Một trang Web đầy đủ và sưu tầm rất công phu
13 Friday Nov 2015
Posted in Giải Trí
13 Friday Nov 2015
Posted in Giải Trí
13 Friday Nov 2015
Posted in Tôn Giáo
“ĐẠO TÂM” HAY “ĐẠO CÔNG GIÁO TÒAN CẦU”
Có một thứ đạo xuất hiện ngay từ thuở tạo thiên lập địa, vào lúc thủy tổ lòai người A-đam và E-và hiện diện nơi vườn địa đàng: đó là “đạo tâm” hay “đạo làm người”. Trong muôn lòai thụ tạo, duy chỉ con người mới có “tâm” để nhận biết “đạo”, là thiên luật chi phối và vận hành vạn vật. Nói theo ngôn ngữ của Lão Tử thì “đạo” là thực thể diệu huyền khởi nguyên vạn vật [i]; nói theo Đức Khổng Tử thì “mọi người cùng trở về một tụ điểm mà bằng những con đường khác nhau, trăm điều suy nghĩ nhưng cùng đi đến chỗ nhất trí.” [ii] Nói theo cổ nhân thì “một gốc sinh ra muôn vàn thứ, muôn vàn thứ qui về một gốc” [iii]; còn nói theo thánh sử Gio-an thì “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời … Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” [iv] Và nói theo chữ nghĩa của Aristote thì “đạo” là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân.” [v]. Riêng lối giải thích thần học cho rằng “không có ơn cứu độ ở bên ngòai giáo hội công giáo” thì nay đã trở nên lỗi thời lạc điệu bởi vì hiện nay trên thế giới có gần 6 tỉ con người, thì không lẽ Thiên Chúa chỉ yêu thương cứu độ 1 tỉ người theo đạo Thiên Chúa thôi sao? [vi] Bài viết này thử nhìn vào tôn giáo, qua lăng kính của một tín đồ công giáo, để mong nhận ra “đạo tâm” là đạo nền tảng nơi con người (đạo làm người), một thứ đạo phổ quát vượt lên trên hết mọi thứ đạo (công giáo tòan cầu), với ước mong tìm về “hiệp nhất” theo ước nguyện của Đức Ki-tô. [vii]
TÔN GIÁO LÀ MỘT NHU CẦU
Con người không thể sống mà không có tôn giáo như lời Thánh Âu Tinh: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa và lòng chúng con còn khắc khỏai mãi cho tới khi được an nghỉ trong Chúa.”[viii]. Thời xưa cho đến thời nay, dù ở vào bất kì không gian hay thời gian nào, con người luôn: “Tìm kiếm chân lí, khát khao sự thiện, thèm muốn tự do, ngưỡng mộ cái đẹp, làm theo tiếng nói lương tâm.” [ix]. Nỗi băn khoăn về nguồn gốc, về thiên nhiên, về hạnh phúc và khổ đau, về sinh lão bệnh tử, về thiện ác tốt xấu, về mục đích cuộc đời, về tương lai hậu vận, luôn gắn liền với thân phận làm người. Bao lâu con người còn băn khoăn thắc mắc, thì bấy lâu con người còn cần đến tôn giáo. Không có một chế độ chính trị nào, không có một tổ chức trần gian nào, cho dù cung ứng mọi nhu cầu cho thân xác con người được ấm no đầy đủ, thì những thực tại trần thế ấy vẫn không thể thỏa mãn nỗi khát vọng tâm linh nơi con người. Lịch sử chứng minh đế quốc La Mã đã từng chủ trương tiêu diệt Ki-tô giáo[x] , cũng như đã từng có những chế độ chính trị độc tài muốn xóa bỏ tôn giáo, nhưng đến nay tôn giáo vẫn tồn tại, còn đế quốc Rô-ma thì đã biến mất và các chế độ chủ trương vô thần gần như đã bị tận diệt vì không đủ sức thuyết phục nhân tâm. Còn nữa, cho dù tôn giáo, bao gồm hàng ngũ người lãnh đạo và các tín đồ, có sa đọa đình đốn đến thế nào đi nữa, thì nhu cầu tôn giáo luôn vẫn còn, bởi khát vọng tâm linh vẫn luôn thôi thúc lòng người.
TÔN GIÁO LÀ GÌ ?
Để có thể hiểu về tôn giáo, xin nêu ra 3 định nghĩa từ 3 nguồn khác nhau. Tôn giáo được định nghĩa là:
Cả 3 định nghĩa nêu trên có thể hiểu được như sau: Tôn giáo chia ra làm 2 phần: hình thức thờ phượng bên ngòai là lớp vỏ, và tác động thờ phượng bên trong là tâm linh. Lớp vỏ bên ngòai là cơ cấu tổ chức, cơ sở, phẩm trật, thánh kinh, truyền thống, giáo lí, tín điều, bí tích, giáo luật, văn kiện, học thuyết v…v … Và phần tâm linh sâu thẳm là phần“giống hình ảnh Thiên Chúa”[xiv]. Nói đến tâm linh là nói đến khả năng yêu thương chỉ có nơi con người. Có thể sánh ví lớp vỏ bên ngòai của tôn giáo là hiện tượng, tâm linh là bản chất; lớp vỏ bên ngòai là phương tiện, tâm linh là mục tiêu; lớp vỏ bên ngòai là hình thức, tâm linh là nội dung. Như thế mới hiểu được tại sao Thiên Chúa là “Thần khí”, và Thiên Chúa cũng là “ yêu thương”. Thần khí và yêu thương chính là “đạo tâm”, bởi vì “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của thày ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” [xv]
“ĐẠO TÂM” TRONG TIN MỪNG
Đức Giê-su mặc dù mang thân phận Thiên Chúa, nhưng khiêm hạ đến với trần gian như một người phàm, đem “đạo tâm” đến để kiện tòan cuộc sống con người: “ Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. Các người thờ đấng các người không biết, còn chúng tôi thờ đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Nhưng giờ đã đến- và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” [xvi] Vấn đề đặt ra là: nếu Đức Giê-su hôm qua, hôm nay và mãi mãi luônvẫn là hiện tại và là một, thì khi nói với người thời nay, chắc chắn các cụm từ“trên núi này” sẽ được thay thế bằng cụm từ “nơi thánh đường này”; “Giê-ru-sa-lem” thay bằng “công giáo Rô-ma”; và “thần khí” bằng “tâm linh” . Như thế, thờ phượng đích thực theo Đức Giê-su phải là thờ phượng trong tâm linh, là “đạo tâm”, theo giảng dạy của đấng “là đường, là sự thật, là sự sống”[xvii]
Các dẫn chứng dưới đây giải thích thêm cho lập luận vừa kể:
– Chúa Giê-su kịch liệt lên án tập đòan kinh sư và biệt phái quen thói giữ đạo hình thức (giả hình), nấp bóng tôn giáo để được vinh thân phì da với nhiều đặc quyền đặc lợi.[xviii]
– Đức Giê-su truyền giảng “đạo tâm” nơi “Bài Giảng Tám Phúc” [xix].
– Ngày chung thẩm chính là ngày phán xét về “đạo tâm”: ”Xưa ta đói các người không cho ăn … Ta mình trần các người không cho mặc… Ta ngồi tù các người không thăm viếng.”[xx]
– Đức Giê-su không dẹp bỏ các giá trị tôn giáo theo truyền thống của dân tộc Do Thái, nhưng ngài muốn tôn giáo phải hướng về tình thương là “đạo tâm” hay “đạo làm người” . Vì phụ mẫu Đức Giê-su là người Do Thái, nên việc tuân phục các truyền thống đạo Do Thái là lẽ đương nhiên: Đức Giê-su chịu cắt bì [xxi]; bà Ma-ri-a và ông Giu-se dâng hiến trẻ Giê-su nơi đền thờ theo luật Môi-sen [xxii] ; hàng năm Người theo cha mẹ trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua; và hằng vâng phục phụ mẫu khi trở về Na-da-rét [xxiii].
– “Đạo tâm” hay “đạo làm người” hòa lẫn trong thiên nhiên, tự do không lệ thuộc, cùng phù hợp trình độ và hòan cảnh của hết mọi người “ Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi thần khí mà sinh ra thì cũng vậy.” [xxiv] Cũng như: “ Không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần khí sinh ra là Thần khí.” [xxv]. Như vậy, cần phải có cái nhìn như thế nào về tất cả các tôn giáo hiện diện trên tòan cầu hiện nay ?
TÔN GIÁO LÀ PHƯƠNG TIỆN
Tôn giáo chỉ là phương tiện dẫn đưa con người đến Thiên Chúa. Tất cả mọi tôn giáo đều cần thiết bởi vì mỗi người, mỗi dân tộc, có trình độ hiểu biết, điều kiện, hòan cảnh và môi trường khác nhau, nên có nhu cầu và cần sự đáp ứng khác nhau. Các tôn giáo tồn tại được theo dòng thời gian là vì đáp ứng được những nhu cầu khác nhau đó. Thế giới hiện nay đang có nhiều tôn giáo và giáo phái. Điều này phản ảnh rõ nét nhân lọai có nhiều nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn như ở Nhật chính phủ cho phép 180,000 giáo phái họat động, và ở Hoa Kì có lẽ có tới cả hàng ngàn giáo hội hay giáo phái khác nhau. Như thế, ước mơ về một tôn giáo hiệp nhất “ một đàn chiên theo một chủ chiên” là chuyện không tưởng trên cõi đời này! “Đạo tâm” có thể giúp con người đi đến “hiệp nhất” mà không khai trừ hay lọai bỏ tôn giáo hay giáo phái mỗi người đang tham gia. “Đạo tâm” trở thành “công giáo tòan cầu”cho mọi người, vì đã là người thì ai nấy đều phải vâng theo luật thiên nhiên (thiên luật), là phải sống đạo làm người, cho dù người ấy có ý thức hay không, muốn hay không muốn. Chính vì thế, tất cả mọi tổ chức tôn giáo đều là phương tiện bên ngòai, giúp cho con người thể hiện “đạo tâm”bên trong. Các tôn giáo có thể ví như các tấm bản đồ giúp cho việc tìm đến mục tiêu. Có những bản đồ hòan chỉnh hướng dẫn đầy đủ mọi chi tiết, thì cũng có những bản đồ đơn sơ khiếm khuyết. Tấm bản đồ mỗi người có trong tay càng rõ ràng tỉ mỉ, càng chi tiết và trong sáng nhiều chừng nào, thì sẽ giúp người coi bản đồ không bị lầm lạc, mau đi đến đích, cùng tiết kiệm được năng lực, thời giờ và tiền của. Nhiệm vụ của mỗi người trên trần gian là phải học cho tốt và cho thuộc bài học của riêng mình, vì “phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn.”[xxvi] Chính vì thế mỗi người theo tiếng lương tâm, phải nỗ lực tìm cho được tấm bản đồ tốt nhất, chính xác nhất, theo trình độ hiểu biết và hòan cảnh của riêng mình, để xử dụng vào mục đích: tìm về nhà cha [xxvii] . Khi chưa biết đường đi nước bước và chưa biết đích đến, con người cần đến bản đồ là phương tiện đi đường để tìm ra mục tiêu. Nhưng khi đã “giác ngộ” và tường tận đường đi đích đến rồi, thì tấm bản đồ không còn cần thiết nữa theo lời Thánh Phao-lô: “Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hòan hảo đến thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.”[xxviii] Tâm linh hay “đạo tâm” vừa là gốc và cũng vừa là ngọn, vừa là khởi thủy và cũng vừa là đích đến. “Đạo tâm” là đền thờ của Thiên Chúa, vì ai sống trong yêu thương là sống trong Chúa.“Đạo tâm” không lệ thuộc hình thức tổ chức, cơ cấu, tín điều, luật lệ hay qui tắc do con người đặt ra. “Đạo tâm” là đạo hòan tòan bình đẳng, không bảng hiệu khoa trương, không mặc cảm tự tôn, không cường điệu tự phong mình là nhất, không hình thức lễ nghi, không khai trừ lọai bỏ bất cứ một ai, dù là người đồng đạo hay khác đạo, có tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng. “Đạo tâm” là chính lương tâm mỗi người: có “luật nhân quả” là tiêu chuẩn được dùng để phán xét, có “bí tích yêu thương” là dấu chỉ quyết định tương lai hậu vận đời người, vì “tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng trước tòa Đức Ki-tô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác.” [xxix]
“ĐẠO TÂM” LÀ SỰ “KẾT HIỆP MỘT CÁCH NÀO ĐÓ VỚI ĐỨC KI-TÔ”
Công đồng Vatican II đã nhận định: “nhờ việc nhập thể, con Thiên Chúa đã kết hiệp một cách nào đó với mọi người.”[xxx] . Thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Con Người” (Redemptoris Hominis) cũng quả quyết: “Mọi người không trừ một ai- đã được Đức Ki-tô cứu chuộc, bởi vì Đức Ki-tô kết hiệp một cách nào đó với con người, với từng người một không trừ ai, ngay cả khi họ không ý thức” [xxxi]. Sách Giáo Lí Công Giáo cũng dạy : Lãnh nhận bí tích rửa tội có thể hiểu bằng 3 cách: bằng nước (được rửa tội khi gia nhập đạo), bằng máu (chịu chết vì đức tin), bằng lửa (lòng sám hối, ước ao cùng sống bác ái): ” Tất cả những người không biết gì về Phúc Âm Chúa Ki-tô và Giáo hội của Ngài, nhưng tìm kiếm chân lí và thực hiện thánh ý Chúa như họ hiểu biết, thì có thể được ơn cứu độ.” [xxxii] . Sách GLCG còn nhấn mạnh: “Thiên Chúa đã gắn chặt ơn cứu độ vào phép rửa tội, nhưng ngài không bị trói buộc vào bí tích của mình.”[xxxiii]
“Kết hiệp một cách nào đó” với Đức Ki-tô phải được hiểu là lối sống“đạo tâm”, là sống yêu thương bác ái, là sống đạo làm người. Điều thật sự quan trọng không phải là tôn giáo, không phải là bí tích, mà là yêu thương. “Đạo tâm” là tôn giáo tốt nhất, dễ hiểu nhất, tự do nhất, dễ được mọi người chấp nhận nhất, vì “đạo tâm”dễ đưa mọi người đến gần Thiên Chúa mà không bị lệ thuộc bởi những gì do con người lập ra. Ở đâu có yêu thương thì ở đấy có “đạo tâm”, ở đâu có “đạo tâm” thì ở đấy có Thiên Chúa. Con người sống là sống với tha nhân, nên những việc đạo đức người công giáo quen làm như đi nhà thờ, gia nhập đòan thể, tham gia sinh họat xứ đạo, lãnh nhận các phép bí tích, là những việc nên làm, vì đó là cơ hội thể hiện “đạo tâm”, làm giàu tương quan tình người, và là môi trường tốt giúp cho “đạo tâm” được thực hiện cùng tha nhân, với tha nhân, và cho tha nhân. Tuy nhiên khi lồng sinh họat tôn giáo vào các mục tiêu thương mại như “xin khấn hay xin lễ đời đời”, cũng như lời phát biểu cho rằng “việc lãnh nhận đầy đủ các phép bí tích trước khi qua đời là dấu chỉ được ơn cứu rỗi” tại các tang lễ của người công giáo Việt Nam [xxxiv], thì cần phải được thận trọng xét lại, vì lối phát biểu ấy thiếu khôn ngoan và tế nhị, lỗi đức ái đối với cả người công giáo lẫn người ngòai công giáo, dễ khiến người tham dự tang lễ hiểu rằng những ai không được gặp linh mục trước khi qua đời, hay không được chịu các phép bí tích của đạo công giáo, là những kẻ vô phước không nhận được ơn cứu rỗi! Được cứu rỗi hay không là tùy thuộc vào“ yêu thương”, tùy thuộc vào thứ “tình cho không biếu không”, biết chấp nhận thua thiệt trong thân phận làm người để tìm đến mục tiêu cao đẹp hơn, như Đức Giê-su đã chịu nạn chịu chết treo trên thập tự để chuộc tội lòai người. Đời sống cùng lời giảng dạy của Đức Giê-su thể hiện rõ một thứ “tình cho không biếu không” hòan hảo nhất, và đấy là cách thế biểu lộ nhân tính cao cả nhất của Đức Giê-su trong suốt cuộc đời 33 năm dương thế. Chính vì vậy, khi người công giáo tuyên bố dùng phương tiện làm mục đích, lấy giáo hội hay các bí tích làm điều kiện để được ơn cứu rỗi, thì hiển nhiên họ đã đi ngược lại giáo lí công giáo, ngược lại tuyên ngôn của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, ngược lại giáo huấn của công đồng Vatcan II, và nhất là ngược lại lời giảng dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là đấng yêu thương vô cùng, thánh thiện vô cùng, công bằng vô cùng, khôn ngoan vô cùng … thì không lẽ “Đấng Vô Cùng” ấy chỉ thương riêng một thiểu số người công giáo trên cõi đời này hay sao? Kết hiệp một cách nào đó với Đức Ki-tô chính là sống “đạo tâm”, là “đạo yêu thương”, và là chìa khóa để vào nước trời.
THAY LỜI KẾT
Văn hào Pháp Antoine de St. Exupery có nói: “Nếu bạn muốn xây dựng một con tàu, thì chẳng thà là bạn dạy thiên hạ ước ao khỏang trời vô biên bất tận ngòai biển khơi, hơn là lùa người đi tìm ván đóng, cũng như chỉ định cho họ công việc phải làm”. Xây dựng con tàu giáo hội là việc làm của tất cả mọi tín đồ, bất kể là tu sĩ hay giáo dân, vì tín đồ là giáo hội [xxxv]. Tôi yêu mến Đức Giê-su vì Người thật là một nhân vật kì diệu trong lịch sử lòai người, chẳng vậy mà đã có biết bao nhiêu con người đã –đang- và sẽ tìm thấy ý nghĩa chân thực cho đời mình, bằng cách sống theo tấm gương tuyệt vời của Đức Giê-su! Đời dương thế của Đức Giê-su là những chuỗi ngày ẩn dật suốt trong 30 năm. Vào 3 năm giảng dạy cuối đời, Người không hề muốn nắm giữ một vai trò nào trong các hội đường Do Thái hay tại thành thánh Giê-ru-sa-lem. Đạo Người giảng dạy là đạo tình thương, và các phép lạ Người làm cũng làm vì yêu thương, muốn đứng về phía người nghèo, những kẻ thấp cổ bé miệng, những người bị hất hủi, những kẻ tật nguyền linh hồn hay thân xác, những người cô thân cô thế, những kẻ bị xã hội lòai người lánh xa ruồng bỏ. Đức Giê-su không khiếp sợ cường quyền, không bị mê hoặc trước bả vinh hoa phú quí trần gian. Người lên án thậm tệ tập đòan giáo sĩ và kinh sư, những kẻ sống giả hình ăn trên ngồi trước chỉ nói mà không làm, chất gánh nặng lên vai người khác, còn bản thân họ và những người thuộc giai cấp như họ thì ăn trắng mặc trơn; họ là những kẻ lợi dụng tôn giáo để “buôn thần bán thánh”, cũng như đưa chính trị vào tôn giáo để củng cố quyền lực và địa vị [xxxvi] Người đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình, qua cái chết phanh thây như kẻ tội đồ trên thập tự giá.
Tôi từng tự hỏi tại sao Đức Giê-su đã không để lại “ngọc xá lợi”[xxxvii] nơi trần gian, để người đời đỡ phải lí luận tranh cãi, cũng như khỏi phải tìm cách lí giải Thánh Kinh theo chiều hướng và chủ trương của giáo hội mình? !
Tôi từng tự hỏi tại sao các nhà truyền giáo Tây phương đã dám can đảm hi sinh cả tính mạng mình khi vượt biển băng ngàn đi truyền đạo tại các nước xa xăm như Việt Nam, nhưng họ đã để lại vết nhơ về những tranh cãi vô ích liên quan đến việc thờ cúng ông bà tổ tiên theo “đạo làm người” ?!
Tôi từng tự hỏi tại sao những người có chung niềm tin vào Kinh Thánh, cùng tin vào Đức Giê-su Ki-tô, mà sao lại để xảy ra biến cố li giáo giữa giáo hội công giáo Rô-ma với giáo hội Đông phương [xxxviii], cũng như với tu sĩ thông thái và khổ hạnh Martin Luther[xxxix]; và từng chuỗi các tôn giáo dần dần mỗi ngày mỗi tách rời nhau kể từ đó cho đến nay ?!
Giờ đây tôi xác tín: “Đạo tâm” hay “đạo yêu thương” là đạo do chính Chúa Giê-su sáng lập thuận theo “Thiên ý”. Vì lượng yêu thương vô cùng vô tận, Thiên Chúa muốn dạy lòai người“đạo tâm”để lòai người biết “ước ao khỏang trời vô biên bất tận ngòai biển khơi”, hơn là chỉ biết co ro cúi đầu nhận lệnh. “Đấng Tạo Hóa thì to lớn vĩ đại hơn “con tàu” do tay người phàm làm ra”, và “Đạo tâm” là “đạo gốc” sinh ra mọi tôn giáo [xl]. Như thế, nếu như không muốn nhìn thấy thế giới lòai người phải đi đến chỗ bị tận diệt do xung đột và tranh dành hơn thua, các tôn giáo có chung một sứ mệnh là phải tìm về cội nguồn [xli], cùng nắm tay nhau tìm đến mục tiêu chung là truyền bá “đạo tâm”, là đạo phổ quát, là đạo từ Trời, đang khi vẫn có thể duy trì bản sắc riêng của từng tôn giáo. Nói theo ngôn ngữ thời thượng thì “đạo tâm” là “đạo công giáo tòan cầu” vậy.
LỄ PHỤC SINH 2005
Ông Nguyễn Đông-Khê
[i] “Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh.Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu” (Đạo có thể gọi được là đạo, không phải là đạo “thường hằng”. Danh có thể gọi được là danh, không phải là danh (tên). Vô danh là gốc của trời đất. Hữu danh là mẹ của vạn vật.) (Đạo Đức Kinh)
[ii] Thiên hạ đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự (Hệ từ hạ, V)
[iii] “Nhất bản tán vạn thù, vạn thù qui nhất bản
[iv] Ga 1:1-3
[v] Causa causarum
[vi] Theo bản thống kê Vatican thì có trên 1 tỉ người công giáo trên tòan thế giới. Có 450,000 người được phong chức, phần lớn trong số người này là linh mục, được chỉ định điều hành 99.5 % giáo hội. Như thế một người được truyền chức thì coi sóc 2,444 tín đồ. Vậy thì đâu có thời giờ để thăm viếng các gia đình, tổ chức sinh họat trong giáo xứ, thi hành bí tích xức dầu bệnh nhân, hay hội thảo mục vụ liên quan đến việc điều hành cộng đồng Ki-tô hữu trong vai trò linh mục? Việc thiếu hụt linh mục rất phổ biến trong tình trạng hiện nay. Chính vì thế mà việc nhấn mạnh đến việc lãnh nhận các phép bí tích để được cứu rỗi trở nên “lố bịch” vì có nhiều tín hữu cả đời không gặp linh mục (tình trạng các giáo hội chịu bách hại), hay chỉ gặp linh mục một vài lần trong đời người (tình trạng các nước Âu châu).
[vii] Ga 17:21
[viii] Confessio I,I
[ix] RH 18
[x] Cuộc bách hại bắt đầu từ năm 64 thời Hòang đế Nê-ron kéo dài cho đến năm 314 với chiếu chỉ Milan tha đạo dưới thời Hòang đế Constantin.
[xi] Nguyễn Văn Khôn, Hán Việt Từ Điển
[xii] Viện Ngôn Ngữ Học, Từ Diển Anh Việt, 1993
[xiii] Webster’s Student Dictionary: “Belief in God or a group of gods to be worshiped; a particular system of such belief and worship, often including moral ideals, a philosophy of life, etc.”
[xiv] St 1: 26-27
[xv] Ga 13:35
[xvi] Ga 4 : 21-25
[xvii] Ga 14:5
[xviii] Mt 23:1-36; Mc:12:38-40; Lc 11: 39-48 và 20:45-47
[xix] Mt 5:3-12; Lc 6:20-23
[xx] Mt 25:31-46
[xxi] Lc 2:21
[xxii] Lc2:22-28
[xxiii] Lc 2:41-51
[xxiv] Ga 3:8
[xxv] Ga 3:5-6
[xxvi] Lc 10: 27
[xxvii] Vạn thù qui nhất bản
[xxviii] 1Cor 13:9-11)
[xxix] 2Cor 5:10
[xxx] GS 22
[xxxi] RH 11
[xxxii] SGLCG Số 1258, 1259 và 1260
[xxxiii] SGLCG Số 1257
[xxxiv] Lối phát biểu này rất phổ biến từ các linh mục lãnh đạo cộng đồng Việt Nam .
[xxxv] SGLCG Số 899
[xxxvi] Xem Mt 23:1-29; Mc 12:38-40; Lc 11:39-48 và Lc 20:45-47
[xxxvii] Dấu chứng thân thể như xương, răng , quần áo, đồ dùng, chữ viết …
[xxxviii] Giáo hội Đông Phương tách rời khỏi giáo hội Tây phương Rô-ma (vào năm 1053) cũng vì tranh cãi hơn thua về việc xử dụng ‘bánh không men” hay có men trong thánh lễ.
[xxxix] Martin Luther đưa ra thông cáo Wittenberg (Oct. 30, 1517) gồm 95 đề tài với mục đích ngăn chặn việc mua bán ân xá để gây quĩ xây tòa giám mục Mainz và kiến thiết đền thánh Phê-rô ở Rô-ma. Rút cục , ông tuyên bố li khai khỏi giáo hội công giáo (Oct.12, 1520) trước áp lực của tòa thánh.
[xl] Nhất bản tán vạn thù
[xli] Vạn thù qui nhất bản
Nguồn: phuong ngo <tuyphuongngo56@yahoo.com> posted on VN-Online
13 Friday Nov 2015
Posted in Sống Khỏe
Tags

13 Friday Nov 2015
Posted in HBT/TNTTW
13 Friday Nov 2015
Posted in Suy Niệm
Did You See God?
One day a 6 year old girl was sitting in a classroom. The teacher was going to explain evolution to the children. The teacher asked a little boy:
Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Tommy, do you see the grass outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Go outside and look up and see if you can see the sky.
TOMMY: Okay. (He returned a few minutes later) Yes, I saw the sky.
TEACHER: Did you see God up there?
TOMMY: No.
TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.
A little girl spoke up and wanted to ask the boy some questions.
The teacher agreed and the little girl asked the boy:
Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
LITTLE GIRL: Tommy do you see the grass outside?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Did you see the sky?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Tommy, do you see the teacher?
TOMMY: Yes
LITTLE GIRL: Do you see her brain?
TOMMY: No
LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!
”FOR WE WALK BY FAITH, NOT BY SIGHT” (II CORINTHIANS 5:7)
Don’t forget to pass this on! I love this one. Everyone should
send this to everyone they know, especially today with prayer restricted in schools.
(Source: Email of Rev. Đòan Đình Bảng, Tuyên Úy Ngành Nghĩa Sĩ TNTT)
My own comments on this issue: “Did You See God?”
TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.
(Cô giáo: Đó là điều tôi muốn nói. Chúng ta không thể nhìn thấy Chúa vì ngài không có ở đó. Rất có thể là Chúa không hiện hữu).
Lời bàn #1: Điều gì mà mắt chúng ta không nhìn thấy thì chưa hẳn là điều đó không hiện hữu.
Mặt khác, một tóan thiên văn gia quốc tế thuộc National Science Foundation, trong thập niên qua, đã khám phá ra hơn 160 hành tinh quay quanh các ngôi sao bên ngòai thái dương hệ của chúng ta (beyond our solar system). Nhờ kỹ thuật mới gọi là “gravitational microlensing”, họ khám phá ra một hành tinh “OGLE-20025-BLG-390Lb” cách xa 20000 năm ánh sáng, gần trung tâm của giải ngân hà (the Milky Way) (x. The Orange Register, Jan. 26-2006, News 14).
Một tóan thiên văn gia khác ở Pasadena, California, loan báo ngày Feb. 8, 2006 rằng họ đã tìm thấy dấu vết của hai thái dương hệ cực lớn (two mega solar systems). Đó là những ngôi sao vĩ đại bao quanh bởi các đĩa bụi không gian khổng lồ có hình dáng hành tinh. Các ngôi sao này lớn gấp từ 30 đến 70 lần mặt trời của chúng ta. Kết quả khám phá này sẽ được đăng trên số báo ngày Feb. 10 của tạp chí Astrophysical Journal Letters (x. The Orange county Register, Feb. 9, 2006, News 5).
LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!
(Vậy căn cứ theo điều mà chúng ta đã được dạy ở trường học hôm nay, thì cô giáo có thễ không có bộ óc!)
Lời bàn #2: Qủa là gậy ông đập lưng ông!
Cứ theo diễn tiến của câu chuyện vể thuyết tiến hóa (evolution) nói trên, cô giáo dùng lối quan sát thực nghiệm để hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và Thiên Chúa, để rồi đi đến kết luận là Thiên Chúa có thể không hiện hữu vì trò Tommy đã không nhìn thấy Thiên Chúa trên bầu trời. Để phản ứng lại lối kết luận dựa vào quan sát thực nghiệm này của cô giáo, cô học trò nhỏ 6 tuổi cũng hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và cô giáo, để đi đến kết luận là cô giáo có nhẽ không có óc (brain) vì trò Tommy nhìn thấy cô giáo nhưng đã không nhìn thấy óc của cô giáo.
Thực ra, cô học trò nhỏ biết chắc rằng cô giáo có đầu và có cả óc! Nhưng cô học trò chắc có ý muốn nói rằng cô giáo đã không biết xử dụng trí óc mà Chúa ban cho, để suy luận rằng nếu có cây, cỏ, bầu trời thì phải có Đấng tạo ra các thứ đó. Chứ các thứ đó không thể tự nhiên mà có được như thuyết tiến hóa chủ trương.
Nếu qủa cô học trò nhỏ này có ý muốn nói như vậy thì thâm ý của tác giả câu chuyện này nhằm bài bác thuyết tiến hóa đang được dạy trong các trường học công của Mỹ, và đồng thời chê cô giáo là thiển cận, vì chỉ nhìn biết sự vật bên ngòai mà không nhận biết các sự vật bên trong hoặc bên trên các sự vật hữu hình.
Đây qủa là bài học chua chát và đắng cay cho cô giáo vì bị lâm vào cảnh “gậy ông lại đập lưng ông”. Câu chuyện này cũng là một lời cảnh giác cho các phụ huynh có con em đang theo học các trường học nơi thuyết tiến hóa đang được nhồi nhét vào đầu óc non dại của con em họ như một môn khoa học. Còn đối với độc giả như tôi, đây là một câu chuyện rất thú vị và đầy ý nghĩa: thú vị vì tôi hiểu dụng ý của tác giả khi dùng một cô học trò mới 6 tuổi, cở lớp 1 hoặc lớp 2 tiểu học (the first or second grader) mà biết dùng chính những câu hỏi của cô giáo để bài bác lối kết luận hồ đồ của cô giáo, dù cô học trò nhỏ đó chưa chắc đã hiểu thuyết tiến hóa là gì. Hơn nữa, câu chuyện này rất có ý nghĩa vì câu chuyện cũng khiến tôi phải thận trọng suy nghĩ chín chắn trước khi giải thích cho ngay cả trẻ con về một điều gì, để tránh gặp phải cảnh “gậy ông đập lưng ông” như cô giáo trong câu chuyện này.
Lời bàn #3: Con người được tạo dựng hoặc tự tiến hóa?
(Creation vs. Evolution)
Cuộc tranh luận về việc bằng cách nào lòai người đã xuất hiện trên trái đất này đã xảy ra ngay từ sau khi ông Charles Darwin, một tác giả người Anh cho xuất bản cuốn sách nhan đề “On the Origin of Species by Means of Natural Selection” năm 1859, trong đó ông chủ trương rằng các sinh vật trên trái đất này tăng triển là do sự tiến hóa (evolution). Theo thuyết tiến hóa này, lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, nhưng Thiên Chúa đã không tham dự vào sự tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, but God had no part in this action).
Trước khi thuyết tiến hóa ra đời, những người có tín ngưỡng tin vào thuyết tạo dựng (Creation). Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người với hình dạng hiện nay như đã được diễn tả trong Thánh Kinh (God created human beings in their present forms as described in the Bible).
Giữa hai thuyết tạo dựng và tiến hóa, có một thuyết khác được mệnh danh là “Intelligent Design” (tạm dịch là Bộ Óc Siêu Việt). Thuyết này mới xuất hiện gần đây và chủ trương rằng lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, và Thiên Chúa đã chỉ đạo tiến trình tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, and God guided this process).
Theo kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến vào ngày Sept. 8-11 năm 2005 của CNN/USA Today/Gallup, 58% dân chúng Mỹ tin vào thuyết tạo dựng so với 55% tin vào thuyết tiến hóa và 31% tin vào thuyết Intelligent Design. Ngòai ra, đa số dân chúng Mỹ muốn thuyết tiến hóa (61%) và tạo dựng (54%) nên được dậy trong các trường công lập, trong khi đó chỉ có 43% đồng ý cho thuyết Intelligent Design được dậy.
Tiến trình tranh luận và kiện tụng về thuyết tiến hóa và tạo dựng:
Năm 1925: John Sopes, một giáo sư trung học, bị tố cáo tội vi phạm luật tiểu bang Tennessee về việc trình bầy thuyết tiến hóa của Darwin trong trường công lập.
Năm 1942: Một cuộc thăm dò 3000 giáo sư trung học cho thấy không tới một nửa dậy thuyết tiến hóa cho học sinh.
Năm 1968: Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng luật tiểu bang cấm dậy thuyết tiến hóa nơi nhà trường là vi phạm điều “tự do tôn giáo” của Tu Chính Án Thứ Nhất (the “freedom of religion” clause of the First Amendment).
Năm 1995: Hội Đồng Giáo Dục Tiểu Bang Alabama đòi hỏi các sách giáo khoa đề cập đến thuyết tiến hóa phải kèm theo một câu rằng sự tiến hóa “nên được coi như một giả thuyết, chứ không phải một sự kiện” (evolution “should be considered as theory, not fact”).
Năm 1998: Học Viện Quốc Gia Khoa Học (The National Academy of Science) ban hành một văn kiện kêu gọi thuyết tiến hóa được các nhà khoa học chấp thuận phải được dậy trong các trường công lập.
Năm 2003: Đạo luật “The No Child Left Behind Act” đề nghị rằng các học sinh nên được dậy về các vấn đề tranh cãi liên quan đến sự tiến hóa.
Năm 2004: Hội đồng giáo dục ở Dover, Penn., đòi hỏi các lớp sinh vật học trung học phải dậy intelligent design cùng với thuyết tiến hóa.
Năm 2005: Nhiều hội đồng giáo dục ở Hoa Kỳ đòi hỏi rằng intelligent design phải được dậy kèm theo sự tiến hóa hoặc các sự phê bình về thuyết tiến hóa phải được nêu rõ ra (Nguồn: The Orange County Register, Oct. 18, 2005, News 2).
Lời bàn #4: Ngoài Thánh Kinh, làm sao chúng ta biết có Thiên Chúa? (Other than the Bible, how do we know God exists?)
Thánh Kinh đã mặc khải cho chúng ta biết có Thiên Chúa tòan năng, Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ và con người. Ngài không ngừng mời gọi con người tìm kiếm Ngài để được sống sung mãn và tìm được hạnh phúc thật. Nhưng ngòai Thánh Kinh, làm sao chúng ta nhận biết có Thiên Chúa?
Muốn nhận biết Thiên Chúa, con người phải nỗ lực tìm kiếm bằng trí tuệ, bằng sự ngay thẳng của ý chí, bằng “một tấm lòng thành”, và cũng cần có chứng từ của những người khác để dạy con người biết tìm kiếm Ngài (GLCG đ. 30).
Về chứng từ ngòai Thánh Kinh, một đại giáo phụ của Giáo Hội là thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 (1224-1274) đã nói rằng chỉ dùng lý trí không thôi, con người cũng có thể nhận biết được Thiên Chúa. Trong bộ sách Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica, Part 1, Question 2, Article 3), thánh nhân đã đưa ra 5 luận chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa (Five Ways, Quinque Viae) như sau:
Luận chứng #1: liên quan đến sự chuyển động và thay đổi trong vũ trụ càn khôn. Bất cứ vật gì chuyển động được tức phải có một động lực nào khác làm cho nó chuyển động.
Luận chứng #2: bàn về nguyên nhân và hiệu quả (cause and effect); bởi vì trong thiên nhiên không có có vật nào tự nó cấu tạo thành mà phải có một nguyên lý khởi đầu là Thiên Chúa.
Luận chứng #3: lập luận rằng phải có Thiên Chúa trong mọi sự vật vì mọi sự vật được xuất phát từ Thiên Chúa.
Luận chứng #4: đề cập đến những mức độ hòan hảo hay tốt lành khác nhau của các sự vật. Mọi vật đều tốt lành hoặc hòan hảo ở những mức độ khác nhau nhưng chỉ có một điều tuyệt đối hòan hảo và đúng thực là Thiên Chúa.
Luận chứng #5: liên quan đến mục đích tối hậu và cùng đích của mọi vật; người ta có thể tìm thấy Thiên Chúa qua sự nhìn nhận rằng trong sự trật tự của vũ trụ phải có sự điều hướng hay mục đích, và mục đích hay điều hướng này chính là Thiên Chúa.
Từ 5 luận chứng này, thánh Tôma đi đến kết luận rằng tất phải có một Động Lực Chính (a Prime Mover), một hữu thể hòan hảo (a perfect being), một động lực bất biến (an unmoved mover), đó là nguyên ủy của tất cả tạo vật và là nguyên nhân nhờ đó chúng ta được hiện hữu trên trái đất này. (Nguồn: Matthew Bunson, Enclyclodia of Catholic History, Our sunday Visitor, Inc., Hunting, Indiana, USA, 1995, pp. 700-701).
Thánh Kinh cũng có những đọan ca ngợi Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn như sau:
Lời bàn #5: Hiện hữu, hiện diện và hiện thực
Nhân câu chuyện nêu trên liên quan đến việc Chúa có hiện hữu không, tôi muốn bàn thêm về vấn đề hiện thực: sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong phép Thánh Thể (the real presence of Jesus Christ in the Eucharist). Đây là vấn đề đã được đặt ra từ thời Chúa Giêsu Kitô và vẫn còn tranh luận cho đến ngày nay.
Để có thể hiểu vấn đề hiện thực này, chúng ta cần tìm hiểu và phân biệt các danh từ thường hay được sử dụng liên quan đến vấn đề hiện thực như hiện hữu và hiện diện.
Một hữu thể thì luôn luôn hiện hữu dù không một ai biết đến nó. Sở dĩ người ta không biết đến hữu thể đó vì nó không được nhận diện (vì không ai biết đến nó), và vì nó không được nhận diện nên nó không hiện diện (coi như không có mặt) đối với người ta, và vì nó không hiện diện nên người ta coi như nó không hiện hữu (không có thực). Chẳng hạn một hòan đảo ngòai đại dương xa xăm mà chưa ai biết đến thì hòn đảo này có thực không? Chắc chắn là nó có thực (hiện hữu) mặc dù chúng ta chưa có dịp nhìn thấy tận mắt mà thôi. Cho đến khi người ta tìm ra hòn đảo đó thì hòn đảo đó dù vẫn hiện hữu nhưng nay mới trở thành hiện diện vì đã được người ta nhận diện.
Như vậy, một hữu thể chỉ hiện diện khi nó thiết lập được mối tương quan đối với các hữu thể khác. Một hòn đảo là một vật thể có thực (hữu thể) nhưng chỉ được người ta coi là có thực (hiện thực) khi người ta tìm ra nó (nhận diện), và do đó hòn đảo này mới hiện diện đối với người ta, mặc dù nó đã hiện diện đối với cỏ cây, mây nước và dã thú trên đảo từ lâu rồi.
Một số nhà thần học công giáo thời nay cố gắng dùng hiện tượng luận (phenomenology) (ý niệm hữu thể, hiện hữu, hiện diện) để giải thích sự hiện diện thực sự (hiện thực) của Chúa Giêsu Kitô trong phép Thánh Thể.
Đối với họ, mối tương quan cá vị và thiêng liêng thì thực hơn là mối tương quan vật lý và thể chất. Vì vậy, họ nhìn bánh và rượu trong phép Thánh Thể trong ánh sáng của mối liên hệ đối với Chúa và đối với con người.
Tự bản chất của một hữu thể là mang ý nghĩa nào đó cho một người nào đó, và vì vậy ý nghĩa nguyên thủy của hữu thể nằm ở trong thực tại của chính hữu thể đó, nên nếu một hữu thể không mang một ý nghĩa nào đó đối với một người nào đó thì nó không phải là nó nữa [In their own being, things have a meaning for someone (God, man), an original meaning which belongs to the reality itself, since, without this “having meaning for,” something is not what it is) (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, pp. 112-113]. Chẳng hạn, hột đậu nành (soybean) trước đây chỉ được dùng làm thực phẩm (sữa đậu nành, đậu phụ) thì nay cũng được dùng làm nhiên liệu chạy xe (biodiesel) thay cho xăng dầu (petroleum diesel). Theo nguồn tin của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, nhiên liệu đậu nành là một lọai nhiên liệu thay thế đang phát triển nhanh nhất ở Mỹ. Số tiêu thụ năm ngóai đã tăng gấp ba tức 75 triệu gallons. Trên thị trường hiện có bán lọai nhiên liệu đậu nành chạy xe hơi với nhãn hiệu “BioWillie” mang tên B20, pha trộn của 80 % xăng dầu và 20 % nhiên liệu chế từ đậu nành (Nguồn tin: The Orange County Register Feb. 9, 2006).
Vậy ý nghĩa của mối tương quan hỗ tương giữa đậu nành và ngừơi sử dụng thay đổi (đậu nành dùng làm thực phẩm hay nhiên liệu) thì bản chất của nó cũng thay đổi (thực phẩm đậu nành hay nhiên liệu đậu nành).
Ngòai mối tương quan do cách sử dụng ấn định, cũng có những mối tương quan do con người có thẩm quyền quyết định; trong những trường hợp này, bản chất thực sự của một hữu thể là do người có thẩm quyền quyết định. Chẳng hạn trường hợp của lá quốc kỳ Việt Nam. Đó chỉ là một mảnh vải màu vàng với ba sọc đỏ do một họa sĩ vẽ ra, và được Vua Bảo Đại quyết định chọn làm lá cờ tượng trưng cho Quốc Gia Việt Nam. Khi đó nó không còn là miếng vải thường nữa mà mang một ý nghĩa hòan tòan khác. Dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi nhưng ý nghĩa mới của nó là biểu tượng cho hồn thiêng sông núi, hồn thiêng dân tộc. Miếng vải có được ý nghĩa mới này là do sự thay đổi về mối tương quan đối với quốc dân Việt Nam. Khi mà mối tương quan thay đổi thì bản chất của miếng vải củng hòan tòan biến đổi.
Trong trường hợp của Thánh Thể cũng vậy. Bánh và rượu khi được truyền phép đã trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Theo quan niệm của thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 dựa trên ý niệm triết học về “bản thể và phó thể” (substance and accident) của triết gia Aristote, bản thể của bánh và rượu đã biến đổi thành bản thể của Mình và Máu Chúa Kitô. Công Đồng Tridentô năm 1551 gọi sự biến đổi này là biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation).
Phần lớn các nhà thần học hiện đại không còn dùng ý niệm bản thể của Aristote để giải thích sự biến thể mà dùng ý niệm tương quan của bánh rượu đối với Thiên Chúa và người tín hữu. Bánh rượu sau khi được truyền phép có một ý nghĩa mới. Ý nghĩa mới này không do con người ấn định, nhưng do Con Thiên Chúa. Mối tương quan do Con Thiên Chúa ấn định mang lại ý nghĩa tuyệt đối và ấn định bản thể là Thánh Thể đối với tín hữu. Còn những ai không tin, và do đó không nhìn theo khía cạnh này, họ tự đặt mình ra ngòai một thực tại hiện diện một cách khách quan [In the case of the Eucharist too, a new meaning is given to the bread and wine, not by any man, but by the Son Of God. The relationship which is brought about by the Son of God is, because it is divine, binding in the absolute sense and determines the being of the Eucharist for the believer. Anyone who does no believe, and consequently does not see it in this way, places himself outside the reality which is objectively present – he is outside the order of being (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, p. 113].
Xưa kia tại Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ rồi phán bảo các môn đệ: “Này là Mình Thầy, hiến tặng vì các con. Các con hãy cầm lấy mà ăn”. Rồi Người cầm lấy chén rượu, cũng dâng lời cảm tạ rồi phán: “Này là Máu Thầy, máu giao ước mới sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội. Các con hãy cầm lấy mà uống. Các con hãy làm việc này mà nhớ đếnThầy” (Lc 22:19-20).
Bánh rượu là thực phẩm nuôi sống con người về mặt thể chất. Nhưng khi Chúa Giêsu phán “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì bánh rượu không còn là thực phẩm vật chất nữa, mà đã trở nên Mình và Máu của Chúa Giêsu để nuôi linh hồn chúng ta.
Sự thay đổi bản thể của bánh và rượu là do ý muốn và quyền năng của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa tòan năng. Ngài đã phán một lời là có vũ trụ và muôn lòai, nên Ngài cũng có thể phán một lời để biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Ngài (x. GLCG đ. 1375).
Còn đối với các tín hữu tin vào Chúa Kitô là Ngôi Lời thì cảm nhận rằng khi họ rước bánh và rượu đã được truyền phép thì họ rước chính Mình và Máu Chúa Kitô. Đối với các tín hữu này, bánh và rượu nay có một ý nghĩa hòan toàn khác, dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi, nhưng bản chất đã thay đổi do sự thay đổi trong mối tưởng quan cá vị (inter-personal relationship) giữa bánh rượu và người thụ hưởng. Tương quan ý nghĩa thay đổi thì bản chất của bánh và rượu cũng thay đổi. Sự thay đổi về ý nghĩa của mối tương quan này là cốt lõi (radical) hơn cả sự thay đổi thể lý đơn thuần (purely physical). Sự thay đổi này có thể được gọi là sự thay đổi bản thể (substantial change). Thay đổi bản thể thì sâu xa và tận căn hơn là thay đổi thể chất (E. Schillebeecks, the Eucharist, trang 130-151).
Ngày nay, tuân theo lệnh truyền của Chúa Giêsu là “Các con hãy làm việc ày mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:20), khi linh mục đại diện cho Giáo Hội, cử hành thánh lễ misa, và lập lại lời truyền phép: “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì lập tức bánh và rượu cũng trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu do quyền năng của Lời Chúa và do tác động của Chúa Thánh Thần (GLCG đ. 1375). Đây là sự biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation) mà Công đồng Tridentô đã định tín ngày 11 tháng 10 năm 1551: dù hình dáng và mầu sắc bên ngòai không có gì thay đổi nhưng bản chất của bánh và rượu đã biến thành Mình và Máu Chúa Giêsu sau lời truyền phép.
Tuân theo tín điều biến thể của Công Đồng Tridentô, Giáo Hội ngày nay vẫn còn xác tín sự hiện diện bản thể (substantial presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đđ. 1374, 1376), và khi người tín hữu rước lễ là rước chính Mình và Máu Chúa Giêsu. Mặt khác, Giáo Hội ngày nay cũng nhìn nhận rằng phép Thánh Thể còn là một bí tích, nghĩa là một dấu chỉ bề ngòai (sign) để thể hiện hoặc tiềm ẩn một ý nghĩa hay một ơn ích bên trong (what it signified). Dấu chỉ bề ngòai đó là lời truyền phép trên bánh rượu để biến bánh rượu trở thành tặng phẩm của Chúa Kitô là chính Ngài, nghĩa là quà tặng cũng chính là người tặng. Tặng phẩm đây không phải là tấm bánh mà là chính Chúa Giêsu đã hiến tế vì anh em (Object is not bread but Christ); và khi rước lễ, chúng ta lãnh nhận được ơn ích, đó là chính sự sống thần linh của Chúa Giêsu. Bánh là biểu tượng của sự sống (symbol of life), và rượu là biểu tượng cho niềm vui của cuộc sống (symbol of joy of life). Vậy khi Chúa Kitô cầm lấy bánh mà phán: “Này là mình Ta, hiến tặng vì anh em… Này là máu Ta sẽ đổ ra vì anh em” (1 Cor 11:24) thì lời này cũng đồng nghĩa với “Này là sự sống của Ta hiến tặng vì anh em”. Do đó, khi rước lễ là lãnh nhận chính sự sống của Chúa Kitô. qua và trong hình bánh và rượu, chúa Kitô cũng trao tặng cho Giáo Hội món quà tuyệt vời, đó là chính người tặng, chính Chúa Kitô. Đó là sự hiện diện bí tích (sacramental presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đ. 1380).
Dù Chúa Giêsu hiện diện bản thể hay hiện diện bí tích, phép Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin, và vì vậy chúng ta chỉ có thể cảm nhận được bằng đức tin mà thôi dưới sự soi sáng và linh ứng của Chúa Thánh Thần (GLCG Đ. 1381).
Lộc Vũ
12 Thursday Nov 2015
Posted in Tôn Giáo
| Vấn đề « Nhập Thế – Xuất Thế » trong Phật Giáo và Ky Tô Giáo |
| MỘT SỰ PHÂN HÓA ĐÁNG THƯƠNG
Vì kém hiểu biết, người ta thường dán cho các tôn giáo những nhãn hiệu, rồi phong cho cái này là tốt, là đúng, chê bai cái kia là thấp kém, là lầm lạc. Thái độ ấy cũng vô lý và đáng thương như câu chuyện mấy đứa trẻ mồ côi đập nhau chí tử, để tranh cãi rằng: “Cha tao giàu hơn cha mày, mạnh hơn cha mày, v.v…”, mà không biết rằng chúng đều là anh em ruột cùng chung cha mẹ! Xin chọn vài thí dụ, lấy từ thần học của Thánh Augustin (354-430), được coi như một cột trụ của Giáo Lý Ky Tô Giáo. Vị thánh này là người đã “sáng chế” ra “tội Tổ Tông” hay “tội nguyên thủy” (péché originel), để chống lại quan điểm “nhân chi sơ, tính bổn thiện” của Thày Khổ Tu Pélage (khoảng 350-420). Trong khi Pélage cho rằng con người có tự do, và có thể tích cực chọn lựa giữa làm việc thiện hay làm việc ác, thì Augustin quả quyết con người chỉ có thể làm việc ác. Nếu một số nhỏ cá nhân có làm được việc thiện, để hy vọng được cứu rỗi, thì đó là do Hồng Ân Thiên Chúa. Augustin nhấn mạnh là Thiên Chúa chỉ ban phát Hồng Ân của Ngài cho một số người được chọn lọc (praedestinati), theo những tiêu chuẩn riêng của Ngài mà không ai có thể hiểu nổi. Tuy nói vậy, nhưng Augustin cũng vẫn “bật mí” cho chúng ta biết một tiêu chuẩn trọng yếu: đó là số người được hưởng nhờ ơn Chúa, và được giải thoát, phải bằng với con số Thiên Thần bị giáng chức và bị tống cổ ra khỏi Thiên Đàng ! Những người còn lại, thuộc về tập thể bị loại trừ (massa perditionis), sẽ bị thiêu đốt đời đời trong Hỏa Ngục. Ý kiến “tiền định” tương tự cũng có thể được nhận thấy trong Thánh Thư của Thánh Phao Lồ gửi tín hữu La Mã (Rom, 8:28-30). VÀI KHÍA CẠNH TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO Phật giáo coi bản tánh của mọi chúng sanh đều là Phật. Chỉ cần bỏ những mù quáng, mê chấp, thì nhận ngay ra mình là Phật. Không ai bị bỏ rơi, không có “massa perditionnis” vì mọi người đều đã sẵn là Phật. Đó là một quan điểm tích cực rất rõ ràng. Mặt khác, cũng không cần sự cứu rỗi từ bên ngoài vì Phật ở sẵn trong mình rồi, chứ không phải từ một nơi chốn thần tiên nào đó đến cứu độ mình. Tức là mỗi người cần tích cực đi tìm giải thoát, với sự soi sáng tự nhiên của Phật Tính nơi mình, để thay đổi cách nhìn của mình về sự vật, về mình, và để tìm thấy chính mình. Nói: Anh « là » (you are …) xấu xa, như trong ngôn ngữ Tây phương thông thường, rất khác với: « anh đã làm một việc xấu xa ». Câu nói thứ hai có ý nghĩa tích cực quan trọng. Những quan điểm vừa nêu có phải là đặc thù của Phật giáo hay không ? Hoàn toàn không. Dưới một hình thức khác, những quan điểm ấy đều hiện hữu trong tư tưởng Ky Tô giáo (thí dụ niềm tin con người « là một » với Thiên Chúa, qua Đức Ky Tô) (*) TƯ TƯỞNG XUẤT THẾ TRONG KITÔ GIÁO Chúng ta có thể dựa vào một số lời nói của chính Đức Ky Tô để nhận ra một khuynh hướng xuất thế rất đậm nét trong Kitô giáo. – Trong Phúc Âm thánh Gioan (15:19), Đức Ky Tô nói rất rõ : “Các con không thuộc về thế gian, thầy đã đặt các con ra ngoài thế gian”. Và khi toàn quyền La Mã Pilatô tra vấn Ngài, Ngài cũng tuyên bố: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian” (Gio-An.18:36). – Thật ra, Đức Ky Tô không những chủ trương đứng ngoài thế gian, mà Ngài còn coi thế gian là nguồn của sự dữ, là vương quốc của Ác quỷ, là sự chống phá lại công trình của Ngài. Ngài nói: “Thế gian thù ghét Ta vì Ta chứng minh được rằng những công trình của thế gian đều xấu xa” (Gio-an 7:7). Một lúc khác, trong lời cầu nguyện với Thiên Chúa, Ngài nói: “Con đã truyền cho họ (các môn đệ) lời nói của Cha và thế gian đã thù ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, như chính con cũng không thuộc về thế gian.” (Gioan 17:14). Rõ rệt hơn nhất, trong Gioan 12:31, Ngài gọi Ác quỷ là “Vua của thế gian” và trong Gioan 12:30, Ngài phán: “Từ nay, Ta không còn nói chuyện với anh em được nữa, vì Vua của thế gian này đã đến”. Chúng ta cũng có thể chú ý đến một câu chuyện được kể lại trong tất cả các bộ Phúc Âm trừ Phúc Âm Gioan. Đó là chuyện Ác quỷ cám dỗ Đức Ki Tô : Trước khi Đức Ki Tô thu nhận môn đệ và bắt đầu giảng dạy, Ngài vào sa mạc tĩnh tâm trong bốn mươi ngày. Lúc ấy, Ác quỷ đến cám dỗ Ngài. Có ba sự cám dỗ, sau khi Đức Ky Tô đã vượt qua hai sự cám dỗ đầu tiên, thì Ác quỷ đưa Ngài lên một đỉnh núi cao và chỉ cho Ngài thấy tất cả thế gian với những vương quốc giàu mạnh, vinh quang, những lâu đài lộng lẫy, những thú vui vô số và bảo Ngài phải khuất phục nó, thì thế gian sẽ thuộc về Ngài. Đương nhiên là Đức Ky Tô lại khước từ thêm một lần nữa, với câu nói bất hủ: “Vade retro, Satanas” (Sa Tăng, hãy cút đi !). Đức Thích Ca cũng đã từng bị Quỷ Vương cám dỗ một cách tương tự … Qua câu chuyện này, chúng ta thấy Ác quỷ Sa Tăng chính là Vua của thế gian, và Đức Ky Tô với quyền năng của Ngài, cũng có thể ngự trị trên thế gian, y hệt như Ác quỷ. Mặc dầu vậy, Đức Kitô đã chọn khước từ thế gian, thậm chí sau này còn chấp nhận cho thế gian giết chết mình … Thật ra quan điểm xuất thế đã hiện hữu trong tư tưởng Do Thái, đặc biệt từ khi dân tộc này bị lưu đày vào năm 538 tới 587 trước Công Nguyên. Khi ấy trong nổi buồn tha hương, vong quốc, đất nước hoàn toàn bị phá hủy, người Do Thái chỉ còn biết ngước mắt kỳ vọng nơi một quê hương trên trời. Quê hương thật, đất nước thật của họ, từ đó, chính là Nước Trời, chứ không còn là một mảnh đất nào trên cõi thế nữa. Thánh Phao Lô, trong Thánh Thư gửi người Do Thái (11:14), cũng đã nhắc lại niềm tin này. Một tư tưởng khác rất phổ thông trong Ky Tô giáo, là sự xác quyết sẽ có một ngày tận thế. Tất cả những gì con người xây dựng được nơi thế gian đều sẽ bị hủy diệt. Đức Ky Tô, trong các đoạn Phúc Âm Mát-Têô 24, Mác-cô 13 và Lu-ca 21 đã nói về vấn đề này. Tức là sẽ không có một thế gian tốt đẹp, viên mãn, trường cửu như con người thường ước mong. Lịch sử sẽ không phải là một giòng sông đưa nhân loại đến bờ hạnh phúc, hay một con đường xa lộ dẫn cái xã hội mà ta đang sống đến với Thiên Chúa như Hegel từng quan niệm. Nước Chúa sẽ không phải là sự nối dài của cái xã hội mà ta đang sống, đang chăm lo bồi đắp. “Tất cả đều sẽ bị hủy diệt” đó là lời Chúa ! Về gia đình, Ngài bảo với các môn đệ, tức với tất cả chúng ta, rằng phải bỏ hết tất cả những ràng buộc gia đình, để theo Ngài. Đức Ky Tô nói : « Nếu kẻ nào đến với ta mà không từ bỏ cha mẹ mình, vợ con mình, và cả chính đời sống của mình, thì người ấy không thể là môn đệ của ta » (Lu-ca 14-26). Khi có môn đệ xin được về nhà từ giã gia đình trước khi lên đường theo Ngài, Đức Kitô từ chối ngay tức khắc, và nạt rằng: « Kẻ nào đã bắt tay vào cày ruộng (tức là đã theo Ta) mà còn nhìn về phía sau, thì kẻ ấy không xứng đáng vào Nước Chúa ! » (Lu-ca 9-26). Một môn đệ khác xin về chôn cất cha mình vừa mới qua đời, ngài cũng từ chối rằng: « Cứ để người chết chôn người chết, phần anh hãy đi rao giảng nước Trờ » (Lu-ca 9:59-60). Phải nói là Chính Đức Ky Tô cũng đã hoàn toàn từ bỏ gia đình mình. Trong Phúc Âm, không khi nào thấy Ngài gọi mẹ Ngài là “mẹ”, mà chỉ nói « bà kia » (femme !). Và một ngày nọ khi đang ở giữa đám đông, thì có người đến báo tin cho Ngài biết rằng: “ Mẹ anh và các em anh đang tìm anh ngoài kia”. Đức Ky Tô rảo mắt nhìn quanh cử tọa, rồi nói: « Đây là mẹ ta, đây là anh em ta, tất cả những ai hành động theo thánh ý Chúa, đều là mẹ và anh em ta » (Mác-cô 3:32-35). Còn đối với xã hội ? Đức Ky Tô nói rất rõ: « Đừng lầm tưởng rằng ta đến để mang lại hòa bình trên trần thế, ta không đến để đem lại bình an, mà chính là để đem lại gươm đao, cho người con trai nổi lên chống lại cha mình, người con gái chống lại mẹ mình, người con dâu chống lại mẹ chồng, người trong một gia đình đối nghịch lại với nhau » (Mát-Têô 10:34-35). Trong Phúc Âm Lu-ca, Ngài cũng nói một câu tương tự (Lu-ca 12:51-53). Việc “đem lại gươm đao” cũng được nhắc đến ở đoạn Phúc Âm Lu-ca 22-36, khi Đức Ky Tô nói với các môn đệ: “Ai chưa có võ khí thì hãy bán áo choàng của mình đi mà mua lấy một thanh gươm”. Đương nhiên là thái độ này của Đức Ky Tô không mấy gì là “politically correct”, và nhiều người “thông minh” hơn Ngài đã phải lập tức giải thích rằng: Ngài nói vậy nhưng phải hiểu khác, phải hiểu rằng … ngược lại ! Cũng như khi Ngài dạy phải bỏ hết tiền bạc, tài sản, hay cho rằng « Người có của vào nước Trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim ». Những lời nói ấy làm rộn sự “bình an” hưởng thụ của nhiều người. Họ không thể nào chấp nhận chúng được. Vì thế, họ phải dạy khôn Đức Ky Tô, bảo Ngài phải hiểu những lời Ngài nói một cách khác, hợp với những nếp suy tư trưởng giả và những ham muốn thường tình của họ hơn. Đừng quên, người đương thời đã đem Chúa Kitô ra đóng đinh trên thập giá, thậm chí ngay chính những kẻ trong gia đình Ngài cũng đã muốn bắt giữ Ngài, vì họ cho rằng: “Nó đã mất trí !” (Mác-cô 13:21) PHẬT GIÁO VÀ KHÁI NIỆM NHẬP THẾ Phật giáo không phân biệt thế gian với “ngoài thế gian”. Tất cả đều là tâm (vạn Pháp quy tâm). Vậy thì chỉ có Tâm. Nếu chỉ có Tâm mà thôi, thì xuất thế phải ra ngoài Tâm. Khi ấy, thử hỏi cái gì sẽ ra ngoài Tâm? Có phải cũng là tâm hay không? Tâm làm sao phải ra ngoài Tâm được? Vậy, Phật giáo không thể xuất thế ! Một cách nói khác: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vậy thì Phật ở đầy trong thế gian này, nhìn đâu cũng thấy Phật, Phật làm sao mà xuất thế được? Đây cũng là một cách giải thích nghệ thuật của Phật giáo, đặc biệt là của Thiền Tông, với những bài thơ hay những bức họa đầy tình thân ái, mô tả những cảnh vật nhiều khi rất nhỏ nhoi, những con người nhiều khi rất bé mọn, những động tác nhiều khi rất tầm thường, diễn đạt niềm cảm thông sâu sắc với tất cả những gì chung quanh. Nhất định là các nghệ sĩ và Thiền sĩ ấy không khước từ thế gian, không coi thế gian là hiện thân của sự Ác… Sự Ác có chăng thì chỉ là kết quả của vô minh, chứ dưới tấm màn vô minh ấy, vẫn luôn tiềm tàng Phật tính. Một lập luận khác có thể được nêu lên là: hạnh nguyện Bồ Tát, từ chối sự giải thoát cho riêng mình khi còn bất cứ chúng sinh nào chưa được giải thoát, chính là một tư tưởng nhập thế triệt để. Phật giáo Mật Tông cũng tin ở Phương Đông có một vị Phật tên là Aksobhya (A Súc Bệ), tượng trưng cho sự nhập thế, cứu độ, đi từ vô biên vào thế giới hữu hạn để thực hiện sự cứu độ và đi từ hữu hạn đến vô biên để thực hiện sự giải thoát … DANH HIỆU CỦA QUỶ VƯƠNG Trong truyền thống Do Thái, Ky Tô và Hồi Giáo, người ta gọi Ác Quỷ là Sa Tăng. Trong tiếng Do Thái cổ, chữ ấy được dùng để chỉ người có trách nhiệm lên án người khác trong một phiên tòa, như một loại Công Tố Viên ngày nay. Nói rộng ra, tất cả những kẻ lên án người khác, đều có thể được gọi là Sa Tăng ! Và khi chúng ta lên án bất cứ ai, thì đó chính là tiếng nói của Quỷ Vương trong chúng ta. Vì thế, Đức Kitô mới nói: “Đừng lên án, để khỏi bị lên án”. Và nhất là đừng lên án cả một tập thể, cả một cộng đồng, thậm chí cả một phần nhân loại, vì tín ngưỡng của họ. Chúng ta có thể nghĩ được rằng tất cả những người không cùng tôn giáo với chúng ta, trong đó có bạn bè của chúng ta, thậm chí ông bà tổ tiên của chúng ta, đều đáng bị vứt xuống một địa ngục nào đó hay không? Phải chăng họ đều là những ác quỷ, hay những “chuẩn ác quỷ”? Dù cho chúng ta có thuộc về tôn giáo nào đi chăng nữa, thì chúng ta cũng vẫn là thiểu số trong toàn nhân loại. Vì thế, lên án những người khác tôn giáo với mình, chính là tự đặt mình vào một địa ngục ngay từ bây giờ với vô số “ác quỷ” nhan nhản chung quanh mình ! Thật ra, có những sự lên án gay gắt, nhưng cũng có những chê bai lịch sự, tuy không kém phần trịch thượng, kiểu như: Đạo ấy chưa hiểu tới, hay chưa đạt đến trình độ này, trình độ khác. Tôi nói thái độ này cũng vẫn là một sự lên án, vì ta không thể biết nó sẽ trở thành gay gắt lúc nào, và vì nó có thể gợi lên những phản ứng gay gắt nơi những người bị mình chỉ trích. Thái độ ấy cũng vẫn là thái độ của Sa Tăng, của Ác Quỷ. Hơn lúc nào hết, cần đi tìm những điều giống nhau trong các tôn giáo, các giòng tư tưởng, hơn là đào sâu những khác biệt. §§§§§§§§ (*) Lời Đức Ky Tô : “Con cầu nguyện cho tất cả những ai tin nơi con, để tất cả trở thành Một. Cũng như Cha, thưa Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, và họ cũng ở trong chúng ta” (Gioan 17 : 20-21) Nguồn: sưu tầm trên NET |
11 Wednesday Nov 2015
Đầy Tớ Vô Dụng
Trong buổi họp hàng tháng vào Chúa Nhật đầu tháng tại phòng tập hát cạnh văn phòng giáo xứ, Nhóm Nhỏ Kitô-hữu Inê Thành chúng tôi học hỏi và chia sẻ lời Chúa về bài phúc âm của thánh Luca 17:5-10 đăng trên tờ Hiệp Nhất hôm đó. Khi các tông đồ xin Chúa Giêsu ban thêm lòng tin cho họ, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp là có ban cho họ hay không, nhưng Ngài lại kể một câu chuyện về cách đối xử của ông chủ nhà đối với người đầy tớ vừa mới cầy bừa ngoài đồng trở về. Một là mời người đầy tớ vào bàn ăn, hai là bảo người ấy dọn bữa tối cho chủ ăn xong rồi mới được ăn. Rồi Ngài hỏi ngược lại các tông đồ rằng, “Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không?” Rồi Ngài tự trả lời là không, và khuyên các môn đệ rằng, “Khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.” (Lc 17:10).
Bài phúc âm này có vẻ khó hiểu vì các môn đệ xin một đàng thì Chúa Giêsu lại cho một nẻo. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực mà Chúa muốn dạy các môn đệ qua đoạn phúc âm này?
Để dẫn giải ý nghĩa của bài phúc âm này, Lm. Xuân Nguyên kể chuyện về một ngôi thánh đường mới khánh thành do tiền đóng góp của mọi giáo dân trong một cộng đoàn nọ, và ngài nhận định như sau:
“Điều làm cho ngôi nhà thờ vật chất có giá trị là do bởi lòng quảng đại dâng cúng đóng góp xuất phát từ sự hy sinh thật tình như của lễ chung góp vào lễ hy sinh thánh giá của con người. Lúc đó, mọi cá nhân sẽ hòa hợp nên một như của lễ duy nhất, và tự nhiên họ được hòa tan trong sự hiện diện của Chúa Kitô thập giá ở đó. Chúa Kitô dạy chúng ta về sự hy sinh này: ‘Phần các con, khi làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.’ (Lc 17:10). Phải, bởi vì Chúa thích tấm lòng hy sinh chứ không phải của lễ” (trích Hiệp Thông số 83).
Qua lời giải thích trên đây của cha Xuân Nguyên, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ bài học hy sinh. Rồi cha ngưng lại ở đó mà không giải thích thêm. Còn đối với bản thân tôi là một người giáo dân bình thường, tôi nghĩ rằng Chúa muốn tôi phải có thái độ khiêm hạ khi làm công việc Chúa giao phó. Khi làm bất cứ công việc gì mà Chúa muốn tôi phải làm, tôi làm công việc đó như một bổn phận. Dù không muốn làm, tôi cũng phải hy sinh mà làm, không được phép từ chối hay thoái thác vì bất cứ lý do gì, vì đó là bổn phận hay nghĩa vụ của một người tin theo Chúa. Và khi làm xong, tôi phải có lòng khiêm hạ mà nhìn nhận rằng mình chỉ là người đầy tớ vô dụng vì chỉ biết làm điều mình phải làm. Quả vậy, trong cuộc sống của một người Kitô-hữu, tôi phải giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời, 6 điều răn của Hội Thánh, 14 mối thương người và cố gắng sống theo 8 mối phúc thật mà Chúa đã truyền dạy. Tôi chưa có một sáng kiến hay tự ý làm hơn những điều Chúa muốn nơi tôi cả. Vì thế dù tôi có thành công lớn lao trong công việc Chúa muốn tôi làm, tôi không thể tự hào về bổn phận phải làm; tôi càng không được phép kể công với Chúa hay với bất cứ ai; nhất là tôi không có quyền đòi hỏi Chúa phải cám ơn hoặc trả ơn cho tôi qua các lời tôi cầu xin nơi Chúa, vì Chúa đã trả lời rõ ràng là chủ nhà KHÔNG phải mang ơn người đầy tớ khi nó đã làm theo lệnh của chủ (x. Lc 17:9). Đến đây tôi tự nhủ rằng không biết có công việc nào Chúa muốn tôi làm mà lại thưởng công cho tôi không? Chẳng hạn như việc truyền giáo? Một giáo dân tầm thường như tôi không đi tu mà lại tự nguyện làm công việc rao giảng Tin Mừng của các cha và các sơ thì có được Chúa thưởng công cho chăng?
Vì Nhóm Nhỏ không có cha linh hướng và không biết hỏi ai, nên tôi tự mò mẫm tìm hiểu qua Thánh Kinh, các giáo huấn của Giáo Hôi và các sách báo công giáo. Cuối cùng tôi tìm thấy các giáo huấn về tông đồ giáo dân dưới đây.
“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con” (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Giáo Hội vẫn tiếp tục thực thi cho đến thời đại ngày nay. Tôi là một chi thể của Giáo Hội nên tôi cũng phải chia sẻ sứ mệnh truyền giáo trong bậc sống của tôi.
Thánh Phaolô tông đồ đã tự thú rằng: “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cor 9, 16-17).
Công Đồng Vaticanô II qua hiến chế Tín Lý Về Giáo HộI (GH) và sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (TĐGD) công bố từ năm 1965 đã nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dân là phải truyền bá Phúc Âm cho thế giới và làm chứng nhân cho Chúa Kitô (GH số 35 & 36), và canh tân các trật tự trần thế trong bậc sống của mình (TĐGD số 7).
Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: “Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại” (Sứ điệp Truyền giáo, số 2).
“Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài” (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).
Là một phần tử của Giáo Hôi với sứ mệnh được sai đi đem tin mừng Phúc Âm cho mọi người, mỗi người gíao dân bắt buộc phải làm việc tông đồ vì “việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô-giáo” (Jn 4:14). Nhiệm vụ đó không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Vì vậy, mỗi giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào công cuộc tông đồ và truyền giáo của giáo hội địa phương bằng việc tông đồ cá nhân hoặc tông đồ tập thể trong các đoàn thể, hiệp hội, phong trào giáo dân (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân của ĐGH Gioan Phaolô II, số 28).
Các vị chủ chăn trong Giáo Hội nhấn mạnh về vai trò chứng nhân cho Tin Mừng của người công giáo trong thế giới hôm nay như sau:
ĐGH Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ trong dịp mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2000 rằng: “Chỉ có những người tín hữu đang thực sự sống những gì mình tuyên giảng trên môi, mới được người khác đón nghe mà thôi” (Hiệp Thông 18-6-2000).
ĐGH Phaolô VI: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy nầy đã là những chứng nhân”.
Giám Mục Gerard Huyghe, cựu Giám mục giáo phận Arras, Pháp: “Giá trị của một Giáo Hội không dựa vào con số người nhập đạo, nhưng ở tại chứng tá Tin Mừng mà các cộng đoàn kết hợp nên Giáo Hội thực hiện” (trích trong cuốn Le Chrétien au seuil des temps nouveaux của Hồng Y Suenens, Ed. Fiat, 1997, tr. 51).
Gần đây nhất, tôi đọc được một quan niệm truyền giáo thực tiễn sau đây của Tập San Dấn Thân số mới nhất, đăng trên tuần báo điện tử Công giáo Maranatha số 24 ngày 23-10-2004:
“Chúng tôi quan niệm truyền giáo không phải chỉ là đứng rao giảng giữa nhà thờ, xây cất, sửa sang những đền thờ lộng lẫy để Chúa có chỗ ngự, nhưng quan trọng hơn, là đi, là sống thật những điều rao giảng, mở rộng cửa nhà Chúa cho mọi người trong đạo cũng như ngoại đạo, là phá đổ những hàng rào ngăn cách, đi tìm những con chiên lạc mang về, là phục vụ không phải được phục vụ… Hơn ai hết, những môn đệ theo chân Chúa phải là những người sống thật, sống đúng tinh thần khó nghèo, phục vụ, yêu thương của Đức Kitô khi Người còn ở dương thế. Chúng tôi cũng quan niệm theo đạo, giữ đạo, chuẩn bị cho cuộc sống đời sau không phải chỉ là đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, xin lễ, quà tặng hậu hỉ cho chủ chiên, rộng rãi góp tiền xây cất thánh đường nguy nga là đủ…, nhưng quan trọng hơn, làm muối mặn men nồng, mang tình yêu thương đến những người bất hạnh, kém may mắn hơn mình; sống đức tin không phải chỉ mến Chúa mà còn phải yêu người vì như Chúa dạy “Ai cho người đói ăn, người khát uống, người rách mặc… là đã làm cho chính Thầy đó.” Đạo Chúa không phải để “giữ” mà để “truyền”. Tin Mừng không phải để giấu kín, dành riêng cho bổn đạo mà phải được mọi thành phần dân Chúa làm loa phát đi, không rao phát bằng lời nói mà rao phát bằng đời sống, bằng hành động dấn thân phục vụ tha nhân”.
Tin Đạo, Giữ Đạo và Sống Đạo
Qua các tài liệu trên tôi hiểu ra rằng tôi có bổn phận làm tông đồ giáo dân để rao giảng những điều mình tin và sống những điều mình giảng. Tôi phải sống đạo chứ không chỉ giữ đạo. Mà sống đạo tức là phải thể hiện đức tin của mình qua lối sống công bình vị tha bác ái, biết cho đi hơn là nhận lãnh, và phải làm chứng cho Tin Mừng bằng hành động hơn là chỉ rao giảng xuông. Nhất là không được tự hào về những thành quả đạt được vì như thánh Phaolô đã từng nói, không phải tôi cải hóa người khác mà chính là nhờ quyền năng của Lời Chúa. Tôi cũng không được đòi hỏi Chúa phải trả công cho tôi; không được phàn nàn vì công tác tông đồ quá vất vả mà còn bị người khác hiểu lầm, ganh ghét hoặc chê bai này nọ.
Hiểu như vậy, tôi cảm thấy hổ thẹn về đức tin nông cạn của mình vì biết bao lần tôi đã tự hào rằng tôi tham gia vào nhiều đoàn thể công giáo tiến hành hơn các người khác; rằng Nhóm Nhỏ Kitô-hữu của tôi là nhóm duy nhất còn sinh hoạt trong khi các nhóm khác đã tan hàng sau Năm Thánh 2000; rằng tôi đọc nhiều sách và hiểu lẽ đạo thâm sâu hơn nhiều người khác; rằng một hội đoàn mà tôi đang tham gia tích cực nhất là hội đoàn hăng say nhất cộng đoàn, đóng góp nhiều nhất cho cộng đoàn và làm việc có phương pháp nhất cộng đoàn. Còn nhiều tự hào khác tôi vấp phải mà không đủ chỗ để kể ra cho hết.
Sau khi đã tìm hiểu, học hỏi và suy gẫm, tôi chợt hiểu ra ý Chúa khi các môn đệ xin ban thêm đức tin thì Chúa lại khuyên họ phải có thái độ khiêm hạ của một người đầy tớ vô dụng khi làm xong công việc chủ giao phó. Chính thái độ khiêm hạ xuất phát từ nhận thức được thân phận “đầy tớ vô dụng” của họ đã thể hiện đức tin đích thực của một người tin theo Chúa. Vì một khi đã nhận biết mình là “tôi đòi” của Chúa thì không có lý do gì để tự hào cả; còn việc có được khen thưởng hay không là do lòng khoan dung và nhân hậu của Chúa.
Lạy Chúa xin ban thêm đức tin cho con để con luôn luôn nhận thức được rằng con là “đầy tớ vô duyên bất tài, nhưng con luôn luôn trung tín chân thành” như lời của cha cố Phêrô Vũ Đình Trác đã ghi trong bản nhạc “Tình Chúa Yêu Tôi”. Và xin Chúa cũng ban thêm đức tin cho cả những anh chị em đang làm công tác tông đồ với con trong cộng đoàn của con nữa. Amen.
11 Wednesday Nov 2015
Thánh Lễ Trong Cuộc Đời (The Mass in your Life)
Thánh Lễ và Đời Sống
Thánh Lễ là trung tâm thờ phượng của đạo Công Giáo vì trong thánh lễ, chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng Mình Máu Chúa Kitô, bằng sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau trong cộng đồng dân Chúa. Hơn nữa, phép Thánh Thể trong thánh lễ bao gồm trọn vẹn kho tàng của Giáo Hội tức là chính Chúa Kitô, Bánh Vượt Qua và hằng sống của chúng ta (Euch. Myst., #6). Vì thế, Giáo Hội đòi buộc chúng ta phải đi tham dự thánh lễ ít nhất một lần mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật, và phải xưng tội rước lễ ít ra một lần trong Mùa Phục Sinh.
Thánh Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả Thánh Lễ trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, điều 47 như sau: “Vào Bữa Tiệc Ly, trong đêm bị nộp, Chúa Cứu Thế của chúng ta đã lập Phép Thánh Thể để vĩnh cửu hóa hy tế trên thập giá qua nhiều thế kỷ cho tới khi Người lại đến. Bằng phương thế này, Người muốn lưu truyền cho Hiền Thê yêu dấu của Người là Giáo Hội, việc tưởng niệm về cuộc tử nạn và phục sinh của Người: đó là một bí tích của tình yêu, một dấu chỉ hiệp nhất, một sợi giây ràng buộc bác ái, một bữa tiệc vượt qua ‘trong đó chúng ta rước lấy chính Chúa Kitô, hầu tâm hồn được tràn đầy ân phúc, và được bảo chứng cho vinh quang mai sau'”.
Vì những lợi ích thiêng liêng của thánh lễ, nên người Công Giáo chúng ta đi lễ hàng ngày hoặc ít nhất cũng đi lễ Chúa Nhật hàng tuần, để rước Mình Máu Chúa Kitô vào lòng rồi lãnh phép lành bình an cuối lễ và trở về với cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Vấn đề được đặt ra là để được hưởng ân phúc do thánh lễ đem lại, chúng ta phải thể hiện tinh thần thánh lễ trong cuộc sống hàng ngày bằng việc rao giảng Tin Mừng và thực thi bác ái đối với người khác. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, giống như những người khác, chúng ta cũng phải vật lộn với cuộc sống đầy bon chen, cạnh tranh ráo riết ở xã hội Mỹ này để nuôi gia đình, để có nhà có xe, có tiền đầu tư sinh lợi, có tiền đi giải trí, đi nghỉ hè hoặc phải dành dụm tiền để về hưu nữa. Bận rộn như vậy thì làm sao chúng ta có thì giờ để chia sẻ đức tin với người khác, và làm sao có đủ tiền bạc để giúp đỡ những người khác đang thiếu thốn hoặc gặp hoạn nạn. Nếu chúng ta chỉ đi dự thánh lễ, rước lễ rồi về tiếp tục cuộc sống thế tục mà thiếu tình bác ái đối với người khác thì liệu thánh lễ có ơn ích gì cho chúng ta không?
Để tìm giải đáp cho vấn đề này, chúng ta hãy thử tìm hiểu ý nghĩa của thánh lễ và đối chiếu thánh lễ trên bàn thờ với thánh lễ trong cuộc đời.
Thánh Lễ Trên Bàn Thờ
Thánh Lễ là một hy lễ tưởng niệm (memorial sacrifice), một hy lễ tạ ơn (thanksgiving sacrifice), và là hy lễ thánh vì thánh lễ hiện tại hóa một cách bí tich lễ hy tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô (sacramental actualization of Christ’s sacrifice) xưa trên đồi Golgotha một cách không đổ máu trên bàn thờ ngày nay để sinh ơn cứu độ cho cả nhân lọai (Hiến Chế về Giáo Hội, #28)(1).
Trong thánh lễ, khi cử hành phụng vụ Thánh Thể theo lệnh truyền của Chúa Kitô: ” Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, vị linh mục chủ tế lúc đó là hiện thân của Chúa Kitô, cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ ngợi khen Chúa Cha, rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn. Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy vào cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con cầm lấy mà uống. Nầy là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cữu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Website VietCatholic: Nghi Thức Thánh Lễ).
Trong phần cuối của thánh lễ trên bàn thờ, vị linh mục chủ tế ban phép lành cho chúng ta và chúc chúng ta ra về bình an. Khi trở về với cuộc sống hàng ngày, chúng ta phải mang theo sứ mệnh sống Lời Chúa nhắn nhủ trong bài Phúc Âm vừa nghe, và thực thi tinh thần Thánh Thể mà chúng ta vừa cử hành.
Trong thánh lễ, chúng ta hiệp dâng đời sống của chúng ta cùng với hy tế của Chúa Kitô lên Chúa Cha để xin ơn cứu độ. Nhưng của lễ chúng ta dâng chỉ đẹp lòng Thiên Chúa khi chúng ta sống theo thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày bằng cách chấp nhận những thử thách gian nan của đời sống Kitô-hữu, dấn thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi người, và thực thi bác ái để phục vụ tha nhân. Đó chính là thánh lễ trong cuộc đời của mỗi người Kitô-hữu chúng ta. (2).
Thánh Lễ Trong Cuộc Đời
Thánh lễ còn được gọi là Lễ Misa, do từ Latin “Missio” nghĩa là “Sai đi”. Thánh lễ kết thúc với lời Hội Thánh sai các tín hữu đi vào đời để họ thực thi thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày (x. GLCG, đ. 1332). Đó là thánh lễ trong cuộc đòi của mỗi tín hữu chúng ta.
Cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ:
Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng mọi tín hữu vì là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô, đều được tham dự vào cuộc sống của Chúa Kitô, nên họ đều mang trong mình lễ hiến tế của Người trong từng giây phút của cuộc đời “ngõ hầu sự sống của Người cũng được tỏ hiện nơi mình chúng tôi” (2Cor. 4:10). Vì thế cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ. Cũng như trong mỗi thánh lễ đều có phần công bố Lời Chúa, trong thánh lễ cuộc đời, Lời Chúa và Nhan Thánh Ngài cũng phải được công bố và biểu lộ ra qua mọi biến cố hàng ngày của người tín hữu. Trong mỗi thánh lễ đều có phần Truyền Phép để biến bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Kitô hầu làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, thì trong thánh lễ cuộc đời cũng phải có phần thánh hiến để biến bánh của mọi hoạt động và chén của những niềm vui nỗi buồn cùng mọi lao nhọc đau khổ để trở thành “thánh thể”, tức lời chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Đức Kitô. (3).
Cử hành thánh lễ trong đời sống hàng ngày
So chiếu với thánh lễ trên bàn thờ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng dâng lời ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa trong mọi công việc chúng ta làm; chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về mọi ơn lành chúng ta lãnh nhận; và chúng ta cũng phải “bẻ bánh” ra và trao cho những người khác bằng hành động chia sẻ đức tin và ân sủng Chúa ban cho người khác nữa.
Chúng ta chia sẻ ân sủng bằng việc thực thi bác ái đối với những người nghèo khó, phục vụ những người bệnh tật, họan nạn. Chúng ta chia sẻ đức tin bằng việc loan báo Tin Mừng cho người khác qua công tác tông đồ truyền giáo (4). Khi làm như vậy là chính chúng ta cũng đang cử hành thánh lễ trong cuộc đời để dâng lên Thiên Chúa mọi hành động và việc làm của chúng ta như của lễ tòan thiêu làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Thánh lễ trong cuộc đời là thể hiện tình huynh đệ để được ơn cứu độ
Phép Thánh Thể là nguyên lý hiệp nhất các Kitô-hữu thành nhiệm thể Chúa Kitô như Công Đồng Vaticanô đã qủa quyết: “Nhờ Bí Tích Thánh Thể, họ được tạo thành một thân thể liên kết chặt chẽ với nhau trong tình bác ái duy nhất của Chúa Kitô” (Sắc lệnh về Giám Mục, #15). Vì sự hiệp nhất trong tình bác ái duy nhất này, khi chúng ta tham dự vào Thánh Thể tức là chúng ta vừa tham dự vào đức bác ái, vừa phải thể hiện đức bác ái với tha nhân.
“Do đó, một cộng đồng cử hành Thánh Thể mà dửng dưng đối với những người khác, đặc biệt là các anh chị em trong cùng một cộng đồng, thì cuộc cử hành Thánh Thể chỉ là giả dối và vô nghĩa mà thôi. Nếu Mình Thánh Chúa được chứa đầy trong Nhà Tạm mà tâm hồn ta trống rỗng tình bác ái, điều đó có ích lợi gì cho ai. Khi ta đến rước Mình Thánh Chúa nơi cùng một bàn thờ, tham dự vào cùng một tấm bánh trong khi thiếu tình bác ái đối với nhau, không quan tâm gì đến nhau, thì quả ta đã làm cho Diện Mạo Chúa Kitô biến dạng đi và bôi nhọ Thánh Nhan Người. Thờ lạy và yêu mến Chúa hiện diện thực sự trong Nhà Tạm dễ hơn gấp bội thờ lạy và yêu mến Người hiện diện nơi tâm hồn tha nhân. Tóm lại, vì Phép Thánh Thể là ‘Bữa tiệc hiệp thông tình huynh đệ’ (Hiến Chế về Giáo Hội, #38), nên Bí Tích này luôn mời gọi và thôi thúc ta không những đi tới sự hiệp nhất trong tình bác ái huynh đệ, mà còn phải thể hiện tinh thần ấy nơi cuộc sống hàng ngày nữa.” (5).
Trong đời sống thường nhật đầy bon chen và thụ hưởng vật chất ngày nay, mỗi người chúng ta thường gặp những trạng huống đầy thử thách và cám dỗ, khiến chúng ta khó lòng thể hiện tình huynh đệ và thực thi bác ái với người khác, nhưng chúng ta phải kiên trì trong mọi thử thách và tuyệt đối trung thành với Chúa đến cùng thì mới được hưởng ơn cứu độ muôn đời. (6).
Thánh lễ trong cuộc đời tôi: Chứng từ của một giáo dân
Qua các phần trình bầy trên, người ta cảm thấy rằng cách hữu hiệu nhất để được ơn cứu độ là kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày của mình. Nhưng ngoài một số ít các vị thánh ra, người ta tự hỏi không biết có ai trong đại đa số các giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Chúa như thánh Phaolô tông đồ đã cảm nhận: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal. 2:20).
Để trả lời cho câu hỏi này, mời quý anh chị cursillista lắng nghe tâm tình dưới đây của một giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống ơn gọi gia đình. (7).
Ông là một giáo dân đã từng thao thức tự hỏi mình là làm sao cảm nhận được nên một với Chúa khi rước Mình Máu Chúa vào lòng mỗi khi tham dự thánh lễ? Ông đã từng siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch trước khi rước lễ, chầu Thánh Thể hằng giờ nữa. Nhưng ông vẩn không sao cảm nhận được nên một với Chúa. Ông suy nghĩ liên lỉ mà vẫn không tìm ra câu trả lời.
Cho đến khi ông tham dự buổi lễ kết thúc Năm Thánh Thể 2005 của giáo phận Worcester, nơi ông cư ngụ, ông vô tình đọc được một hàng chữ quen thuộc in trên tập sách nhỏ phát ra trong buổi lễ như sau: “Do this in memory of me” (Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy). Đột nhiên ông nghẹn ngào và bật khóc nức nở chỉ vì một hàng chữ quá đỗi quen thuộc mà ông coi thường không để ý đến. Tâm hồn ông xao động mạnh suốt ngày hôm ấy và niềm vui dâng trào không sao diễn đạt nổi. Ông cảm nhận rằng ông đã được gặp gỡ Chúa qua câu quen thuoäc này, và chính Chúa đã trả lời cho câu hỏi mà ông hằng thắc mắc lâu nay. Ông cảm tạ Chúa đã cho ông hiểu được ý nghĩa của lời Chúa mời gọi mọi người cử hành bí tích Thánh Thể qua câu nói đó, và ông cảm thấy có bổn phận phải mang Tin Mừng này cho tất cả mọi người dân Chúa.
Ông kể lại những điều Chúa nói với ông rằng: muốn nên một với Chúa qua mầu nhiệm Thánh Thể là phải làm và sống giống như Chúa: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” (Lc. 22:19). Câu này có nghĩa là phải cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong cuộc sống hàng ngày của mình, nghĩa là phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình mà chia sẻ cho tha nhân với lòng yêu thương chân thành như Chúa đã yêu ta đến nỗi chết vì ta vậy.
Chúa nói với ông rằng: “Để được nên một với Ta, con hãy làm giống như Ta với lòng yêu thương chân thành nhất mà chính Ta đã dạy và làm cho con từ cái chết đau thương trên Thánh Giá. Để được nên một với Ta, không chỉ là tham dự Thánh Lễ mỗi ngày, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch rước mình máu Ta vào trong lòng con hay chầu Thánh Thể hằng giờ là đủ đâu, mà chính là con phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình ra mà chia sẻ cho tha nhân. Mà đã yêu thì phải yêu cho đến chết.”
…
Ông chia sẻ tiếp: “Nếu chúng ta cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong đời sống hằng ngày như thế, Chúa sẽ hiện diện và đồng hành với mình cũng như khi rước Mình Máu Chúa vào trong lòng mỗi khi đến tham dự Thánh Lễ, chúng ta sẽ cảm nhận được nên một với Chúa qua Bí Tích Cực Thánh này, và nếu mọi người Kitô cùng làm như thế là chúng ta đang hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất với chính Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh trong một tình yêu duy nhất…”
Vì đã cảm nghiệm được ý nghĩa linh thiêng của việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày, ông ước mong rằng tất cả mọi người dân Chúa gồm mọi giáo dân và kể cả các linh mục “nên cử hành Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày để cùng được nên một với Chúa Kitô trong một tình yêu vĩnh cửu và đó cũng là con đường dẫn chúng ta về quê trời, có như vậy tất cả chúng ta mới có thể nếm được Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày với Chúa và với nhau.”
Cuối cùng ông đề nghị các việc cần làm để cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày.
“Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ chén cơm manh áo hằng ngày trên bàn ăn trong gia đình của tôi cho người anh chị em kém phần may mắn, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ sức lực mà Thiên Chúa ban cho tôi, vì họ là vợ, là chồng, là con cái và là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ trí thông minh để góp phần xây dựng cho Giáo Hội và cho tha nhân nhằm vô điều kiện mà chính Thiên Chúa đã ban tặng, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết quan tâm đến cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng, con cái, biết xót thương những người gìa đơn chiếc, những người bệnh tật và những người khôn khồ trong xã hội hôm nay, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết khiêm nhường, biết tha thứ, biết nhận lỗi sửa sai và biết cảm thông đến những người xung quanh khi họ gặp khó khăn, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết nhịn nhục, kiên nhẫn khi gặp phải gian nan khốn khó trong cuộc sống cũng như khi bị người đời xúc phạm đến mình, biết vui với người vui, biết khóc với kẻ khóc, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là cầu nguyện cho những người đã khuất, cầu nguyện cho Giáo Hội hiệp nhất nên một tình yêu mà Chúa hằng mơ ước, vì họ là anh chị em tôi.
Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết chu toàn bổn phận mỗi ngày, vì tất cả mọi sự dẫn đến cho tôi đều nằm trong chương trình của Chúa giúp tôi nên Thánh.”
Lạy Chúa,
Cảm tạ Chúa đã cho con hiểu được làm sao để được nên một với Chúa.
Xin cho con biết rộng lượng bẻ đôi tấm bánh đời mình mà không cần do dự.
Xin cho con biết cảm nhiệm được Chúa trong mọi sự khi Chúa cần đến con.
Xin cho con biết lắng nghe những gì Chúa đang mời gọi con trong cuộc đời.
Xin cho con biết thực hành những gì Chúa dạy bảo con qua lời của Chúa.
Xin cho con biết thương anh em như chính Chúa đã thương con.
Xin cho con biết yêu mến hai chữ phục vụ là quà tặng mà Chúa dành cho con.
Xin cho con biết cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày.
Vì đó là con đường dẫn con nên một với Chúa. Amen.
Ghi chú:
11 Wednesday Nov 2015
Tags
Thánh Lễ Là Thiên Đàng Nơi Hạ Giới
Tác giả: TTTH
Trong cuốn sách nổi tiếng “The Lamb’s Supper: the Mass As Heaven On Earth” (Bữa Ăn Tối của Con Chiên: Thánh Lễ Như Thiên Đàng Nơi Hạ Giới), Tiến sĩ Scott Hahn, một mục sư Tin Lành trở lại Công Giáo, đã diễn tả cảm nghiệm của ông về thánh lễ misa như Thiên Đàng nơi hạ giới.
Sau 20 năm nghiên cứu sách Khải Huyền (Revelation) để cố tìm ra ẩn ý mà thánh sử Gioan viết về mạc khải của ông khi được chiêm ngưỡng cảnh thiên đàng, tiến sĩ Scott Haln đã hòai công vô ích. Nhưng từ khi ông tham dự thánh lễ misa của đạo Công giáo vì tò mò muốn tìm hiểu nghi lễ phụng vụ này mà ông đọc thấy trong các tài liệu về Giáo Hội Tiên Khởi cũng như trong các sách của các gíao phụ truyền lại, ông liền nhận ra sự liên hệ sâu xa và mật thiết giữa các nghi thức phụng vụ trên thiên đàng với thánh lễ misa, nghi thức phụng vụ chính yếu của Giáo Hội Công Giáo. Sau hai tuần tham dự thánh lễ misa hàng ngày, ông từ từ nhận ra rằng thánh lễ misa chính là việc thờ phượng trên Thiên Đàng đã được thánh Gioan diễn tả trong sách Khải Huyền.
1Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên:
“Ha-lê-lui-a! Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ, Đấng vinh hiển uy quyền!
2Những lời Người phán quyết đều chân thật công minh!
Vì Người đã xét xử Con Điếm khét tiếng từng dùng chuyện gian dâm mà làm cho mặt đất ra hư hỏng, và Người đã bắt nó phải đền nợ máu các tôi tớ của NgườI mà chính tay nó đã giết.”
3Lần thứ hai họ lại hô: “Ha-lê-lui-a! Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp! “4Bấy giờ, hai mươi bốn vị Kỳ Mục và bốn Con Vật phủ phục xuống thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai, mà tung hô: “A-men! Ha-lê-lui-a! ” 5Rồi từ ngai có tiếng phát ra:
“Nào ca ngợi Thiên Chúa chúng ta, hỡi tất cả tôi trung của Chúa, hỡi những ai lớn nhỏ hằng kính sợ Người! ” 6Tôi lại nghe như có tiếng hô của đoàn người đông đảo, nghe như tiếng nước lũ, như tiếng sấm vang dữ dội:
“Ha-lê-lui-a! Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng đã lên ngôi hiển trị.
7Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ dâng Chúa lời tôn vinh,
8vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên,
và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,
nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền.”
9Thiên thần bảo tôi: “Hãy viết: Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên! ” Người lại bảo tôi: “Đó là những lời chân thật của chính Thiên Chúa.”10Tôi phủ phục xuống dưới chân người mà thờ lạy, nhưng người nói: “Đừng, đừng! Tôi cũng là một tôi tớ như ông và như các anh em của ông, những người giữ lời chứng của Đức Giê-su. Hãy thờ lạy Thiên Chúa.” Lời chứng của Đức Giê-su, là thần khí linh hứng cho ngôn sứ. (Kh 19:1-10)
Theo cảm nghiệm của ông, thánh lễ nơi hạ giới chính là việc diễn tả lại Tiệc Cưới của Con Chiên đã được mô tả trong sách Khải Huyền nêu trên. Khi chúng ta cử hành phụng vụ thánh lễ, Chúa Kitô hiện diện ở đó và huyền diệu thay, ngay giây phú đó, chúng ta được tham dự vào Bữa Ăn Tối Vĩnh Cửu của Con Chiên.
Khi nghiên cứu về nghi lễ phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, tác giả cũng còn khám phá ra rằng Giáo Hội Công Giáo từ lâu đã nhìn nhận thánh lễ chính là bữa tiệc cưới của Con Chiên, là thiên đàng nơi hạ giới này:
Trọng tâm của thánh lễ là hình ảnh Con Chiên trở thành hy lễ. Con chiên chính là Chúa Kitô, Chiên Thiên Chúa đã tự hy tế để xóa tội trần gian. Trong thánh lễ, Chúa Kitô vừa là vị tư tế vừa là vật hiến tế:
“Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”
“Máu này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22:19-20).
Chúa Giêsu hiến tế chính mình để tiêu diệt tội lỗi (Dt 9:26) vì Ngài là một hy tế hòan hảo nhất, không tì vết để đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa tòan hảo, thánh thiện và nhân hậu. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa Giêsu, chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử hành thánh lễ.
Sau khi đối chiếu những hy tế của dân Do Thái trong Cựu Ước với hy tế của Chúa Giêsu trong Tân Ước, tác giả kết luận rằng những hy tế trong Cựu Ước mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa. Và giờ đây chúng ta cũng được dâng hiến cùng một lễ hy tế này với Chúa Giêsu trong thánh lễ (x. Kinh Nguyện Thánh Thể IV, III).
Chúa Giêsu đã dâng hiến chính mình làm lễ hy tế đền tội thay cho chúng ta và cứu độ chúng ta. Nhưng để đáng được ơn cứu độ đó, chúng ta phải làm gì?
Theo ý tác giả, chúng ta phải làm ba việc sau đây:
Từ cảm nghiệm được ý nghĩa tuyệt vời rằng thánh lễ là thiên đàng nơi trần thế, tác giả mời gọi chúng ta tham dự thánh lễ với một nhận thức mới, cử hành thánh lễ với một trái tim mới, và cảm nghiệm thánh lễ một cách thâm sâu hơn, rung động hơn, tràn đầy hơn và thần diệu hơn. Tác gỉa còn hối thúc chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không đi vào cảm nghiệm này ngay đi, vì “Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa” (Heaven can’t wait).
Tài liệu tham khảo:
* Sách: “The Lamb’s Supper: The Mass As Heaven On Earth” by Scott Haln, nxb: Double Day, New York, 1999.
* Bài “Những Nhận Thức Mới Về Thánh Lễ” – đăng trên tuần báo điện tử Maranatha, do Hòang Quý viết theo tiến sĩ Scott Haln.
11 Wednesday Nov 2015
Posted in ĐS16