chúng chắc chắn sẽ ghét các con. Nhưng đức tin của chúng ta, khi được sống cách trọn vẹn, là một đức tin chiến đấu
và một đức tin không hề sợ hãi.”
Chỉ có một lý do cơ bản tại sao Kitô giáo tồn tại và lý do đó là sự kiện Đức Chúa Giêsu Kitô thật sự đã sống lại từ nấm mồ.
Các môn đệ không bao giờ mong chờ sự Phục Sinh. Các chứng từ nhất trí của tất cả bốn sách Tin Mừng là cái chết khủng khiếp của Chúa Giêsu trên thập giá đã hoàn toàn làm tiêu tan tất cả hy vọng của các ông về Chúa Giêsu và về sứ điệp của Người. Người đã chết, và thế là hết. Các ông không còn tìm kiếm gì nữa, và cũng không còn mong đợi gì nữa.
Các ông đã yêu Người quá nhiều, trong cái nhỉn cùa các ông, Chúa Giêsu là một Đấng Thiên Sai thất bại. Cái chết của Người dường như hoàn toàn cướp đi bất cứ ý nghĩa lâu dài nào không những của giáo huấn mà ngay cả những phép lạ của Người.
Và rõ ràng là các ông đã run sợ về số phận khủng khiếp của Người, dưới bàn tay Công Nghị và người Rôma, có thể dễ dàng trở thành số phận khủng khiếp của các ông. Vì vậy, các ông trốn tránh, run rẩy khiếp sợ, nấp đằng sau những cửa sổ đóng kín và những cánh cửa khóa khóa chặt.
Khi Đức Kitô Phục Sinh bất ngờ hiện ra giữa các ông, phản ứng của các ông là sửng sốt nghi ngờ. Các ông đơn thuần không thể tin ở mắt mình.
Thực tại chỉ rất từ từ bắt đầu thâm nhập ý thức của các ông khi Chúa Giêsu đưa ra bằng chứng về sự Phục Sinh của Người. Người đã cho thấy những vết thương trên tay, chân, và cạnh sườn Người. Chúa Giêsu còn cho các ông chạm vào Người. Người bẻ bánh và ăn với các ông. Và chỉ sau đó các ông mới có thể tự mình thừa nhận điều xem ra hoàn toàn không thể được – một người thật sự đã chết đã sống lại thật! Đấng Chịu Đóng Đinh giờ đây đứng trước mặt các ông là Chúa Phục Sinh, vinh hiển và chiến thắng của các ông.
Việc Người trỗi dậy từ nấm mồ hoàn toàn có thật giống như việc Người chết trên thập giá. Sự Sống Lại là bằng chứng biểu hiện quyền năng vô song của Thiên Chúa Toàn Năng. Sự kiện không thể tránh được của việc Phục Sinh xác nhận mọi lời Chúa Giêsu đã từng nói và mọi công việc Chúa Giêsu đã từng làm.
Tin Mừng là sự thật. Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Đấng Cứu Thế đã được hứa của dân Israel. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ thế gian. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
Không có lời giải thích nào khác cho Kitô giáo. Nó đáng lẽ đã chết và hoàn toàn biến mất khi Đức Kitô chết và được mai táng, ngoại trừ cho một sự thực rằng Đức Kitô đã sống lại thật, và rằng trong thời gian 40 ngày trước khi Lên Trời, Người đã tiếp xúc qua lại với các Tông Đồ và các môn đệ, và trong một dịp ngay cả với hàng trăm kẻ đã theo Người.
Bài Đọc Tin Mừng hôm nay cho ngày Thứ Bảy trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh này được lấy từ Chương 16 của Tin Mừng Thánh Marcô. Nó kết thúc với một mệnh lệnh từ môi miệng Chúa Giêsu, được ban cho các môn đệ của Người, cho toàn thể Hội Thánh, cũng được ban cho anh chị em và tôi tụ họp ở đây hôm nay: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”
Chúng ta đã nghe trong Bài Đọc Thứ Hai hôm nay từ sách Tông Đồ Công Vụ rằng cùng một Công Nghị đã lên án Chúa Giêsu đã ngạc nhiên trước sự mạnh dạn của Thánh Phêrô và Thánh Gioan. Trong khi biết rằng các ông là những kẻ thất học và bình thường, họ nhận ra các ông như bạn đồng hành của Chúa Giêsu. Họ cảnh báo các ông không bao giờ bao giờ được nhân danh Chúa Giêsu mà giảng dạy hoặc nói với bất cứ ai nữa.
Tuy nhiên, các kỳ lão và luật sĩ cũng có thể đã cố gắng để xoay ngược triều sóng, hoặc ngăn chặn trận tuyết lở. Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã thấy Đức Kitô Phục Sinh bằng cặp mắt của mình. Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã được đầy Thánh Thần. Các ông hỏi xem có phải là điều đúng “trước mặt Thiên Chúa không khi chúng tôi nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa. Chúng tôi không thể không nói ra những gì chúng tôi đã nghe, và đã thấy.”
Thánh Phêrô vàThánh Gioan cùng tất cả các Tông Đồ, bắt đầu trước hết tại Giêrusalem trong xứ Giuđêa và xứ Galilêa, và sau đó đến tận cùng trái đất, đã công bố sự Phục Sinh và
Tin Mừng cho tất cả mọi người mà các ông đã gặp.
Theo chứng từ rõ ràng của Thánh Kinh, các Tông Đồ đã từng là những người bình thường – như anh chị em và tôi. Đức tin của của các ngài đã không phải luôn luôn mạnh mẽ. Các ngài đã lầm lỗi. Các ngài đã phạm tội. Các ngài thường sợ hãi và bối rối.
Nhưng việc gặp gỡ Chúa Phục Sinh đã thay đổi tất cả mọi sự về các môn đệ đầu tiên này, và biết Chúa Phục Sinh cũng phải thay đổi tất cả mọi sự về chúng ta.
Anh chị em biết, làm một Kitô hữu không bao giờ dễ dàng và nó không giả thiết là dễ dàng! Thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ luôn luôn yêu những gì thuộc về chúng, và sẽ luôn luôn ghét chúng ta. Như Chúa Giêsu đã từng bảo trước, chúng đã ghét Thầy, thì chúng chắc chắn sẽ ghét các con.
Nhưng đức tin của chúng ta, khi được sống cách trọn vẹn, là một đức tin chiến đấu và một đức tin không hề sợ hãi. Căn cứ vào quyền năng của việc Phục Sinh, không có gì trong thế gian này, và không có gì trong hỏa ngục, mà chung cuộc có thể đánh bại một Hội Thánh duy nhất, thật sự, thánh thiện, Công Giáo và Tông Truyền của Thiên Chúa.
Trong hai ngàn năm qua, những kẻ thù của Đức Kitô chắc chắn đã cố gắng hết sức. Nhưng hãy nghĩ về điều ấy. Hội Thánh sống sót và thậm chí phát triển mạnh mẽ trong những thế kỷ bị đàn áp khủng khiếp, trong những ngày của Đế Quốc Rôma.
Hội Thánh thoát khỏi những cuộc xâm lăng của dân man di. Hội Thánh vẫn tồn tại sau nhiều làn sóng Thánh Chiến của Hồi Giáo. Hội Thánh sống sót thời đại cách mạng. Hội Thánh sống sót chủ nghĩa Quốc Xã và Cộng Sản.
Và trong quyền năng của Phục Sinh, Hội Thánh sẽ sống sót sự thù ghét của Hollywood, ác ý của các cơ quan truyền thông, và sự tàn ác gian dối của kỹ nghệ phá thai.
Hội Thánh sẽ sống sót sự tham nhũng cố hữu và bất tài tuyệt đối của chính quyền tiểu bang Illinois của chúng ta, và thậm chí cả thái độ khinh thị có tính toán của Tổng thống Hoa Kỳ, các viên chức được chỉ định trong Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh, cùng đa số hiện nay của Thượng Viện liên bang.
Nguyên xin Chúa thương xót linh hồn của những chính trị gia làm bộ là Công Giáo trong Hội Thánh, nhưng trong cuộc sống công cộng của họ, lại như Giuđa Iscariot, phản bội Chúa Giêsu bằng cách bỏ phiếu và sẵn sàng hợp tác với những điều tự bản chất là ác.
Là Kitô hữu chúng ta phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình, nhưng là Kitô hữu chúng ta cũng phải đứng lên bênh vực những gì chúng ta tin và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cho Đức Tin. Những ngày mà trong đó chúng ta hiện đang sống đòi phải có một đạo Công Giáo anh hùng, không phải Công Giáo ngẫu nhiên. Chúng ta không còn có thể là những người Công Giáo một cách tình cờ, nhưng thay vào đó phải là những người Công Giáo bằng xác tín. Trong gia đình riêng của chúng ta, trong các giáo xứ của chúng ta, nơi chúng ta sống và nơi chúng ta làm việc – giống như thế hệ tông đồ đầu tiên – chúng ta phải là chứng nhân mạnh bạo cho Quyền Làm Chúa của Đức Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta phải là một đạo binh những người Công Giáo không hề biết sợ, sẵn sàng hiến tất cả mọi sự chúng ta có cho Chúa, là Đấng đã hiến tất cả vì phần rỗi chúng ta.
Hãy nhớ rằng trong quá trình lịch sử, các chính quyền khác đã cố gắng buộc các Kitô hữu phải chui rúc và ẩn nấp chỉ trong phạm vi các nhà thờ của họ như các môn đệ đầu tiên bị nhốt trong nhà Tiệc ly.
Vào cuối thế kỷ thứ 19, Bismark đã khai mào “Kultur Kamp,” một cuộc chiến tranh Văn hóa, chống lại Hội Thánh Công Giáo Roma, bằng cách đóng cửa tất cả các trường học và bệnh viện, tu viện và đan viện Công Giáotrong Đế quốc Đức.
Clemenceau, có biệt danh là “kẻ ăn linh mục,” đã cố gắng làm cùng một điều như thế ở Pháp trong thập niên thứ nhất của thế kỷ 20.
Hitler và Stalin, vào những thời điểm nhân đạo hơn của họ, chỉ cho phép một số nhà thờ được mở cửa, nhưng không chấp nhận bất cứ sự cạnh tranh nào với nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, dịch vụ xã hội, và chăm sóc y tế.
Trong việc vi phạm rõ ràng Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, Barack Obama – với chương trình cấp tiến, phò phá thai và thế tục cực đoan của ông, giờ đây xem ra có ý đi theo một con đường tương tự.
Bây giờ sự thể đã xảy ra như thế ở Mỹ đến nỗi đây là một cuộc chiến mà chúng ta có thể thua, nhưng trước tòa phán xét đáng kính sợ của Thiên Chúa Toàn Năng, đây không phải là một cuộc chiến mà bất cứ tín hữu Công Giáo nào vẫn có thể còn đứng trung lập.
Mùa thu này, mọi người Công Giáo giữ đạo phải bỏ phiếu, và phải bỏ phiếu theo lương tâm Công Giáo của mình, hoặc vào mùa thu năm sau các trường Công Giáo, các bệnh viện Công Giáo, các Trung tâm Công Giáo Newman của chúng ta, tất cả các việc thừa tác vụ của chúng ta — chỉ trừ những ngôi nhà thờ của chúng ta– có thể bị đóng cửa dễ dàng. Bởi vì không một cơ sở Công Giáo, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể hợp tác với sự dữ tự bản chất là việc giết chết sự sống của người vô tội trong bụng mẹ.
Không có một cơ sở phục vụ Công Giáo nào – và vâng, thưa Tổng Thống, vì các trường học và bệnh viện Công Giáo của chúng tôi là các cơ sở phục vụ – có thể vẫn còn trung thành với Quyền Làm Chúa của Đức Kitô Phục Sinh và Tin Mừng Sự Sống vinh quang của Người nếu các cơ sở này bị bắt buộc phải trả tiền cho việc phá thai.
Giờ đây hãy nhớ lại cái gì đã là kinh nghiệm đổi đời, là điều hoàn toàn biến đổi các môn đệ đang sợ hãi và run rảy này thành những tông đồ chẳng còn biết sợ hãi và anh hùng. Các ngài đã gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh. Các ngài đã tôn kính vết thương thánh của Người. Các ngài đã ăn uống với Người.
Đó không phải là những gì chúng ta cùng làm ở đây với nhau, sáng hôm nay trong Thánh Lễ diễu hành hàng năm của nam nhân này sao?
Đây là ngày thứ bảy của Bát Nhật Phục Sinh, một Lễ Trọng rất cao cả và trung tâm của đức tin Công Giáo của chúng ta, mả ngày Phục Sinh được cử hành vừa trọn tám ngày, và mùa Phục Sinh được cử hành cách vui mừng như 50 Ngày Đại Lễ Phục Sinh. Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã trỗi dậy từ nấm mồ — đang ở giữa chúng ta. Lời Thánh của Người dạy chúng ta chân lý. Mình và Máu Thánh của Người trở nên lương thực và thức uống của chúng ta.
Đức Kitô Phục Sinh là Chúa Vĩnh Cửu của chúng ta; Đầu của Thân Thể Người, là Hội Thánh; vị Thượng Tế của chúng ta; Thầy của chúng ta; vị Chỉ Huy của chúng ta trong cuộc chiến đáng chiến đấu này.
Chúng ta không có gì để sợ hãi, nhưng chúng ta có một thế giới để chinh phục cho Người.
Chúng ta không có gì để sợ hãi, vì chúng ta có một số phận vĩnh cửu trên thiên đàng.
Chúng tôi không có gì để sợ hãi, dù đất có thể động, vương quốc có thể mọc lên và xụp xuống, ma quỷ có thể dữ tợn, nhưng Thánh Michael Tổng Lãnh Thiên Thần, và tất cả các đạo binh thiên quốc, chiến đấu thay cho chúng ta.
Bất kể điều gì xảy ra trong thời điểm chóng qua này, vào cuối thời gian và lịch sử, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa và Chúa Giêsu là Chúa, đến muôn thủa muôn đời.
Christus vincit! Christus regnat! Christus imperat!
Đức Kitô chiến thắng! Đức Kitô hiển trị! Đức Kitô truyền lệnh!
+ GM Daniel R. Jenky, CSCGiám Mục Peoria, Illinois
Phaolô Phạm Xuân Khôi
Nguồn: phuong ngo <tuyphuongngo56@yahoo.com> posted on VN-Online
Date: 2012/4/19

Tham Vọng Chính Trị

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

chính trị, tham vọng

THAM   VỌNG   CHÍNH   TRỊ

 NGUYỄN HỌC TẬP

Thường khi nói đến chính trị, chúng ta có hai thái độ tiêu cực: hoặc dửng dưng hoặc xa lánh.

Thái độ dửng dưng là thái độ khá thông thường của những người cho rằng chính trị dành cho những kẻ có ”tham vọng” thì lăng xã vào, còn đối với tôi , nó xa vời, ” không ăn nhậu” gì.Đó là thái độ thông thường, được anh Michael viết thư cho chúng tôi cách đây không lâu để nói lên tâm thức của đồng bào bên nhà:

“å Giới trẻ ( từ 25 tuổi trở xuốùng) không biết gì về quốc gia và cộng sản, mà họ chỉ đi học hay thụ hưởng.

Từ 40 tuổi trở xuống chỉ lo kiếm sống nuôi gia đình, ít màng đến chuyện chính trị chính em“

Thật ra những vấn đề chính trị, nhứt là những đường hướng và quyết định chính trị, nhiều khi “ăn nhậu“ khá sát với đời sống thường nhật và cả tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta.

Quyết định tăng giá xăng dầu, cắt giảm phụ cấp gia đình, tăng lãi xuất ngân hàng, đánh thuế nặng vào hàng nhập cảng để bảo vệ sản phẩm nội điạ, hối xuất của đồng bạc VN đối với việc cung cấp ngoại tệ cho việc nhập cảng dụng cụ và nguyên liệu khác với hối xuất để nhập cảng sản phẩm tiêu thụ…là những quyết định chính trị đụng chạm khá trực tiếp đến túi tiền của chúng ta.

Đó là chưa kể đến những quyết định quan trọng liên quan đến mạng sống hàng triệu người:

nên đặt ưu tiên giao thương với Hoa Kỳ hay Trung Cộng, nên thương thuyết hay tuyên chiến với Cam bốt, nên khai thác nguyên tữ năng hay đấp đập thủy điện lực, thiết lập lò nguyên tử năng?

Còn nữa:

– “Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau.Tất cả đều được ĐấngTạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng“ ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Ký 1776)  .

– “Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền con người do Thiên phú, bất khả nhượng và cao quý“ 8 Tièn Đề Tuyên Ngôn Nhân quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 )   .

– hay “ Đảng CS  Sô Viết…xác định nền tảng cho thể chế xã hội và chính trị Công Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận của người dân…“ ( Tiền Đề Hiến Pháp CHLBSV 1977) .

Đó là những đường hướng chính trị. Cũng vậy:

– “Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm.Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó“( Điều 1 đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

– “Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thực sự giới hạng tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở ” ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Đó là những lời tuyên bố chính trị khác có liên quan dến việc con người được tôn trọng và được Quốc Gia cung cấp cho các đìều kiện thích ứng để cho mình có được một cuộc sống xứng đáng “người cho ra người“.

Còn nữa:

– “ Người công nhân được quyền thù lao xứng đáng , tương xứng với số lượng và phẩm chất công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống tự do và khan trang“( Điều 38, đoạn 2Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

– “Người làm việc có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ phương tiện thích hợp, đáp ứng lại các nhu cầu đời sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn phe, già  nua, thất nghiệp ngoài ý muốn“ ( Điều 38, đoạn 1, id).

 – “Người phụ nữ công nhân cũng có đủ mọi quyền và việc làm như nam công nhân, cũng được thù lao như nam công nhân. Các điều kiện làm việc phải được thiết định thế nào để người phụ nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình,phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ bằng một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp…“ ( Điều 37, đoạn 1, id.)  

 Đó là những lời tuyên bố chính trị khác, không xa lạ gì với những nhu cầu cuộc sống thường nhật của chúng ta, nếu chúng ta muốn có một cuộc sống “khan trang“ , văn minh, xứng đáng với nhân phẩm con người , “người cho ra người“.

Chúng tôi còn có thể liệt kê thêm hàng trăm câu tuyên bố “ chính trị“ tương tợ, liên quan thiết thực với đời sống chúng ta không khó khăn gì. Chỉ cần trích ra từ các văn bản Hiến Pháp, nhứt là các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ và nhân bản Tây Âu. Bởi vì Hiến Pháp là văn bản “ Mẹ Đẻ  của đường lối chính trị Quốc Gia.

Thái độ tiêu cực kế đến là coi chính trị như một cái gì dơ bẩn, xấu xa, bởi lẽ những người làm chính trị hay đảng phái chính trị thường dùng thủ đoạn bất chính,“mục đích biện chứng cho phương tiện“( Macchiavelli), để đạt cho bằng được mục tiêu và cố nắm giữ quyền bính bằng mọi giá, dù có phải thủ tiêu bao nhiêu người và hành xử lợi ích cho bè đảng, không đếm xỉa gì đến công ích,  loại trừ đối phương bằng thủ đoạn và nếu cần cả bằng vũ lực, tội tù, tra tấn, thủ tiêu, không đếm xỉa gì đến luật pháp luân lý.

Qua những suy tư và trích dẩn trên, chúng ta đã có ít nhiều khái niệm về chính trị.

 I – Chính trị là gì?

Để có một cái nhìn đúng đắn hơn với chính trị, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu chính trị qua những tư tưởng nguyên thủy của nó.

Từ ngữ Chính trị mà chúng ta có cùng ý nghĩa với danh từ Politique( Pháp ngữ), Politica(La ngữ và Ý ngữ), Policy(Anh ngữ). Politik ( Đức ngữ ) .

Tất cả những danh từ Chính trị trong các ngôn ngữ vừa kể đều phát xuất từ danh từ Polis của Hy lạp, có ý nghĩa là Thành phố hay Thị xã. Thị xã Hy Lạp trong thời thượng cổ, nhứt là thời Cộng Hoà Athène được tổ chức như những tiểu quốc gia tự lập, trong đó mọi người được phân chia công tác tùy khả năng, từ gát cổng, quét đường đến tổ chức phòng vệ, sản xuất thủ công nghệ, tổ chức văn hoá nghệ thuật.

Từ ý nghĩa tổ chức phân chia công việc mà mọi người đều  tham gia góp phần sao cho đời sống chung của Thị xã được ăn khớp nhịp nhàng đó, nảy ra những phương thức áp dụng vào Quốc Gia,  làm sao tổ chức hữu hiệu hơn, hoạt động hoàn hảo hơn, để mưu ích cho đời sống của từng cá nhân và lợi ích chung cho đời sống trong cộng đồng,  đó là những tư tưởng khởi thủy của chính trị.

Do đó, Chính trị (politique,politica policy) không có gí khác hơn  là những phương thức  tổ chức Thị xã ( Polis) sao cho đời sống cộng đồng được trôi chảy, nhằm mưu ích cho mổi cá nhân cũng như cho cuộc sống chung của cộng đồng

 Đến thời Đế Quốc Roma bành trướng qua Hy Lạp, người La-tinh thu nhập cách tổ chức trên của Hy Lạp cho cuộc sống Thị Xã của họ. Thị xã, trong ngôn ngữ La tinh là Civis. Người sống trong thị xã được gọi là Civilis, là người có cuộc sông văn minh. Bởi vì trong tâm thức người La Tinh chỉ có những người sống trong Thị xã (Civis), mới là người có cuộc sống tổ chức Văn minh   (Civilis), còn ai không sống trong cuộc sống hội nhập có tổ chức, không thể nào có đòi sống tiến bộ cho ra hồn, là người có cuộc sống Bán Khai Mọi Rợ (Barbarus):người có râu ria xồm xàm như quân Hung Nô, sống trong các Làng Mạc Hẻo Lánh(Pagus).

Qua những tư tưởng Polis, Civis, Civilis, Barbarus, Pagus trên, chúng ta có thể rút ra một vài tư tưởng sau đây:

1) Chính trị hiểu theo nghĩa Polis là những phương thức tổ chức Quốc Gia, nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống chung cộng đồng, mà cũng nhằm phục vụ cho từng người dân sống trong Quốc Gia, bởi lẽ, Quốc Gia hay dân tộc là những danh từ trừu tượng, được thể hiện trên thực tế bằng đời sống của từng người công dân một.

Dĩ nhiên , trong một tập thể chính trị có tổ chức như Quốc Gia, nơi quy tựu chung sống của hàng triệu người, sẽ có nhiều phương thức tổ chức thích ứng cho cuộc sống chung và cũng liên quan đếnø cuộc sống riêng rẻ của từng người, nên công việc chọn lựa thể thức nào thích hợp nhứt sẽ hàm chứa việc người dân có quyền đứng ra quyết định để lựa chọn, người dân có chủ quyền lựa chọn để quyết định phương thức tốt đẹp nhứt để tổ chức Quốc Gia hay Dân chủ ( Demokratía).

Dân Chủ theo nguyên ngữ Hy Lạp là Demokratía ( Demos, dân chúng; Krátos, quyền hành: quyền hành là của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền hành, có quyền định đoạt đường lối để tổ chức Quốc Gia hay Chính Hướng, đường lối Chính Trị).

 Những ai muốn đứng ra lãnh đạo Quốc Gia có nhiệm vụ đề ra những phương thức tổ chức ( hay “ Đường lối lãnh đạo Quốc Gia” hoặc “ Chương trình chính trị”, nói theo ngôn từ của chúng ta), để người dân phán đoán và lựa chọn.

Những thủ đoạn, lường lọc, mỵ dân, khủng bố, cấu kết , bè phái để đoạt lấy và khăng khăng giữ lấy quyền bính tiêu diệt đối phương là những hành vi băng hoại chính trị(dégénération) , chớ không phải chính trị hiểu theo nguyên ngữ và tư tưởng cao đẹp khởi thủy của nó.

2) Ngưới Hy lạp, nhứt là người La tinh, cho rằng, người sống ngoài Thị xã ( Polis hay Civis) là những người man rợ, bán khai, bởi lẽ đời sống không có tổ chức để người nầy hổ trợ người khác, sáng kiến của người nầy bổ túc làm lợi ích cho ngươi khác, đời sống

không thể nào có tiến bộ:”nhân vô thập toàn “ là vậy.

Tư tưởng đó vẫn còn có giá trị hiện đại đối với chúng ta. Chúng ta muốn trở thành văn minh, chúng ta muốn đất nước chúng ta tiến bộ, chúng ta phải ở trong Thị xã( Polis hay Civis): chúng ta phải tham dự chính trị.

Trong một Quốc Gia, tham gia chính trị có nghĩa là

a – bầu cử,

b- ứng cử để chuyển đạt ý kiến của người dân trong Quốc Hội, để hành xử quyền của người dân giao phó cho trong Chính Phủ,

c- mà cũng có nghĩa là tham gia vào các tổ chức, đảng phái để nói lên tiếng nói, ảnh hưởng , đặt điều kiện với các tổ chức quyền lực Quốc Gia trong các quyết định chính trị, nếu chúng ta không muốn những ai cầm quyền đưa ra các quyết định áp đặt lên đầu lên cổ chúng ta và người đồng hương chúng ta.

d – và sau cùng là cũng có thể  đứng ra đảm nhiệm hành xử quyền lực Quốc Gia, đem tài năng hiểu biết của mình để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình.

Như vậy ý nghĩa của việc tổ chức Thị xã( Polis) là những phương thức điều hành để phân công, mỗi người một việc, tùy khả năng và tuỳ nhu cầu của Thị xã, nhằm sao cho công việc  của Thị xã được ăn khớp, nhịp nhàng, hữu hiệu. Nói cách khác, những phương thức đó hay “đường lối chính trị” phải nhằm phục vụ công ích. Bởi đó, dùng chính trị để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm, để “ phục vụ Đảng”là đi ra ngoài tư tưởng nguyên thủy cao cả của việc tổ chức chính trị.

II – Tham vọng chính trị.

 Một số khá lớn dư luận quần chúng, mỗi khi thấy ai đứng ra tổ chức hội đoàn, sinh hoạt họp hàng với người khác, cho rằng “thằng cha đó có tham vọng chính trị”.

Dưới đây chúng ta thử xét ý nghĩa đứng đắn của câu nói trên. Cái lạ của thái độ phần đông chúng ta là gán “thằng cha đó tham vọng chính trị”cho những ai có khuynh hướng hoạt động chính trị, còn “tham vọng” ở những lãnh vực khác thì không thấy mấy ai chửi bới.Ví dụ không ai chửi bới một sinh viên cắp sách vào đại học :”thằng cha đó có tham vọng kỹ sư, con mẹ đó có tham vọng bác sĩ, bọn đó có tham vọng làm thú y, luật sư, giáo chức…”.

Thái độ trên của chúng ta có lẽ thoát thai từ quan niệm sai lầm về chính trị như là một môi trường bẩn thỉu , thủ đoạn, bất chính chớ không phải từ quan niệm Polis, Civis: phương thức tổ chức để điều hành hoạt động quốc gia, mưu ích cho cuộc sống cộng đồng quốc gia và cho từng cá nhân mổi công dân trong cộng đồng.

Nếu chúng ta có cái nhìn đứng đắn về chính trị theo tư tưởng Polis, Civis, tổ chức chính trị để phục vụ công ích, thì câu nói “thằng cha đó có tham vọng chính trị” sẽ không có ý nghĩa chê trách gì , ngoài ra hơn là “dốt, bất tài, vậy mà cũng tham vọng chính trị”.

Trong chiều hướng đó, câu phê phán của chúng ta nhằm đòi hỏi cũng như khuyến khích những ai muốn lãnh lấy trách nhiệm đối với đời sống hàng bao nhiêu triệu đồng bào phải là những người có đức độ và kiến thức. Người tay ngang không thể bốc đồng làm bác sĩ chữa bệnh, làm kỹ sư , kiến trúc sư  thiết kế đồ án xây cất. Vậy thì tại sao người làm chính trị, cầm trong tay vận mệnh của bao nhiêu triệu đồng bào trong tay  lại có thể là tên “ tay ngang nhào vào chính trị”:

“Người làm thầy thuốc mà sai lầm,là giết hại mạng người,    

   Người làm tướng mà sai lầm, tiêu diệt cả đoàn quân,

   Người làm chính trị mà sai lầm, đại hoại cả đất nước,

   Người làm tư tưởng mà sai lầm, tiêu diệt không biết bao nhiêu thế hệ”

                                                               ( Khổng Tử ?).

Một trích dẩn khác:

“Nhiều học thuyết chính trị cảnh cáo chúng ta  đừng lầm tưởng giữa những mơ ước đối với chính trị và những gì chính trị thể hiện trong thực tại…Những kết quả của chính trị và kinh tế không phải là những gì chúng ta mơ tưởng phải có, mà là những gì chúng ta đã đặt nền tảng thực hiện trước để có kết quả…” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III Zanichelli Bologna 1996, 129)

Viết tới những dòng nầy, người viết hồi tưởng lại miền Nam trước 1975. Chúng ta không nghi ngờ gì đến tài thao lược binh bị của những người lãnh đạo Quốc Gia lúc đó. Nhưng liệu những tướng tá cầm quyền thời đó có kiến thức chính trị tương xứng để lãnh đạo quốc gia trước cơn sóng gió của thời cuộc không? Biết đâu vận mệnh đất nước đã không ở trong một hoàn cảnh khác, nếu những vị lãnh đạo  lúc đó có khả năng thực sự cho trách nhiệm.

Đặt câu hỏi để chúng ta cùng suy nghĩ.

Giáo sư Giovanni Sartori cũng còn thêm:

– ” Giả sử anh có tư tưởng chính trị đúng đắn, chính đáng và có khả năng đem lại lợi ích cho dân tộc, hoặc có khả năng có thể đảm nhận những vai trò quản trị Đất Nước, nhưng vì ” an phận thủ thường, mặc kệ “, có thể kẻ khác có suy nghĩ lệch lạc, vô tài thất đức vì danh vọng, lợi nhuận ” nhào ra ” hoạt động chính trị, các hậu quả tai hại đổ nát sẽ đổ xuống trên đầu đồng bào, thân nhân của anh và cả trên đầu anh. Ráng chịu ! ” ( Giovanni Sartori, id. 133). 

 Qua những gì vừa trình bày, nếu người làm chính trị có kiến thức, đạo đức và mục đích đem chương trình chính trị để phục vụ công ích bằng những phương tiện hợp pháp và chính đáng, thì câu nói “thằng cha đó có tham vọng chính trị”sẽ trở thành vô nghĩa, nếu không phải phát sinh từ những hậu ý bất chính nào đó.

III – Chính trị và lương tâm ki tô hữu.

“Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích…”.

Hoặc:

“ Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…”.             Còn nữa:

“ Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những nười khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn”.         

Ba văn kiện mà chúng tôi vừa trích dẩn ( và còn nhiều văn kiện khác của Công Đồng Vatican II, cũng như những Thông Điệp mới đây của Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus) , qua những từ ngữ “không nên thối thoát”,” phải hợp tác”,” có bổn phận nặng nề”đăt người tín hữu Chúa Kitô trước chính trị, không như trước một trò chơi giải trí, một hobby, mà là trước lương tâm trách nhiệm.

Từ ngữ “Tham vọng chính trị” đối với ngưới tín hữu Chúa Kitô không những phát biểu một tư tưởng lổi thời, không cần phải đặt ra theo ý nghĩa nguyên thủy cao cả của tư tưởng Polis,Civis chúng ta đã thấy ở trên cũng như theo ý thức trách nhiệm trong những văn kiện của Giáo Hội vừa đề cập.

Dĩ nhiên Giáo Hội không xác định mức độ đến đâu mỗi tín hữu phải tham dự vào chính trị. Điều đó tùy thuộc khả năng, hoàn cảnh và lương tâm của từng người.

Câu hỏi được đặt ra có ý nghĩa hơn , có lẽ là câu phát biểu thái độ ngược lại với “tham vọng chính trị”. Đó là “ dửng dưng đối với chính trị”, “đứng ra ngoài chính trị, để ai làm gì mặc ai”.

Để trả lời cho lương tâm người tín hữu Chúa Kitô trong trường hợp nầy, Chúa Giêsu kể cho chúng ta dụ ngôn “Người Samaritano”. Người Samaritanio dừng lại băng bó vết thương và cỏng người bị cướp đánh giở sống giở chết bên vệ đường về quán trọ để chăm sóc, trong khi đó thì vị thông thái  luật cũng như thầy tư tế thấy kẻ xấu số, lách sang rồi bỏ đi luôn .

Nếu chúng ta quy tóm Mười Giới Răn của giáo lý Thiên Chúa Giáo lại chỉ còn Hai Giới Răn: kính Chúa và yêu người, chúng ta sẽ thấy được lời tuyên án nặng nề của Thánh Gioan đối với những ai không có lòng đối với người anh em đồng loại:

– “ Ai không yêu thương anh em là người mình thấy được, làm sao có thể kính yêu Thiên Chúa, Đấng mà mình không thấy”.

Nói cách khác, ai không thương yêu anh em, thì cũng không thể kính yêu Thiên Chúa, không còn phải là người tín hữu Chúa Kitô. Người không kính yêu Thiên Chúa, mà cũng chẳng tha thiết gì đến anh em, là người vừa vô đạo vừa bất nhân.

Một trong những điểm nổi bậc của Công Đồng Vatican II là làm cho chúng ta ý thức đến thái độ thiếu trách nhiệm trong việc “lách sang rồi bỏ đi luôn” (Lc.10,30-36).

Trong kinh Cáo Mình trước Công Đồng Vatican II chúng ta đọc thấy câu:

– “…lòng động, lòng lo, miệng nói, mình làm. Lổi tại tôi, lổi tại tôi, lổi tại tôi mọi đàng…”.

Trong khi đó thì kinh Cáo Mình hiện tại, sau Công Đồng Vatican II cho chúng ta:

“ ..con  đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót(  omissio). Lổi tại tôi, lổi tại tôi, lổi tại tôi mọi đàng…”

So sánh hai kinh Cáo Mình, chúng ta thấy Công Đồng Vatican II làm cho chúng ta ý thức đến điều đáng lý chúng ta phải làm, nhưng chúng ta đã “tự ý bỏ qua”(  omissio) trong La ngữ có nghĩa là tự ý bỏ qua, mặc dầu mình ý thức đó là bổn phận, chớ không phải chỉ thiếu sót vì thờ ơ, quên lãng), tạo ra việc chúng ta thiếu trách nhiệm đối với Chúa và đối với anh em, vì không thương yêu anh em , như lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1 Gv. 4,20s). Điều “ tự ý bỏ qua, không hành động , không can thiệp vào việc mà đáng lý chúng ta phải làm”( chớ không phải  “ thiếu sót”) đó là một hành vi lổi phạm một trong hai Giới Răn của Chúa, là tội, chớ không phải là hobby, muốn làm hay không cũng được.

Ngoài ra những văn kiện của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta ý thức đến việc dấn thân chính trị, cộng tác với anh em khác, công giáo hay không cũng vậy, để xây dựng một xã hội tương xứng hơn với địa vị con người, lương tâm kitô giáo đòi buộc chúng ta “không được tự ý bỏ qua” trách nhiệm chính trị, khi đức bác ái đối với anh em, đối với Quốc Gia Dân Tộc, đòi buộc chúng ta phải hiện diện.

Giả sử chúng ta có khả năng, có chương trình pháùt triển chính trị,  xã hội, kinh tế hữu hiệu, hợp lý và khả thi,  làm cho dân tộc  chúng ta có đời sống “ người cho ra người “ hơn, nhưng vì lý do nào đó chúng ta “không tham vọng chính trị” , trốn tránh trách nhiệm, để mất cơ hội, để kẻ khác kém tài năng hơn lãnh đạo làm cho đât nước cơ cực, dân chúng ngu dốt, lầm than. Thái độ “vô trách nhiệm, tự ý bỏ qua”( omissio) đó, chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa, trong lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1Gv.4,20s) .

Để kết thức, chúng tôi xin mượn lời Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về chính trị:

– “ Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người” .  

Và Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân:

– “ …việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác…”.

Nguồn: VN-Online

Tưởng nhớ bà Trần Lệ Xuân

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Trần Lệ Xuân

BÀ TRẦN LỆ XUÂN:
MỘT THỜI SÓNG GIÓ VẺ VANG
VÀ NỬA ĐỜI THẦM LẶNG TRONG VINH DIỆU

Nguyễn Kim Lộc

(Chicago, Illinois. USA)
Ngày 01-11-1963 đánh dấu sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà Miền Nam, do Tướng Dương Văn Minh, với  tư cách đứng mũi chịu sào, danh xưng Chủ Tịch Hội Đồng Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà với sự hỗ trợ đắc lực của Tướng Trần Thiện Khiêm, người được mô tả là linh hồn của cuộc đảo chánh, từ hiến kế, sắp xếp, liên lạc thuyết phục các tướng lãnh trong quân đội và  gần như toàn quyền quyết định việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, để mở trang sử mới… cũng là ngày bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân, vỡ mộng chính trường…
Dư luận cho rằng, lý do sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà là do chính sách gia đình trị và việc đàn áp Phật Giáo của chính quyền đương thời và sự thiếu sáng suốt – cả nể của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để thân tộc chen sâu vào lãnh vực chính trị, và hoạt động kinh tài… “Đức cha Thục đứng trong bóng tối điều khiển người thân tín khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..v..; ông Ngô Đình Cẩn, tự phong là Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung về mặt an ninh và đoàn thể, đồng thời trực tiếp điều khiển Đoàn Công Tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu phụ trách”, nên Quân Đội phải lãnh sứ mạng đảo chánh để bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân miền Nam Việt Nam, nhưng ít ai biết được nguyên nhân  sâu xa của cuộc chính biến lịch sử nầy …Nhờ những tài liệu được giải mật của Mỹ và hồi ký của những người tham gia cuộc đảo chánh nói trên, người dân  Việt Nam đã hiểu rõ nguyên nhân sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hoà.  
Một lý do rất đơn giản – Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý cho Hoa Kỳ đổ quân Mỹ ào ạt vào miền Nam Việt Nam, vì sợ dân chúng hiểu lầm miền Nam Việt Nam đã bị Mỹ chiếm, làm ảnh hưởng đến chính nghĩa và tinh thần của người Việt quốc gia chống Cộng Sản; tạo cái cớ cho Cộng Sản Miền Bắc tuyên truyền xuyên tạc,  khơi dậy lòng căm thù trong dân chúng đối với Mỹ và chính quyền Đệ Nhất Cộng Hoà, hầu lôi kéo quần chúng về phía Cộng Sản, đồng thời kêu gọi dân chúng nổi dậy “đánh Mỹ cứu nước”,  “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”.
– Cũng khoảng thời gian đó, cơ quan Tình Báo Mỹ phát hiện ông Ngô Đình Nhu đi đêm với Cộng Sản Bắc Việt ở một khu rừng thuộc tỉnh Bình Tuy để tìm cách giải quyết vấn đề nội bộ Việt Nam; chuyện nầy không biết có phải là một đòn chính trị nhằm thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ và tìm hiểu đường hướng chủ trương của Cộng Sản Bắc Việt hay không (?), vẫn làm cho chánh quyền Mỹ khó chịu, và sự  việc nầy, hẳn nhiên là trật với đường lối và kế hoạch giải trừ  khối Cộng Sản Quốc Tế của Mỹ; nên CIA Mỹ (nhân vật nổi bật là Lucien Conein) nhận lãnh trách nhiệm liên lạc thuyết phục hoặc mua chuộc thành phần tướng lãnh Việt Nam Cộng Hoà dưới nhiều hình thức và đạo diễn cuộc đảo chánh chế độ Ngô Đình Diệm.
Lịch Sử đã sang trang, chắc có người thầm trách tôi khơi lại làm gì, khi hình ảnh ngày 01-11-1963 đã phai mờ dưới bao lớp bụi thời gian, đã hơn bốn mươi bốn năm thắm thoát trôi qua, hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị Quân Nhân Cách Mạng bắn chết trên thiết vận xa M113, trên đường từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu.
Thi thể được an táng vào lúc giữa đêm trong khuông viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa Ấn Quốc, trước sự chứng kiến của một linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung (một thời là Bộ Trưởng, Phụ Tá Quốc Phòng thời Đệ Nhất Cộng Hoà, và bà Dung gọi ông Diệm bằng cậu ruột) và Trung Tá Nguyễn Văn Luông (Trưởng Ban Mai Táng). Đến năm 1964, hai quan tài của ông Diệm và ông Nhu được di dời đến nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (Sài Gòn), chôn một cách sơ sài , không xây mộ và cũng chẳng dựng bia….và đến sau ngày 30-4-1975, hài cốt của hai ông Diệm và Nhu, một lần nữa, được cải táng tại  nghĩa trang Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương. Và Ngô Đình Cẩn cũng đã bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thời Đại Tướng Nguyễn Khánh xử tử lúc 6 giờ 30 sáng ngày 09-5-1964 tại sân sau khám Chí Hoà Sài Gòn, trước sự chứng kiến của Luật Sư Biện Hộ Võ Văn Quang – ông Quang bùi ngùi vì việc biện hộ không mang lại kết quả… và chỉ xin được cặp kính còn một tròng của người tử tù, đem về làm kỷ niệm …
 Tất cả những người vừa kể đã yên mồ… nhưng còn một phụ nữ Việt Nam đáng thương hơn là đáng trách, đáng phục hơn là đáng khinh, đó là Bà Ngô Đình Nhu khuê danh Trần Lệ Xuân. Bà có một phần đời vươn đến đỉnh cao quyền lực, với quyết tâm chống Cộng Sản và xây dựng tốt đẹp xã hội miền Nam Việt Nam trong tự do, dân chủ và công bằng, nhưng ước vọng đã không thành…. và nửa cuộc đời còn lại sống lưu vong trong cảnh cô đơn, thầm lặng, vinh diệu ở Châu Âu.
Trở về quá khứ một chút…Ngày 10-9-1963, Bà Nhu hướng dẫn một phái đoàn Dân Biểu Việt Nam đi dự Hội Nghị Quốc Tế Nghị Sĩ tại Nam Tư, đồng thời lãnh trách nhiệm giải độc dư luận ở Hoa Kỳ và một số nước ở Âu Châu về tình hình Phật Giáo và chính trị Việt Nam, thì một biến cố quan trọng xảy ra – chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà bị lật đổ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại vào ngày 02-11-1963, trong khi bà Nhu và cô con gái Ngô Đình Lệ Thuỷ đang ở tại khách sạn Wilshire  thuộc Beverly Hill, Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Bà Nhu đã bàng hoàng khi nghe tin vừa kể.
Ngày 15-11-1963, bà Nhu và con gái rời Mỹ đi Roma (Ý), sau khi tuyên bố: “Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
Vào năm 1964,  bà Ngô Đình Nhu đã một lần xin về thăm lại quê hương Việt Nam để lo mồ mả cho chồng, ông Ngô Đình Nhu và anh chồng là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng bị cấp lãnh đạo nền Đệ Nhị Cộng Hoà bác đơn (?)… Có quê hương, mà vì hoàn cảnh phải bỏ đi tỵ nạn ở xứ người là một điều đau khổ, lại bị từ chối không cho về thăm quê hương lại càng đau khổ hơn, nhất là đối những người có tuổi, càng về già càng da diết nhớ quê hương, càng nhớ nhiều về quá khứ, cội nguồn, tổ tiên, dân tộc…
Tôi chẳng bà con họ hàng gì với bà Trần Lệ Xuân, chỉ biết thấp thoáng bà có họ hàng với ngôi nhà Từ Đường Họ Trần ở góc đường Quang Trung và Phan Châu Trinh Biên Hoà. Ngôi nhà nầy do thân tộc của bà Trần Lệ Xuân, xây cất từ đời ông cố của bà Nhu là ông Trần Văn Tứ, tiếp đó ông nội của bà Nhu là ông Trần Văn Thông từng là Tổng Đốc Nam Định thời xa xưa, là người nguyên quán tỉnh Biên Hoà…Và nhân dịp đọc được nhiều trang báo đề cập đến Bà là một phụ nữ tân tiến, tài ba, dám dấn thân hoạt động chính trị, hơn hẳn nhiều nghị sĩ và dân biểu thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tấm lòng quyết tâm chống Cộng Sản và xây dựng  xã hội miền Nam Việt Nam, nhưng giấc mộng của Bà đã tan theo khói súng cuộc đảo chánh 01-11-63, do một nhóm tướng lãnh chủ trương, và bà đã phải sống lưu vong nơi hải ngoại gần năm mươi năm; bà an phận trong cuộc đời goá bụa, giữ tròn tiết hạnh đối với chồng và cố gắng nuôi các con ăn học thành tài, có địa vị xã hội cao nơi xứ người…khiến cho tôi vô cùng cảm kích, ngưỡng mộ và kính trọng Bà.
Bà Ngô Đình Nhu là một phụ nữ có tài, nhưng tài nghệ của bà không thể nào so sánh với hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định về Tàu, giành độc lập, xưng vương năm 40, đóng đô ở Mê Linh…và sau đó bị Mã Viện đánh bại, nên hai Bà trầm mình xuống sông Hát Giang mà tự tử vào năm 43; cũng không thể so sánh với Bà Triệu khởi nghĩa năm 248 tại quận Cửu Chân đánh thắng quân Tàu nhiều trận, nhưng sau cùng thế yếu, Bà tự tử tại làng Bồ Điền (Thanh Hoá) …nhưng có một phụ nữ Việt Nam nào có bản lĩnh hơn Bà Nhu, trong lịch sử cận đại, dám dấn thân vào lãnh vực chánh trị, phụ chồng (ông Ngô Đình Nhu) và giúp anh chồng (ông Ngô Đình Diệm) trong việc cùng lo bảo vệ chế độ Cộng Hoà Miền Nam, chống lại Cộng Sản Miền Bắc hay không? – Xin thưa rằng không. Tôi không có ý nói bà Trần Lệ Xuân là người học cao…. Bà chỉ học đến bậc Tú Tài Pháp, nhưng bà rất thông minh, lịch lãm, dám tham gia hoạt động chính trị; là vợ của một quân sư lỗi lạc và thường thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân thời Đệ Nhất Cộng Hoà, mỗi khi có cuộc tiếp tân, chào đón các mệnh phụ phu nhân của nhiều quốc gia trên thế giới đến thăm viếng Việt Nam.
            Ngoài các công việc vừa kể, bà Ngô Đình Nhu còn đãm trách nhiều chức vụ quan trọng khác…
            * Dân Biểu Quốc Hội Đệ Nhất Cộng Hoà (Đơn vị quận Đức Hoà/Long An), Bà mạnh dạn đề nghị chính phủ đóng cửa hai sòng bạc Kim Chung (Sài gòn) và Đại Thế Giới (Chợ Lớn) do lực lương Bình Xuyên-Bảy Viễn đỡ đầu và khai thác, vì nhận thấy nơi đây là nguồn gốc gây ra tệ đoan xã hội; đồng thời đề nghị đóng cửa thanh lâu “Bình Khang” ở ngã ba Vườn Lài (Sài Gòn), nơi mà người phụ nữ bị khinh khi nhất, bị người đời mỉa mai làm nghề bán trôn nuôi miệng…
* Thủ Lãnh Thanh Nữ Cộng Hoà, trong ý hướng nâng cao vai trò phụ nữ, tạo điều kiện cho người phụ nữ dự phần bảo vệ quốc gia, Bà gây ý thức “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Bà làm sống lại tinh thần Trưng Trắc Trưng Nhị:
“Bà Trưng quê ở Phong Châu
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
….
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên Thành
Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.
Bà làm sống lại tinh thần Triệu Trinh Nương:
“Tôi chỉ muốn cưỡi có gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Có bà Triệu Tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân”
“Tùng Sơn nắng quyện mây trời
Dấu chân Bà triệu rạng ngời sử xanh”
* Là Phu Nhân của Cố Vấn Chính Trị Ngô Đình Nhu, nhưng Bà và thường mặc nhiên thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân thời Đệ Nhất Cộng Hoà trong công tác ngoại giao quốc tế, tiếp đón các nữ chính khách của nhiều nước trên thế giới, đến viếng nước Việt Nam…do đó, giá trị và tư cách của Bà được nâng cao Bà luôn làm tròn nhiệm vụ được giao phó.
* Chủ Tịch Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Xã Hội. Bà bênh vực quyền lợi của người phụ nữ và tạo cơ hội cho người phụ nữ tham gia công tác  xã hội….vì Bà hiểu rõ thân phận của người phụ nữ Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử, luôn bị coi thường, tháng ngày chỉ quanh quẩn trong phạm vi gia đình trách nhiệm nuôi con, lo việc bếp nút và thường bị người chồng chèn ép về nhiều mặt…Bà đã mạnh dạn đề nghị Quốc Hội ban hành Luật Gia Đình (1958) ngầm xoá bỏ cảnh trai năm thê bảy thiếp, để bảo  đãm hạnh phúc gia đình một vợ một chồng; Bà muốn làm một cuộc cách mạng, nâng cao vai trò phụ nữ Việt Nam, xoá hẳn câu “Nhất Nam Viết Hữu, Thập Nữ Viết Vô”, trọng nam khinh nữ,  một quan niệm sai lầm do ảnh hưởng tập quán nước Tàu đã lỗi thời, mà vẫn còn một thiểu số người còn bám níu. Bà kêu gọi phu nhân các vị tướng tá và các công chức cao cấp tham gia công tác xã hội, thường xuyên thăm viếng các cô nhi quả phụ và uỷ lạo các thương bịnh binh trong các quân y viện…
Bà chấp nhận đi Mỹ và Âu Châu, giải độc dư luận về vụ đàn áp Phật Giáo dẫn đến việc Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, mà theo bà hiểu… đó là một âm mưu do Cộng Sản chủ trương với sự đồng loã của CIA Mỹ, nhằm bức tử Hoà Thượng Thích Quảng Đức dưới hình thức tự thiêu vì đạo pháp, để làm ngọn đuốc giả tạo, đấu tranh cho Phật Giáo với mục đích khuynh đảo chế độ của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà và Bà sẵn sàng chấp nhận mọi sự phản đối của nhiều người Mỹ và cũng như một số người Việt Nam Thật sự, lúc bấy giờ, có một số đông dân chúng, gồm cả nhiều người trí thức rất ngây thơ về mặt chính trị, nên bị Cộng Sản lừa gạt, dụ dỗ thoát ly vào rừng hoạt động như Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Kiến Trúc Sư Huỳnh Tấn Phát, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ… và hầu hết các kháng chiến quân miền Nam và sau cùng đều bị bạc đãi; họ ngậm đắng nuốt cay và thú nhận đã lầm đường… kể cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sống tại miền Nam tự do, làm giáo sư, dạy môn Việt Văn, cũng lầm và đã viết bài thơ “Lửa Từ Bi”…. ca ngợi sự tự thiêu vì đạo pháp của Hoà Thượng Thích Quảng Đức…để rồi sau ngày 30-4-1975, Vũ Hoàng Chương được Việt Cộng chiếu cố mời vào khám Chí Hoà nghỉ mát đến lúc gần chết mới được thả về.
LỬA TỪ BI
Kính dâng lên Bồ Tát Quảng Đức
Vũ Hoàng Chương
Lửa, lửa cháy ngất toà sen!
Tám chín phương nhục thể tràn tâm
Hiện thành thơ, quỳ cả xuống
Hai vầng sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt-Trời-mới-mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên
Ô đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ là hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân sì vừa mở mắt
Nhìn nhua: tình huynh đệ bao la.
Nam mô Đức Phật Di Đà
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dầy
Bước ra ngồi nhập định về hướng Tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp Bánh xe quay
Không khí vặn mình theo,
khóc oà lên nổi gió:
Người siêu thăng…
Dông bảo lắng từ đây
Bóng người vượt chín tầng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề.
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Chổ người nồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
Với thời gian, lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ! Còn trái tim Bồ Tát
gội hào quang xuống chốn A Tỳ
Ô ? Ngọn lửa huyền vi!
Thế giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác
Từ cõi vô minh
Hướng về Cực Lạc
Vần điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác
Và cũng chỉ nguyện được là rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh
Tụng cho nhân loại hoà bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này
Thổn thức nghe lòng Trái ất
Mong thành quả phúc về cây;
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật;
Đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt
Tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây
Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương
(viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1963, để tưởng niệm
Hoà Thượng Bồ Tát Thích Quảng Đức).
Trong khi bà Ngô Đình Nhu biết chắc vụ tự thiêu Hoà Thượng Thích Quảng Đức là do bàn tay của Cộng Sản dàn dựng, nên trong các cuộc phỏng vấn trong nước cũng như ở hải ngoại (của báo New York Times…), bà Nhu đã không ngần ngại phát biểu :
            “Hoạt động của Phật Giáo là một hình thức phản bội xấu xa…” hoặc “Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu thì tôi sẽ cho (nguyên văn: I would clap hands at seeing another monk barbecue show……)”.
            Và còn gọi vụ tự thiêu là “nướng sư” hoặc “Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật Giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới“,
            Bà bị nhiều người, trong số có cả người thân trong gia đình, chê trách Bà đã không tế nhị trong việc phát ngôn, lời nói mang tính cách chế dầu vào lửa, khiến cho tình hình chính trị tại miền Nam, vốn rối rắm càng lúc càng rối rắm hơn ….nhưng thực tế bà Nhu đã không thể nói khác được vì sự thật đã bày ra trước mắt….chỉ tiếc rằng Bà đã không nói thẳng ra, vụ Thích Quảng Đức tự thiêu là do âm mưu của Cộng Sản miền Bắc chỉ thị cho Phật Giáo Quốc Doanh miền Nam, núp dưới danh nghĩa Phật Giáo Ấn Quang, do Thích Trí Quang lãnh đạo, thực hiện…. 
            Bây giờ mọi người đã rõ việc “Thích Quảng Đức tự thiêu’’ là do Việt Cộng sắp đặt từ A đến Z, từ chích thuốc an thần cho đến khi Hoà Thượng Thích Quảng Đức không còn biết gì nữa, rồi giao cho tên Trần Quang Thuận chở đến ngã ba đường Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng (Sài Gòn), với sự tham gia đắc lực của tên Việt Cộng nằm vùng Nguyễn Công Hoan, đổ cả thùng xăng lên người Thích Quảng Đức và châm lửa; chuyện rõ ràng như thế mà Cộng Sản lại tuyên truyền :
            “Bồ Tát Thích Quảng Đức tự Ngài đã tẩm ướt xăng, rồi ngồi kiết già nơi giao lộ và cũng tự tay Ngài châm thêm xăng và quẹt lửa vào người”
            Sau ngày 30-4-1975, Nguyễn Công Hoan, tên thật là  Huỳnh Văn Thạnh, được Việt Cộng đề cử là Dân Biểu tỉnh Phú Khánh. Nhờ những đoạn phim, ảnh, quay và chụp được…  nhân dân Việt Nam đã thấu hiểu vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu là do âm mưu của Cộng Sản  nhằm bức tử một nhà sư trong mưu đồ chính trị, nhằm gây rối tình hình và khuynh đảo chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà. Những tấm hình dưới đây đã chứng minh điều vừa kể.
Bây giờ, mọi người đã hiểu rõ hai tiếng “nướng sư” ….của Bà Ngô Đình Nhu phát biểu trên bốn mươi năm qua,  diễn tả rất rõ ràng, chứng minh được cảnh  Hoà Thượng Thích Quảng Đức không phải tự thiêu về đạo pháp mà là một sự  bức tử  – cán bộ Cộng Sản  đã trút lên người Thích Quảng Đức cả “can” xăng rồi nhanh tay châm lửa…
Mời quí vị đọc bài thơ sau đây…
ỬA TỪ BI HAY OAN NGHIỆT
(Thế Nhân)
Ôi! Ngọn lửa từ bi
Hay khói mùa oan nghiệt?!
Cộng Sản quá độc ác
Tế sống một nhà sư
Nam mô A Di Đà Phật!
Cộng Sản chở Sư đến
Cộng Sản dìu Sư đi
Sư dường không còn biết
Sắp lìa đời từ đây
Nam mô A Di Đà Phật!
Trước cảnh người chứng kiến
Thích Quảng Đức lặng im
Sư ngồi thế toạ thiền
Góc đường Lê Văn Duyệt
Giữa hàng rào cà sa
Lẫn màu áo lam già
Của Ấn Quang tà phái
Cảnh dàn dựng cúng dường
Chao ôi! Ác quá chừng
Cộng Sản đổ ‘can’ xăng
Lên khắp người thượng toạ
Cộng Sản mở quẹt châm
Bức tử một vì Tăng
Lửa oán cừu bùng cháy
Cộng Sản truyền thắng lợi
Một ngọn lửa chính trị
Đã hoá kiếp nhà sư
Ống kính đã khắc ghi
Ảnh hình còn lưu lại
Bao Tăng ni đồng loã?
Chứng cảnh dã man nầy!
Ngọn lửa đang bốc cao
Từ Bi hay Oan Nghiệt
Người đời đà nhận biết
Nguồn cội tự Quốc Doanh
                       
Hầu như mọi người đều nhận ra Phật Giáo Ấn Quang là một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản Bắc Việt và tổ chức nầy biến thành Phật Giáo Quốc Doanh sau ngày 30-4-75, riêng Thượng Toạ Thích Trí Quang được Bộ Chính Trị Cộng Sản Miền Nam điều động vào bóng tối ngồi nghỉ ngơi, im hơi lặng tiếng đến ngày hôm nay.
Việc làm kể trên của bà Ngô Đình Nhu dĩ nhiên có nhiều người Quốc Gia ganh tị tài ba và địa vị, đồng thời bị Cộng Sản tuyên truyền bóp méo sự thật, cố tình xuyên tạc, phao tin thất thiệt nhằm làm giãm uy tín của bà …..
Theo bài báo có tựa là “Các Tướng Cướp Đội Lốt Thầy Tu’ của  Nguyễn Hạnh Hoài Vy, tác giả cho rằng bà Nhu có buông lời xúc phạm đến các linh mục và các nhà sư với những câu  “Bà Nhu nổi tam bành mà mắng mấy ông cha là “các tướng cướp” vì sợ rằng thành phần giai cấp tăng lữ mới nầy , nếu có tham vọng quá đáng, sẽ lấn lướt quyền lực của chồng bà, cũng đang trong giai đoạn cần củng cố và phát triễn”….chỉ vì bà Nhu đã  không tiện nói tách bạch những ai mà thôi. Theo tôi, lúc bấy giờ, bà Nhu đã biết chắc những người nào lợi dụng lốt áo thầy tu, nhưng  không lo việc tu hành, lại ngấm ngầm dấn thân làm việc ngoài đời, lo làm chính trị hoặc kinh doanh dưới nhiều hình thức, vô tình làm cho chế độ mang nhiều tai tiếng….Bà nói quá tổng quát, kiểu quơ đũa cả nắm, nên bị nhiều người chỉ trích và bị Cộng Sản lợi dụng xuyên tạc … chứ phải hồi đó bà Nhu cứ nói thẳng ra Thượng Toạ Thích Trí Quang, hoặc  linh mục Phan Khắc Từ thì đúng quá rồi (Sau ngày 30-4-75, Thích Trí Quang và Phan Khắc Từ đã hiện nguyên hình là cán bộ Cộng Sản) hoặc nói thẳng linh mục Chân Tín (chủ trương tờ báo Đối Diện), hoặc linh mục Nguyễn Ngọc Lan tác giả quyển “Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá”, là những người ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản thì cũng đúng quá rồi, nhưng Bà quá dè dặt không nói thẳng ra (sau ngày 30-4-1975, hai ông Chân Tín và  Nguyễn Ngọc Lan đã thức tỉnh thì sự việc đã rồi, nước mất nhà tan, hai ông bị Cộng Sản bạc đãi, và dường như muốn chuộc lại phần nào lỗi lầm trong quá khứ, hai ông tiếp tục dấn thân tranh đấu tự do, dân chủ cho
Việt Nam và ông đã ngậm ngùi mang theo xuống suối vàng cách đây vài năm, nỗi tức tối vì đã chọn lầm hướng đi….
            Sau đây là phần góp nhặt trong dư luận qua sách báo về những sự khen chê cùng những lời phát biểu của bà Ngô Đình Nhu:
            Những Lời khen Bà Nhu:
            1. Trong quyển truyện “Ván Bài Lật Ngữa” của Nguyễn Trương Thiên Lý (tên thật là Trương Gia Triệu, bí danh Trần Bạch Đằng, một đảng viên Cộng Sản cao cấp, gốc người miền Tây), theo thân phụ, ông Trương Gia Mãng, lưu lạc lên Biên Hoà làm quản lý cho đồn điền Sở Quít của cố trưởng toà Trần Quang Nghiêm (thân phụ của Trần Quang Nghĩa, một  sĩ quan Không Quân Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà), tác giả Nguyễn Trương Thiên Lý đã có lời khen “Bà Nhu rất sắc sảo về chính trị”.
            2. Trong bài phỏng vấn ông Quách Tòng Đức (cựu Đổng Lý Văn Phòng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm) do ông Lâm Lễ Trinh thực hiện, có đoạn:
            “Ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới và vận động quốc hội ban hành Bộ Luật Gia Đình cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội….”
            “Ngoài chức vụ Dân Biểu Quốc hội, bà Nhu còn là Chủ Tịch Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu còn đóng vai trò Đệ Nhất Phu Nhân, vì Tổng Thống độc thân”
            3. Trong bài viết “Nhớ về Ông bà Ngô Đình Nhu”, Giáo Sư Nguyễn Văn Lục viết:
            “Bà thì vừa xinh, vừa trẻ đẹp, giữ gìn gia phong nề nếp. Thêm một lần nữa, tôi có một ấn tượng rất tốt đẹp về bà Nhu. Theo cha Phước khi đến thăm ông Nhu cùng với vài người khác ngồi ở phòng khách. Chủ khách đàm đạo trong khi bà Nhu không dám ngồi mà chỉ đứng chắp tay vào nhau để trước bụng. Đấy là cử chỉ của những gia đình có lễ giáo nghiêm ngặt. Tôi không nói thêm cho bà cũng không nói bớt cho. Nghe sao thì nói lại…Mà câu chuyện này tôi nghe khi còn ở ngoài Bắc trước khi có cuộc di cư. Cung cách ấy, cử chỉ như thế, giáo dục nghiêm ngặt, lễ giáo như thế. Sau này có điều gì đi nữa. Làm sao tôi có thể nghĩ xấu cho người phụ nữ này được. Ai nghĩ xấu thì đó là việc của họ. Còn tôi thì không. Ai ghét thì cứ việc. Còn tôi không là không. Nói xấu cho một người thì dễ. Kính trọng được một người thì mới là điều khó”.
            Vẫn trong bài viết của Giáo Sư Nguyễn Văn Lục:
“Theo lời kể của anh Trần Cao Lĩnh, ông đã hết lời đối với gia đình ông Diệm và đặc biệt là đối với bà Nhu. Bà Nhu là hạng người phụ nữ chẳng những có ăn học, có giáo dục. Cử chỉ phong cách quý phái, chừng mực lễ độ trong cư xử. Không phải loại người bờm xơm, cớt nhả, dâm đãng, mất nết như những lời bịa đặt của dư luận ác ý”.
“ Tại Huế, chỉ các đàn ông như các ông Diệm, ông Nhu, Giám Mục Ngô Đình Thục mới được phép ở nhà trên dùng cơm. Bà Nhu chẳng những sợ và khép nép với ông Diệm mà còn cả với Giám Mục Thục. Theo nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Bà Nhu không dám tự tiện vào phòng ông Diệm”.
 “Nhưng phỏng được bao nhiêu người có cơ hội tiếp xúc với bà Nhu, hiểu bà Nhu như ông Trần Cao Lĩnh để rồi kính trọng nhân cách con người bà? Phải thú thực không có bao nhiêu. Không mấy ai biết bà, nhưng ghét bà, khinh miệt bà thì gần như tất cả. Đàn ông ghét đã đành, đàn bà cũng ghét theo. Ghét ngay từ những năm1955 khi chưa có Quốc Hội, chưa có Hội Phụ Nữ Liên Đới hay Phụ Nữ Bán Quân sự. Dưới mắt đám đông, bà Nhu chỉ là một người phụ nữ “mất nết”, ăn mặc hở hang, lố lăng với chiếc áo dài kiểu mới. Phụ nữ chê bai tư cách của bà trong chiếc áo dài kiểu mới, nhưng không ai bảo ai, giới nữ sinh đến loại mệnh phụ phu nhân đều ăn mặc theo kiểu áo dài đó” 
“Đến độ vào năm 1955, ông Diệm chép miệng than thở: Tội nghiệp, Bà Nhu có làm gì đâu? Không làm cũng chết chỉ vì bà là một người đàn bà. Lại thường nói quá mạnh, cứng rắn trong quan điểm, lập trường, không nhường nhịn. Đàn ông nào nó chịu được”
            4. Tờ Nữu Ước Thời Báo viết:
            “Chính nhân dân Việt Nam phải tự giải quyết cuộc khủng hoảng tại nước họ. Vai trò của Hoa Kỳ là làm cho họ hiểu rằng cuộc viện trợ và ủng hộ của Hoa Kỳ là không thể kéo dài vô thời hạn. Chúng tôi hy vọng rằng “quan điểm ấy của người Mỹ” sẽ được trình bày rõ ràng với bà Nhu, và bà trở về Sài Gòn với ý niệm rõ ràng đó, thì cuộc viếng thăm của bà tại Hoa Kỳ không phải là không hữu ích”
            “Trong ba tuần lưu lại Hoa Kỳ, bà Ngô đình Nhu đã đi thăm 12 thành phố, tham gia 17 chương trình phát thanh, đọc 17 bài diễn thuyết, dự 15 đại tiệc ….và bà đã qua kỳ thi sơ khảo trước báo chí Hoa Kỳ và đã đậu ưu hạng. Hôm thứ Tư vừa qua, bà Ngô Đình Nhu tố cáo một số cơ quan thông tấn xã Hoa Kỳ tại Việt Nam đã liên can đến một vụ âm mưu lật đổ Chính Phủ Việt Nam”.
            Những Lời Chê Bà Nhu:
1. Có những kẻ xấu miệng lại cho rằng Bộ Luật Gia Đình nhằm mục tiêu riêng:
            Ngăn Luật Sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với bà Trần Lệ Chi, chị của bà Nhu. Theo tôi, đây chỉ là sự đoán mò với dụng ý xuyên tạc.
2. Trong bài “Nhớ Về Ông Bà Ngô Đình Nhu”, ông Nguyễn Văn Lục viết:
            “Tôi biết rõ. Vì chính tôi cũng chẳng thể nào quên được câu nói phạm thượng và xấc xược của bà khi Hoà Thượng Quảng Đức bị tự thiêu”
            “Đối với tôi, sau 1963, cái gì cũng trở thành đầu đề để đàm tiếu gia đình ông Nhu. Có cần nhắc lại những điều viết bất xứng về bà Nhu của những người như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đắc Xuân không?”
            Và cũng trong bài viết nầy, có đoạn “Suốt tuần qua báo chí Sài Gòn đăng nhiều phóng sự điều tra về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những hình ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Lệ Xuân….Các sĩ quan chỉ cho chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kính bốn mặt tường và họ giải thích rằng bà Trần Lệ Xuân lắp hệ thống kính như thế để mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong phòng nầy bà có thể ngắm được từ nhiều phía, nhưng kỳ thực đây là những lời hoàn toàn bịa đặt ….”
            Và ông Nguyên Văn Lục có ghi đoạn:
            “Theo ông Ngô Bảo (nhà thầu tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật bên Pháp) có trách nhiệm trang trí tư dinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho người viết hay: phòng ăn Dinh Gia Long được trang trí với tranh sơn mài Thành Lễ. Riêng phòng bà Nhu chỉ treo độc nhất một bức ảnh bán thân của bà Nhu, do hoạ sĩ Nguyễn Khoa Toàn vẽ (1). Bức tranh vẽ bà Nhu mặc áo cánh lụa, có hơi rõ nét nổi lên phần ngực phía trong làn áo. Chỉ có vậy. Người viết hỏi thêm, có thấy các bức tường chung quanh phòng bà Nhu đều có gương phản chiếu không? Ông Ngô Bảo cho biết: Làm gì có chuyện đó. Tường thường như mọi bức tường nhà khác”
            3. Cũng trong bài viết của Gáo Sư Nguyễn Văn Lục, ông trình bày:
            “Tôi đã nói chuyện với Sĩ Quan Tuỳ Viên Lê Châu Lộc, sau này là Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Ông Lộc với bản chất trung thực cho biết, ông biết gì nói nấy, có nói có, không nói không. Ông cho biết 06 năm làm sĩ quan tuỳ viên cho “ông cụ”, kề cận ông cụ ngày đêm. Trong 06 năm đó chỉ gặp bà Nhu trên dưới 10 lần, vì hai ông bà ở khu bên kia Dinh Tổng Thống, ít có tiếp xúc qua lại. Ông không mấy thích bà Nhu vì giọng nói của bà Nhu lai Bắc, lai Trung và tính nết tỏ ra cao ngạo. Nhưng đối với Tổng Thống Diệm thì bà sợ và cử chỉ e dè, khép nép. Không có cái cảnh muốn ra vào văn phòng ông Diệm lúc nào thì vào. Bà là người có phong cách, lịch sự và đàng hoàng”.
            4. Nhiều người chỉ trích bà ỷ lại, là phu nhân của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và thường thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân, nên chen quá sâu vào lãnh vực chính trị, để phải mang tiếng là “Sau rèm chấp chính”; nói bà có cử chỉ xem thường một số viên chức cao cấp và  tướng lãnh, nên gây cho họ bất mãn về cung cách ấy của bà, và  nhất là khi phát biểu, bà không uyển chuyển lựa lời, cứ nói thẳng thừng nên dễ gây mếch lòng nhiều người cho rằng bà nói năng hàm hồ và từ đó đâm ra thù ghét sau lưng bà….
          Những Lời Phát Biểu của bà Nhu:
          1. Trong bài viết về “Cuộc Đời Thanh Nga” đăng trên báo Người Việt Online có đoạn:
          “Bà nói, hiện nay nam nữ đã bình quyền, phụ nữ không còn phải chịu cảnh tối ngày chỉ lẩn quẩn trong gia đình, ẩn núp trong phòng the mà có thể tham gia bất cứ lãnh vực nào ngoài xã hội, kể cả chính trị mà hầu như xưa giờ chỉ dành cho nam nhân”.
           …Luật Gia Đình đã phổ biến nhưng còn rất nhiều phụ nữ vẫn chưa biết, nên vẫn còn thiệt thòi. Bà nhấn mạnh, điều khoản trong Luật Gia đình đã bỏ chế độ đa thê lỗi thời, có từ thời thực dân, phong kiến đã hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ.”
          2. Trong diễn văn ngày 03-8-63, khai mạc Khoá Phu Nữ Bán Quân Sự tại Toà Đô Chính Sài Gòn, với nội dung có lời lẽ vu khống, mạ lỵ và hăm doạ Phật Giáo, gián tiếp tố cáo chính quyền Mỹ đe doạ và bắt chẹt chính quyền Miền Nam và cố tình bịt miệng Bà. Bà kêu gọi hãy phớt lờ các cuộc đấu tranh của Phật giáo và chớ quan tâm đến vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức, vì theo Bà, đó là âm mưu của Việt Cộng  “nướng” sư ngày 11-6-63, nhằm vào việc quấy rối, khuynh đảo chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
          Bài diễn văn của bà Nhu đã gây ra một loạt phản ứng và tự thiêu ở các nơi khác..”
          Ngày 15-11-1963, bà và con gái đã rời khỏi Los Angeles sau khi tức tối tuyên bố: “Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
          3. Trong những ngày đi giải độc dư luận tại nước Mỹ bà Nhu tuyên bố “Nếu có một âm mưu lật đổ như thế, tôi có thể đoán chắc với quý vị là âm mưu ấy sẽ thất bại”.
          4. Trong bài viết về “Bà Ngô Đình Nhu” của tác giả Trương Phú Thứ có đoạn:
          “Nhiều người nói bà Nhu căm thù Mỹ lắm vì những sai lầm trong chính trị đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Ốc một quãng đường”
          Tin Đồn, Xuyên Tạc Ác Ý:
          1. Trong bài phỏng vấn nhà văn Vĩnh Phúc (VP) của nhà văn Nguyễn Văn Lục (NVL), đăng trên Đàn Chim Việt Online tháng 3-2006 có đoạn:
          “Chẳng hạn có đám cháy ở khu Khánh Hội, người ta đồn bà Nhu cho đốt để bán tôn của bà.  Cái gì cũng của bà Nhu, xe buýt bà Nhu, bột ngọt bà Nhu, hãng taxi bà Nhu, cây xăng bà Nhu, bất động sản khắp nơi của bà Nhu, chỗ nào cũng có người mập mờ nhận là Cần Lao…Thấy nó vô lý, nhưng làm sao kiểm chứng được. Tin đồn cứ thế loang ra”.
          NVL: Tôi có cảm tưởng ông có vẻ ghét, khinh thường bà Nhu về những ngôn ngữ, cữ chỉ xấc xược của bà ấy. Mặt khác tôi có cảm tưởng ông biện hộ, bênh vực bà ấy. Chẳng hạn trong sách ông cố tình chứng minh bà ấy không kinh tài, không tham nhũng, hối lộ? Điều đó có mâu thuẫn không?
          VP: Không có gì là mâu thuẫn cả. Ghét là một chuyện, ghét tính nết, không ưa. Nhưng cho phép tôi dùng lại chữ của ông đã dùng, tôi phải công bằng với bà ấy. Theo tôi, bà là nạn nhân bị bôi nhọ một cách thô bạo nhất thời ông Diệm.
          2. Trong bài viết của Luật sư Trương Phú Thứ có đoạn ghi:
          “Ngay cả một ‘sử gia chân chính” đã từng viết trong “chính sử” rằng Bà Nhu có mười bảy tỷ Mỹ kim, hai cái thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây ….”
          Ngày Tháng Lưu Vong
          Ngày 01-11-1963, Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đổ, bà Nhu và cô con gái Ngô Đình Lệ Thuỷ đang ở Mỹ và ngụ tại khách sạn Wilshire ở Beverly Hill, California, lo việc giải độc dư luận về tình hình chính trị và Phật Giáo tại Việt Nam…nhưng đến ngày 15-11-1963, bà rời nước Mỹ đi Roma (Italy), sau khi phát biểu:
“Tôi không thể cự ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
            Khoảng đầu thập niên 90, bà Trần Lệ Xuân đến sống tại vùng Riviera (Pháp) và sau đó không lâu, Bà Nhu dọn đến ở trong một căn phòng nhỏ trên tầng lầu thứ 11 của toà nhà chung cư, gần khu kỳ quan tháp Eiffel, thuộc Quận 15, thủ đô Paris (Pháp).
            Trên 40 năm sống lưu vong ở Âu Châu, ở Ý cũng như ở Pháp, Bà sống rất tằn tiện với nguồn thu nhập rất khiêm nhường từ một căn phòng cho mướn. Bà sống khép kín, cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật làm chính trị …cũng như hạn chế tiếp xúc với giới truyền thông báo chí. Trong bài viết của Luật Sư  Trương Phú Thứ, có đoạn ghi:
            “Bà có thói quen, mỗi sáng, bất kể thời tiết giá buốt cỡ nào, bà vẫn đến nhà thờ…. dâng thánh lễ, phụ giúp công việc trong nhà thờ và đãm trách dạy các lớp Kinh Thánh và thỉnh thoảng thích làm công việc từ thiện.  Bà hầu như không thiết tha gì đến cuộc đời….Bà luôn thản nhiên vui sống với nếp sống hiện tại, bà dường như đã xoá nhoà dĩ vãng và cũng chẳng nghĩ gì về tương lai, mọi thứ Bà phó thác trong vòng tay của Chúa”.
            Thời gian sau nầy, kể từ ngày ông Ngô Đình Luyện qua đời, bà Nhu thay bà Luyện, tổ chức lễ cầu hồn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông cô vấn Ngô Đình Nhu hằng năm tại Paris, Pháp.
            Năm 2007, Bà đã trên tám mươi tuổi, dấu vết già nua đã hiện trên gương mặt, nhưng sức khoẻ còn khả quan, tươi tỉnh, dáng vẻ còn linh hoạt, nhưng chỉ 2 năm sau đó, ở tuổi 85 (2009), sức khoẻ của bà đột nhiên giảm sút nhanh và bị đau chân, bà không đi đến nhà thờ nữa, chỉ ở nhà cầu kinh, nên hai người con của Bà (Ngô Đình Trác và Ngô Đình Lệ Quyên) rước Bà qua Ý Đại Lợi sống chung, để tiện việc chăm sóc cho Bà…
            Bà Trần Lệ Xuân đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã, lúc 2 giờ sáng (giờ La Mã-Ý Đại Lợi), vào ngày Lễ Phục Sinh, Chủ Nhật 24-4-2011. Bà thanh thản ra đi trong sự quay quần đông đủ các con và các cháu nội ngoại…Hưởng thượng thọ 87 tuổi.
            Từ sáng ngày 24-4-2011, tôi ghi nhận có rất nhiều điện thư ngập tràn trên mạng lưới Internet, nhiều người trong cũng như ngoài nước, đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Maria Trần Lệ Xuân với những lời lẽ trang trọng mến thương và chân thành cầu nguyện hương hồn của Bà sớm về an nghĩ nơi nước Chúa.
            Chuyện “Hồi Ký Bà Nhu”
            Trước đây , có tin đồn bà Nhu đang viết Hồi Ký và sẽ cho xuất bản vào một ngày rất gần,  nên có rất nhiều người hiếu kỳ mong được sớm đọc quyển Hồi Ký nầy để tìm hiểu về chuyện thâm cung bí sử nền Đệ Nhất Cộng Hoà và những cải chính về những tin đồn liên quan đến cá nhân của Bà, nhưng  mãi cho đến khi bà Nhu từ giã cõi đời, quyển hồi ký vẫn chưa thành hình và có tin từ trong gia đình, bà Nhu không viết hồi ký về cuộc đời sóng gió của bà mà chỉ viết  những cảm nghiệm của Bà về cuộc đời đạo hạnh và Thiên Chúa…. Tập sách nầy được các con bà Nhu trao cho ông Trương Phú Thứ, để dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt và sẽ cho xuất bản vào năm 2012. Quyển sách nầy không đề cập đến những hận thù, kể cả nhưng người đã làm đảo chánh, giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chồng của bà (ông Ngô Đình Nhu) và chắc chắn có đoạn bà tuyên bố sẵn sàng tha thứ tất cả “Anh Thứ à, những chuyện người ta nói xấu về tôi thì tôi không biết. Nhưng nếu họ có nói xấu tôi, thì tôi cũng tha thứ hết.” Đó là lời của bà Ngô Ðình Nhu đã nói với ông Trương Phú Thứ.
Báo Chí  khắp nơi  bình phẩm sau khi bà Trần Lệ Xuân qua đời
1- Lời của Nguyễn Đình Hoài Việt.
            “Bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân, là người đã có công không ít trong công cuộc giải phóng người phụ nữ Việt Nam khỏi đầu óc phong kiến, chế độ quân chủ và chủ thuyết Cộng Sản
đã chà đạp nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam xuống tận bùn đen. Bà Ngô Đình Nhu là người phụ nữ đầu tiên đi tiền phong phất cao ngọn cờ “Phụ Nữ Liên Đới” giải phóng người phụ nữ Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ phong kiến chồng chúa vợ tôi. Chính nhờ bà Ngô Đình Nhu mà người phụ nữ Việt Nam mới được bình đẳng với nam giới, mới được có nhiều cơ hội dấn thân đóng góp tài đức công khai trên chính trường Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua”.
2. Ông Bùi Văn Giải, Chủ Nhiệm Bản Tin Về Bên Mẹ La Vang, số 160 tháng 6-2011, đã viết:“….Bà Ngô Đình Nhu, một nữ nhân trí thức, không ngu dốt như bọn nhà quê Thị Bình, Thị Định. Bà là một người vì chính nghĩa Quốc Gia, đứng thẳng trước bọn tiểu nhân hèn hạ, (ngày đó nhà văn Thương Sinh gọi bọn tiểu nhân này là bọn Cỏ Đuôi Chó), bọn Cỏ đuôi Chó này bám đít mấy ông linh mục xu thời và thầy chùa quốc doanh. Thời hỗn loạn đã qua, trắng đen, phải trái, cả thiên hạ biết hết rồi, chúng ta, những người lương hảo, cách riêng, những tín hữu, hãy thinh lặng cúi đầu, xin Thượng Đế đoái thương người phụ nữ Việt Nam can đảm này, xin Thiên Chúa ban cho linh hồn Bà an hưởng trường sinh với Ngài nơi cõi Vĩnh Hằng”.
3. Một người có địa chỉ Email Lmymy2000@…. sau khi nghe và đọc bài Phỏng Vấn Bà Ngô Đình Nhu (Anh Ngữ, có lẽ là lần duy nhất, sau 1963), đã viết: “Nghe cuộc phỏng vấn đặc biệt của bà Ngô Đình Nhu. Hình như sau khi chồng bị giết, bà chỉ cho phép được phỏng vấn một lần duy nhất này. Bà nói thẳng vào mặt mấy tên chính khách Mỹ đã âm mưu giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Lập luận của bà vẫn sắc sảo, lời nói của bà vẫn đanh thép như thuở nào. Bà xứng đáng là một nữ lưu, cả thế giới phải nể phục. Sự khinh bỉ bọn chính trị ma đầu vẫn nằm trong ánh mắt và lời nói của bà. Tiếc thay, vận trời không đi theo ý muốn để giờ này VN vẫn lụn bại, vẫn đau khổ vì áp bức, bất công”. 
            4. TTLan Paris, viết ngày 26-4-2011: 
            “Sáng Chủ Nhật Lễ Phục Sinh, bà Ngô Đình Nhu đã lìa đời. Bà Maria Trần Lệ Xuân, một tín đồ công giáo, ra đi ngày lễ này thì quả là được ơn phúc Phục Sinh, cầu nguyện cho hương hồn bà về nước Chúa an nghỉ. Tôi, hậu sinh và con cái của ‘chế độ cũ’ thì có thể nói là thiên vị. Thôi cũng chịu. Với tôi, bà Nhu là một Đệ Nhất Phu Nhân sáng giá nhất từ trước tới nay, một phụ nữ Việt tiêu biểu 3 miền (gốc gác bên Cha người Nam, bên mẹ người Huế, sinh ra và ăn học tại Hà nội), bà lại là một người thông minh, hoạt bát, đầy nhiệt huyết, lý chí để chỉnh đốn xã hội miền Nam bấy giờ. Nhưng sự cấp tiến của bà không thức thời nên bị hiểu nhầm bởi nhiều người và bà cũng bị nhiều người lạm dụng. Chỉ nên nhớ đến bà như một người đã trải qua một cuộc đời quá sôi nổi, gian truân, mà bà vẫn giữ được tư cách, phẩm giá của bà và gia đình bà. Xin một phút hoài niệm đến linh hồn người đã ra đi…”
*   *   *
Trong bài viết nầy, tôi xin phép không đề cập đến đời sống tình cảm riêng tư của bà Trần Lệ Xuân, vì tôi không có những tài liệu xác thật. Tôi không thể dựa vào tin đồn ác ý hoặc  mang tính cách lăng mạ vì ganh tị địa vị hoặc nhằm mục đích chính trị mà trình bày một cách hàm hồ. Trong thị trường sách báo trong nước, hiện nay có vài quyển tiểu thuyết viết về bà Trần Lệ Xuân. Các tác giả dựa vào các tin đồn và thêm thắt quá nhiều hư cấu, nhất là những chuyện bên trong bức màn the của bà Trần Lệ Xuân, rồi kết luận rằng bà Nhu là một phụ nữ đa tình, lãng mạn và không chính chuyên, đôi khi dùng cả cái ngàn vàng của người phụ nữ trong mưu cầu chính trị để củng cố chế độ nhà Ngô. Ngay cả sau khi nghe tin bà Nhu qua đời, nhiều tờ báo trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam viết những bài mang tính cách vạch lá tìm sâu, hài tội hơn là khách quan nhận xét, hoặc ngõ lời phân ưu hoặc tỏ chút tình cảm “Nghĩa tử nghĩa tận” đối với một người phụ nữ đáng thương hơn đáng trách.Viết về nhân vật lịch sử, phải viết bằng tâm tình trong sáng và khách quan, không ẩn tàng màu sắc chính trị, mới mong tránh được việc nhận xét sai lầm đáng tiếc. Thật không có gì nhục nhã cho bằng những kẻ uốn cong ngòi bút, cố tình bóp méo sự thật, với giọng điệu tuyên truyền cố hữu nhằm hạ thấp giá trị của một người đã vĩnh viễn ra đi.
Tôi căn cứ vào phim ảnh và tài liệu báo chí viết về bà Ngô Đình Nhu trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà miền Nam Việt Nam, cùng những ngày tháng lưu vong của Bà tại Pháp và Ý Đại Lợi, mà viết bài viết nầy.
Tôi nhận thấy bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ Việt Nam tuyệt vời, có một không hai thời Đệ Nhất Cộng Hoà, dám dấn thân hoạt động chính trị, phục vụ cho quê hương và dân tộc.
            Bà là một phụ nữ khôn ngoan, một mẫu người tính tình cương trực, lịch lãm, dám nói dám làm, rất nhạy bén với thời cuộc, hiểu nhiều âm mưu thâm độc của Cộng Sản và quyết tâm bảo vệ nền Đệ Nhất Cộng Hoà với kỳ vọng phục vụ nhân dân miền Nam sống trong tự do no ấm. Khi chồng bà, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị nền Đệ Nhất Cộng Hoà bị sát hại, Bà mới 39 tuổi, nhan sắc còn mặn mà, nhưng bà quyết ở vậy, sống tằn tiện, nuôi các con của bà ăn học thành tài, có địa vị xã hội cao ở Ý Đại Lợi và Bỉ Quốc.
            Trong những ngày tháng lưu vong, Bà ý thức “thời của bà đã qua”, Bà luôn an phận một goá phụ, cắt đứt mọi liên lạc với những người hoạt động chính trị và giới hạn tối đa việc tiếp xúc với báo chí nên Bà không bị một điều tiếng gì trong lãnh vực tình cảm cũng như trong lãnh vực chính trị.
            Bà không cần cải chính những tin đồn về việc Bà mang tiền (17 tỷ đô la) của chế độ ra ngoại quốc hoặc những lời bịa đặt bêu xấu Bà ….Bà giữ im lặng và sống khiêm nhường cho đến lúc Bà qua đời. Thái độ và cuộc sống của Bà đã chứng minh đâu là sự thật.
            Bà đã quyết không trở về Việt Nam, mặc dù Nhà Nước Cộng Sản có lần đánh tiếng “Nếu Bà muồn về thì cứ về thôi”, nhưng Bà tuyệt nhiên không về để đau lòng chứng kiến quê hương Việt Nam bị nhuộm đỏ và cảnh dân chúng cơ cực lầm than…..Thái độ của Bà hơn hẳn nhiều người, trong số có ông tướng Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam với cầu mong danh vọng hảo huyền để phải mang điều nhục nhã, hoặc một số người khác cam tâm bán linh hồn cho quỷ đỏ….đã bị hầu hết người Việt yêu chuộng Tự Do trong và ngoài nước chê cười, khinh bỉ.
            Tôi rất ngưỡng mộ bà Nhu dùng hai chữ “Nướng Sư” trong trường hợp Thượng Toạ Thích Quảng Đức bị “bức tử” qua dàn dựng “tự thiêu”. Từ ngữ “nướng sư” rất xác nghĩa nhưng nhiều người đã không chịu hiểu như vậy mà ngược lại còn cố tình xuyên tạc, cho rằng bà Nhu “hổn láo”, “xấc xược” đối với một vị chân tu. Thật đáng tiếc cho những người kém hiểu biết về Cộng Sản mà cứ vỗ ngực xưng tên….
            Bà Ngô Đình Nhu bị các đảng phái đối lập và thành phần hoạt động Cộng Sản ngấm ngầm giựt dây, chỉ trích là không tế nhị trong khi phát biểu trước công chúng, khiến cho nhiều người phật ý, gây bất lợi trong môi trường chính trị và ngoại giao. Đó chắng qua là bản tánh bộc trực của bà Nhu; nếu bà Nhu thận trọng hơn, khéo léo hơn về điểm nầy, thì chắc chắn giá trị cá nhân của Bà sẽ được nâng cao và được nhiều người mến mộ hơn nữa.
            Nói chung, ở đời ai cũng có khuyết điểm, nhân vô thập toàn, nhưng nếu đem khuyết điểm vừa kể so với tinh thần phục vụ, cùng những việc làm thiết thực của bà Nhu dành cho xã hội miền Nam thời Đệ Nhất Cộng Hoà, thì bà Ngô Đình Nhu quả một người phụ nữ đáng được nhân dân Việt Nam tuyên dương hơn là chê trách. Bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ đoan trang, tiết hạnh, giàu cương nghị. Bà chấp nhận cảnh goá bụa trong cuộc sống tha hương, tằn tiện nuôi các con của bà ăn học thành tài; ngoài ra, bà còn có lòng vị tha, xoá bỏ tất cả hận thù đối với những người tham gia đảo chánh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là anh chồng của bà và chồng bà, ông Ngô Đình Nhu. Bà tin tưởng mọi việc xảy ra trong cuộc đời đều do bàn tay của Thiên Chúa sắp đặt, nên Bà luôn thanh thản từng phút giây trong cuộc sống. Việc làm của bà Nhu đã khiến tôi vô cùng cảm phục.
Bài viết nầy coi như là nén hương lòng thắp muộn của một người dân xứ Bưởi kính dâng bà Ngô Đình Nhu, nhủ danh Trần Lệ Xuân, cháu cố của ông Trần Văn Tứ, cháu nội của ông Trần Văn Thông, ….nguyên quán tỉnh Biên Hoà.
Nguyễn Kim Lộc
Nguồn: Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr> posted on VN-Online
Date: 2012/1/24

Sống Thanh Thản Giữa Đời

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Sống Khỏe

≈ Leave a comment

Tags

thanh thản

Sống Thanh Thản giữa Đời

Hình minh họa

Một người không tốt với bạn , bạn không nên quá bận tâm .

Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ cha mẹ.

Còn với những người tốt với bạn, bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó.

Nhưng bạn cũng cần phải có chút đề phòng

bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng của họ .

Hãy nhớ, họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.

Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn.

Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên,

hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.

Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.

Người ta tham vọng sống lâu nhưng bạn chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày.

Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.

Trên đời này không có gì là nhất cả,

tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn,

nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi.

Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi.

Hãy để thời gian rửa sạch vết thương,

để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất.

Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo,

cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín,

nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.

Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người,

nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm ngược lại.

Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn.

Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau,

cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người,

nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ,

hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.

Nguồn: Abraham Do <abrahamdo@yahoo.com> posted on VN-Online
Date: 2012/4/14

← Older posts
Newer posts →

Categories

  • Ẩm Thực
  • Chính Trị
  • Gia Đình
  • Giáo Dục
  • Giáo Huấn GHCG
  • Giải Trí
  • Hôn Nhân
  • HBT/TNTTW
  • Hiểu và Sống Tin Mừng
  • Kỹ Thuật
  • Lộc Vũ
  • Linh Tinh
  • Nhạc
  • PT Cursillo-BTU
  • QGHC
  • Sống Khỏe
  • Suy Niệm
  • Tâm Linh
  • Tôn Giáo
  • Thần Học
  • Thơ
  • Tranh Ảnh
  • Triết Lý
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • Uncategorized
  • Văn Hóa
  • Điều Cần Biết
  • ĐS16

Blog at WordPress.com.

  • Subscribe Subscribed
    • locnvu.blog
    • Already have a WordPress.com account? Log in now.
    • locnvu.blog
    • Subscribe Subscribed
    • Sign up
    • Log in
    • Report this content
    • View site in Reader
    • Manage subscriptions
    • Collapse this bar