• About
  • Tâm Linh
    • Suy Niệm
    • Hiểu và Sống Tin Mừng
    • Giáo Huấn GHCG
    • Thần Học
  • Hôn Nhân & Gia Đình
    • Hôn Nhân
    • Gia Đình
  • Sống Khỏe
  • Giải Trí
  • Thơ
  • Nhạc
  • Tranh Ảnh
  • Điều Cần Biết
  • Xã Hội
    • Tôn Giáo
    • Chính Trị
    • Văn Hóa
    • Giáo Dục
    • Kinh Tế
    • Kỹ Thuật
    • Triết Lý
    • Ẩm Thực
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • ĐS16
  • QGHC
  • HBT/TNTTW
  • Linh Tinh

locnvu.blog

~ This site is belonged to Loc Vu

locnvu.blog

Category Archives: Chính Trị

VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

06 Friday May 2016

Posted by locngocvu in Chính Trị, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

2016, tháng tư đen, vai trò của tôn giáo trước hiện tình đất nước, Đức Cha Nguyễn Văn Long

VAI TRÒ CỦA TÔN GIÁO TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

(Bài nói chuyện của Đức Cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Melbourne, Úc Châu, trong Đêm Tưởng Niệm Tháng Tư Đen, do Quỹ Yểm Trợ Đấu Tranh cho Nhân Quyền Việt Nam, tổ chức tại nhà hàng Seafood Palace, thành phố Westminster, California, ngày thứ Năm 28 tháng 4 năm 2016.)

Kính thưa quý vị đại diện lãnh đạo các tôn giáo, các tổ chức và quý đồng bào,

Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đến Thủ Đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới, một nơi tuy không phải là quê cha đất tổ của chúng ta, nhưng nó mang đầy sắc thái của một tổ ấm của đàn chim Việt đang tản mác khắp bốn phương trời. Với cái tên Sài Gòn nhỏ, với những lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay ngạo nghễ, với những sinh hoạt văn hóa truyền thống và lịch sử trong một môi trường dân chủ, tự do, pháp quyền, đây không chỉ là nơi “đất lành chim đậu” hay là một điểm son của một nước siêu cường Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Trong hoàn cảnh quê hương chúng ta bị thể chế cộng sản độc tài đảng trị làm băng hoại về mọi mặt, đây cũng là nơi bảo trì và phát triển văn hóa, lịch sử và truyền thống tinh túy của cha ông chúng ta. Nơi đây chúng ta không đóng khung, không quên nguồn gốc, không an phận trong tâm trạng tha phương cầu thực mà thực hiện trách nhiệm thiêng liêng với đồng bào quốc nội và với tiền đồ dân tộc. Nơi đây, chúng ta –những người tỵ nạn cộng sản, những con dân nước Việt còn trăn trở cho hiện tình đất nước– cùng nhau thực hiện giấc mơ chưa thành của những người đã hy sinh cho tổ quốc. Giấc mơ đó là gì thưa quý vị và đồng bào? Đó là ngày khải hoàn của công lý, của sự thật, của sự nhân bản, của những giá trị Chân-Thiện-Mỹ trên quê hương. Đó là ngày chiến thắng của ánh sáng trên tối tăm, sự lành trên sự dữ, chí nhân trên cường bạo và đại nghĩa trên hung tàn. Đó là ngày cánh chung của chế độ Cộng Sản và ngày quang phục của một Việt Nam thực sự độc lập, dân chủ và vững mạnh trước những thử thách mới. Bao lâu còn bị cai trị bởi chế độ cộng sản, quê hương chúng ta sẽ mãi mãi còn bị băng hoại và bế tắc toàn diện.

Tôn giáo và chính trị:

Tôn giáo và chính trị là hai thực thể mà nhiều người cho là không được trộn lẫn hay phải tách rời. Có nhiều người Công Giáo rất quảng đại với các dự án tình thương ở Việt Nam, xây nhà thờ, nhà xứ, Trung tâm Hành Hương v..v… nhưng họ lại rất dị ứng với các vấn đề Nhân Quyền và Công Lý. Họ có thể cho 5,3 ngàn cho giáo xứ này, dòng tu nọ ở Việt Nam. Còn mua một cái vé số $10.00 để ủng hộ cho Tù Nhân Lương Tâm thì họ đắn đo ngại ngùng. Họ cho rằng đó là làm chính trị! Thế thì Chúa Giêsu có làm chính trị hay không khi Ngài thực thi sứ mạng cứu thế: “Thần khí Chúa.. giải thoát cho kẻ bị giam cầm, đòi tự do cho kẻ bị áp bức…”?
Nhưng không ai, kể cả những người tu hành như tôi, có thể dửng dưng với những vấn nạn xã hội do sự lãnh đạo hay thể chế chính trị gây ra. Chúng ta không thể sống đạo tức là tìm những điều hay lẽ phải mà lại không quan tâm tới sự dữ và sự bất công đang tràn lan trên quê hương. Chúng ta không thể yêu Thiên Chúa mà lại không để ý tới tiếng kêu than của dân oan. Trước khi làm người Công Giáo, trước khi làm giám mục, tôi là người Việt Nam; tôi chịu ơn những anh hùng hào kiệt đã hy sinh cho tiền đồ dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Tôi chịu ơn những chíên sỹ Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ tự do cho tôi. Tôi chịu ơn những thuyền nhân đã không may mắn như tôi, nhưng cũng chính vì những cái chết thương tâm của họ mà thế giới tự do đã đón nhận những người tỵ nạn cộng sản còn sống sót như tôi.Tôi không thể không trăn trở với hiện tình đất nước; tôi không thể không nhắm mắt làm ngơ với hệ thống chính trị lỗi thời là chế độ cộng sản đang làm cho đất nước băng hoại hoàn toàn. Trên huy hiệu giám mục của tôi có lá cờ VNCH trải ngang như làn sóng trên nền xanh là đại dương. Tôi không thể bỏ quên quá khứ và căn tính tị nạn của mình. Tôi không ngần ngại khẳng định lập trường của mình là: không bao giờ tách lìa lý tưởng một Việt Nam phi cộng sản và một Việt Nam nhân bản ra khỏi sứ mạng giám mục của tôi. 
Năm 1982 khi về quê hương mình còn đang sống dưới chế độ cộng sản, ĐGH Gioan Phaolô II đã mạnh dạn công bố trong Thánh Lễ đại trào: “Anh chị em thân mến. Dù đời sống của người Ba Lan khó khăn thế nào, chúng ta cung đừng nản lòng tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm của con người.” Điều này đã cho chúng ta thấy rằng, tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm không phải là việc làm của những kẻ muốn chính trị hóa tôn giáo mà là bổn phận‘nhập thể hóa’ Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo trong nhà thờ hay chùa chiền, nếu chúng ta chỉ đóng khung tôn giáo trong những vấn đề siêu nhiên mà hoàn toàn vô cảm với những vui mừng và hy vọng, những sợ hãi và lo âu của đồng loại, thì phải chăng tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ chúng ta như lời Karl Marx? Đây cũng là chiêu bài của cộng sản. Họ muốn tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ dân chúng. Họ muốn biến tôn giáo trở thành một công cụ của chế độ và phục vụ sự độc quyền chính trị của họ.

Công lý xã hội dưới ánh sáng Phúc Âm:

Phúc Âm và đời sống không thể tách lìa nhau; tôn giáo và chính trị không thể không liên hệ với nhau. Vai trò ngôn sứ của Giáo hội đòi buộc người tín hữu ở mỗi bậc và mỗi hoàn cảnh phải tranh đấu cho một xã hội phản ảnh Vương Quốc của Thiên Chúa.
Thực thế, truyền thống công lý xã hội trong Kinh Thánh là bằng chứng hùng hồn về sự nhập thế của các giá trị siêu nhiên vào đời sống tự nhiên của con người. Ơn cứu độ không chỉ có nghĩa là một sự giải thoát của linh hồn và đời sống vĩnh hằng trên Thiên Quốc mà là sự giải thoát con người toàn diện. Ngay trên cõi đời này vàngay trong xã hội này, con người được mời gọi để sống cuộc sống sung mãn với Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, sống đức tin và sống thánh thiện không chỉ có một chiều dọc, tức là thờ phượng kính mến Chúa. Sống đức tin và sống thánh thiện không thể tách lìa khỏi tiến trình công lý hóa xã hội và phong phú hóa đời sống con người.
Tiên tri Isaiah đã định nghĩa cho chúng ta thế nào là giữ đạo, đó là “phá vỡ xiềng xích của bọn ác nhân, cất đi gánh nặng của kẻ lầm than, giải thoát cho kẻ bị áp bức và phá tan mọi gông xiềng” (Isaiah 58:6). Đức Kitô đi đến đâu cũng quan tâm đến người cùng khốn trong xã hội. Ngài đứng về bên những người nghèo hèn, bị áp bức, bắt bớ, thiệt thòi và bất công. Ngài lên án những người dùng quyền lực, địa vị và ảnh hưởng của mình để làm tổn thương, triệt hạ người khác và khuynh đảo xã hội.
Quan hệ giữa Công giáo và cộng sản qua những giai đoạn lịch sử:
Một số quý vị lớn tuổi ở đây chắc đã từng trải qua thời kỳ Việt Minh vào những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ở Bắc Việt, Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, đã có thời lập ra khu Bùi Chu – Phát Diệm tự trị với cả những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, chống lại chính quyền Việt Minh do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đối với ngài cũng như rất nhiều giám mục miền Bắc trong thời kỳ đó đã không ngần ngại dấn thân cho quê hương và có thể nói vượt qua cái ranh giới thông thường của đạo và đời, tôn giáo và chính trị. Hôm nay, tôi không có ý hoài niệm về một quá khứ mà nhiều người trong thế hệ cha anh rất tự hào về giáo hội Việt Nam; tôi càng không có ý cổ võ một con đường chống đối bạo động dù đối với chế độ vong bản phi nhân. Tuy nhiên, khi lấy cuộc sống sung mãn làm mục đích, chúng ta không thể mặc nhiên để sự ác hoành hành khống chế xã hội. Sự ác này không những thể hiện nơi cá nhân hay đoàn thể. Tôi cho rằng sự ác lớn nhất đang hoành hành trên đất nước chúng ta hôm nay chính là tà quyền và hệ thống chính trị đưa con người vào chỗ bế tắc. Tôi cho rằng chỉ có một Việt Nam hết nô lệ bởi ý thức hệ cộng sản, hết trói buộc bởi cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh, hết bị xiềng xích bởi định hướng xã hội chủ nghĩa thì mới có thể vươn mình đứng dậy.
Tôi mở ngoặc ở đây để nói về những lời phát biểu được coi là rất đột phá của một số đại biểu tại quốc hội cộng sản Việt Nam (Trương Trọng Nghĩa, Dương Trung Quốc). Họ dám mạnh dạn lên tiếng về tình trạng không an toàn về pháp lý, các quyền tự do dân chủ không bảo đảm đầy đủ và lo sợ ở đất nước bị lệ thuộc. Thế nhưng, cả những đại biểu phản tỉnh này vẫn còn trong cái vòng luẩn quẩn của chủ nghĩa xã hội. Họ chưa có can đảm để nói lên cái cội rễ của sự bế tắc toàn diện, thậm chí còn thần thánh hóa ông Hồ Chí Minh: Bao lâu còn bị nô lệ bởi ý thức hệ cộng sản, bấy lâu đất nước sẽ không có lối thoát. Chỉ khi không còn cái quái thai do Hồ Chí Minh sinh ra và đảng cộng sản tiếp tục nuôi dưỡng thì dân tộc ta mới ra khỏi cơn ác mộng.
Trong cuốn “Chứng từ của một giám mục” mà các bác trong nhóm “Diễn Đàn Giáo Dân” đã xuất bản năm 2009, người đọc có cảm tưởng tìm được một đóa hoa sen tinh khiết lừng lững vươn lên giữa bùn lầy nhơ bẩn. Sống qua những biến cố hải hùng nhất khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh trừng nội bộ, cải cách ruộng đất, chủ trương bạo động cách mạng, di cư 54, xâm lăng miền nam v..v.. Gíam Mục Lê Khắc Trọng luôn có cái nhìn sâu sắc để nhận biết hư thật trong cái chế độ gỉa dối tuyên truyền. Quan trọng hơn nữa, ngài luôn giữ vững lập trường không thỏa hiệp và không nhượng bộ trước những âm mưu khống chế và lợi dụng tôn giáo của cộng sản. Thái độ dứt khóat của ngài về cái tổ chức tiền nhân của “Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo” là một điều tiêu biểu.
Những năm gần đây, tiếp theo chính sách đổi mới của đảng CSVN, một phong trào tô điểm cho chế độ với những nới lỏng về kinh tế, tôn giáo, du lịch v.v.. được tuyên truyền rầm rộ. Thực tế là như thế nào? Đó chỉ là một sự đổi mới giả tạo, một kiểu sơn phết bên ngoài trong khi cả hệ thống chính trị như căn nhà đã mục nát từ bên trong cái nền tảng của nó.
Theo chính sách đổi mới nửa vời này, cái tôn giáo cũng đã được hưởng một số tự do “xin cho” của chế độ. Vì thế, gần đây chùa chiền, nhà thờ, dòng tu, trung tâm hành hương v.v.. cứ như trăm hoa đua nở trên khắp nước. Thậm chí có những nơi người dân sống thật cơ cực nhưng nơi thờ phượng thì vẫn sang trọng. Nếu là một du khách từ Úc hay Mỹ thăm Việt Nam, họ sẽ ngạc nhiên khi thấy các nhà thờ hay chùa chiền xây lên với mức kỉ lục. Những khu công giáo di cư như ở Hố Nai Gia Kiệm, người ta có cảm tưởng là có một phong trào xây và tu bổ nhà thờ. Lại nữa, họ sẽ thấy các sinh hoạt tôn giáo như rước sách, lễ hội, hành hương v.v.. thật đông đúc năng động. Có nhiều đấng bậc còn chế diễu những ai chỉ trích chế độ là chúng ta phải cám ơn cộng sản vì họ đã làm ơn cho giáo hội.
Tôi không có ý chỉ trích việc xây cất sửa sang nơi thờ phượng. Tôi cũng không phê bình việc tổ chức các lễ hội hay rước sách trọng thể. Nhưng nếu chúng ta chỉ đo lường sự năng động của Giáo Hội qua những sinh hoạt thuần tuý tôn giáo thì tôi e rằng đó là một sự thẩm định phiếm diện. Truyền thống đức tin Công Giáo luôn gắn liền với công bình xã hội, nhân phẩm con người, lợi ích chung và các giá trị căn bản. Nếu chúng ta có nhiều nhà thờ, nhiều người đi lễ, nhiều linh mục tu sĩ, nhiều lễ hội v.v.. mà chưa làm muối men cho tiến trình công lý hoá cho xã hội, chưa dấn thân trong việc phục hồi nhân phẩm con người, lợi ích chung và các gía trị căn bản thì tôi cho rằng chúng ta chưa thực hiện đầy đủ vai trò làm lương tri của xã hội.
Tôn giáo là lương tri của xã h̉ội hay là công cụ của chế độ?
Lịch sử Việt Nam qua nhiều thời đại đã minh chứng được sự dấn thân của người tín hữu thuộc mọi thành phần giáo hội vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Thế nhưng trong xã hội toàn trị, sự ru ngủ lương tri của giáo hội đã trở thành một hiện tượng phổ biến nằm trong chính sách công cụ hóa tôn giáo của ta quyền cộng sản. Các cụm từ như ‘tôn giáo và dân tộc,’ ‘tốt đời đẹp đạo,’ ‘giáo dân tốt công dân tốt,’ ‘kính Chúa yêu nước’ và ‘đồng hành cùng dân tộc’ đã trở thành những viên thuốc an thần để ru ngủ lương tri và vô hiệu hóa vai trò ngôn sứ của giáo hội. Tại La Vang năm 2010 Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân đã ban huấn từ cho cả các giám mục Việt Nam về việc mà ông gọi là “đồng hành cùng dân tộc.” Bằng chiêu bài đồng hóa đảng với dân tộc họ biến lòng yêu nước thành yêu đảng và chống đảng là chống lại dân tộc. Điều đáng buồn là liều thuốc an thần này đang làm ru ngủ và làm vô cảm lương tri của nhiều người Việt Nam, kể cả người tín hữu. Đồng hành cùng dân tộc không thể là đồng hành cùng chế độ, nhất là khi chế độ đó đang đưa dân tộc vào chỗ diệt vong.

Quý vị thân mến,
Nhưng tôi nghĩ rằng nếu tôn giáo mà mất vai trò ngôn sứ thì nó bị thuần hóa và trở thành công cụ của chế độ. Lúc đó, chúng ta không còn là tiếng kêu trong hoang địa như ông Gioan Tẩy Giả nữa mà sẽ là tiếng xèng kêu inh ỏi (1Cor 13:1). Thánh Phaolô nói là nếu tôi làm được nhiều điều cao trọng mà không có đức ái thì tôi chỉ là chiếc thùng rỗng kêu to. Điều này có thể áp dụng vào việc chúng ta chu toàn sứ mạng Phúc Âm. Nếu Giáo Hội chưa dấn thân trong việc phục hồi nhân phẩm con người, lợi ích chung và các gía trị căn bản, nhất là trong một xã hội không tôn trọng nhân quyền như tại Việt Nam, thì có phải chúng ta chỉ là tiếng xèng kêu inh ỏi hay không?
Gần đây tại Việt Nam, có phong trào xây cất các trung tâm hành hương và các trung tâm sinh hoạt của các địa phận và dòng tu. Riêng tại Xuân Lộc, giáo phận đã mua được hàng trăm mẫu đất và một chương trình kiến thiết đồ sộ đang được tiến hành. Được biết giáo phận lớn nhất nước này có hy vọng Trung Tâm Núi Cúi sẽ là nơi tiếp đón ĐGH Phanxicô một khi ngài được đảng CSVN cho phép đến. Tôi chắc chắn rằng nếu đặt chân tới VN, ĐGH sẽ được tiếp đón một cách vô cùng long trong. Thế giới bên ngoài sẽ nhìn thấy một hình ảnh một giáo hội công giáo hơn cả nhiều nước bên tây phương về con số giáo dân, linh mục, tu sĩ và về những biểu hiện đức tin bề ngoài. Đó sẽ là một hình ảnh để chế độ cs có thể tuyên truyền về chính sách tự do tôn giáo của họ. Thế nhưng nếu chúng ta đo lường vai trò giáo hội theo tiêu chuẩn phúc âm, tức là ảnh hưởng của giáo hội như men dậy bột, như đèn sáng trong đêm tối, như tiếng nói sự thật giữa sự gỉa dối thì tự hỏi sứ mạng đó đang được chu toàn như thế nào. Nếu chúng ta có đội ngũ linh mục tu sĩ đông đảo, có nhà thờ to, chùa đẹp, Trung Tâm hành hương hoành tráng…nhưng với cái giá là bị vô hiệu hóa vai trò làm lương tri xã hội, làm người đồng hành với người sầu khổ, bênh vực dân oan, quan tâm tới kẻ chịu bất công, đóng góp vào tiến trình công lý hoá xã hội v..v.. thì còn ý nghĩa gì?
Tôi cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Giáo Hội vị Cha Chung luôn quan tâm đến những người bị bỏ rơi, nhất là những nạn nhân của bất công.Trong tông huấn mang tựa đề “Niềm vui của Tin Mừng”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng “tôi muốn một Giáo Hội bị thương tích, đau đớn và lấm bùn vì đã dám dấn thân xuống đường thay vì một Giáo Hội ẩn mình sau một lớp bình phong của kinh kệ, lễ nghi và lề luật mà xa lìa những tâm hồn đổ nát”. Tôi cho rằng đây là một lời hiệu triệu và một sự thách thức cho Giáo Hội Việt Nam để chúng ta ẩn mình trong những cơ sở vật chất hoành tráng mà quên đi sứ mạng đồng hành với những người bị ức hiếp trong lộ trình đấu tranh cho công lý.
Cách đây 30 năm Đức Hồng Y Giacobe Sin ở Phi Luật Tân đã dẫn hơn 1 triệu giáo dân xuống đường trong cuộc “cách mạng Hoa Mân Côi”. Sở dĩ gọi như hế là vì những người biểu tình chỉ cầm trong tay có tràng hạt! Họ đọc kinh, ca hát và đồng thời kêu gọi Tổng Thống Fidel Marcos từ chức vì sự bế tắc chính trị trong nước. Ông Fidel Marcos đã bị lật đổ vì sức mạnh quần chúng (people power). Nhưng xét cho cùng, sự sai trái của ông Marcos không thể so sánh với những tội ác tầy trời của Cộng sản Việt Nam.
Một chút nữa đây, chúng ta sẽ cùng xem qua một vài hình ảnh nói lên tội ác tầy trời của Cộng Sản. Từ cải cách ruộng đất cho đến di cư 54, từ Tết Mậu Thân cho đến mùa hè đỏ lửa 72, từ biến cố 30-4.75 cho đến cuộc vượt bên vô tiền khoáng hậu. Những năm gần đây, một cuộc dàn xếp trao đổi mờ ám giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và quan thầy Trung Cộng đã diễn ra. Hậu quả là Đảng CSVN được bảo vệ quyền lực và bổng lộc để đổi lại sự mất chủ quyền cho Trung Cộng và khống chế toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, môi trường, quân sự, quốc phòng. Biến cố ô nhiễm tại Vũng Áng gây tổn thất sinh thái và ảnh hưởng độc hại cho hàng triệu người tại các tỉnh ven biển miền Trung là tiêu biểu cho sự trao đổi mờ ám này. Đây có phải là biến cố “tức nước vỡ bờ” và cơ hội để người dân Việt Nam vượt qua sự sợ hãi hay không? Cô giáo Trần thị Lam ở Hà Tĩnh đã viết lên một bài thơ thật ai oán:
Đất nước mình ngộ quá phải không anh?
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…
Đất nước mình lạ quá phải không anh?
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…
Đất nước mình buồn quá phải không anh?
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…
Đất nước mình thương quá phải không anh?
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu… 80 tỷ, 95%GDP muc an toàn 60%

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh?
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

Giáo Hội Phi Luât Tân đã mạnh dạn nhập vào cuộc khi chính phủ độc tài Marcos ban hành lệnh thiết quân luật và triệt hạ các đối thủ chính trị. Giáo Hội Việt Nam có thể đứng ngoài lề khi đất nước đang đứng trước bờ vụng thẳm của sự diệt vong. Muốn phục hưng đất nước, chúng ta không thể làm ngơ với hệ thống chính trị tha hóa, chúng ta không thể cắt bỏ cái bưới ung thư là chế độ Cộng Sản. Tôi dám khẳng định là chúng ta không thể yêu nước mà không chống Cộng và diệt Cộng vì ý thức hệ Cộng Sản chính là căn nguyên và cỗi rẽ của mọi bế tắc, mọi băng hoại mà người dân ta đang gánh chịu.
Kính thưa qúy khách và đồng bào,
Lịch sử sẽ đào thải những gì không còn thích hợp. Dù có ngoan cố cưỡng lại, không ai có thể ngăn cản thế lực của lịch sử, cũng như không chính thể nào có thể làm ngược lòng dân mà tồn tại. Chúng ta hãy can đảm dấn thân cho tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta, chúng ta hãy góp một bàn tay khai thông những bế tắc hầu cùng với toàn thể dân tộc mở ra một kỷ nguyên mới cho quê hương Việt Nam. Hãy VƯỢT QUA MỌI SỢ HÃI. Hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ cộng sản. Hãy cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử để nó được chảy và làm tươi mát phì nhiêu cho đất Việt thân yêu. Xin Thiên Chúa chúc lành và kiện toàn cho mọi hy sinh và nỗ lực của chúng ta, người con dân của tổ quốc trong và ngoài nước đang khát khao và tranh đấu cho công lý. Hãy vững tin tiến về bình minh mới, ngày mùa gặt mới của quê hương, vì “người đi gieo trong đau thương sẽ về giữa vui cười”.
(Chu Tất Tiến ghi lại.)

Nguồn: Thomas Nguyen <thomashhnguyen@hotmail.com> May 6, 2016

10 Inspiring Quotes by the Great Nelson Mandela

25 Monday Jan 2016

Posted by locngocvu in Chính Trị, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

inspiring quotes, Nelson Mandela

http://www.ba-bamail.com/content.aspx?emailid=12751

 

Đại Lễ An Vị Tượng Đức Thánh Trần và Tưởng Niệm Anh Hùng Hoàng Sa

19 Tuesday Jan 2016

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

an vị, anh hùng, Hòang Sa, tưởng niệm, Tượng Đức Thánh Trần

Đại Lễ An Vị Tượng Đức Thánh Trần và Tưởng Niệm Anh Hùng Hoàng Sa

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Đại lễ an vị tượng Đức Thánh Trần và tưởng niệm các anh hùng hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974 diễn ra vô cùng trọng thể và nghiêm trang lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật, 17 Tháng Giêng, tại công viên Mile Square Regional Park, Fountain Valley.

Quan khách kéo tấm vải che tượng Đức Thánh Trần trong lễ an vị tượng tại công viên Mile Square Regional Park, Fountain Valley. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

“Đức Thánh Trần là một vị tướng từng chiến thắng lừng lẫy, ba lần đánh đuổi quân Nguyên để bảo toàn bờ cõi. Ngài không những là một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam, ngài còn là thánh tổ của quân chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa,” Giám Sát Viên Andrew Đỗ mở đầu diễn văn khai mạc.

Ông nói tiếp: “Chúng ta hôm nay hãnh diện được thấy hình ảnh uy nghi của ngài được an vị tại công viên này, bên cạnh tượng của cố Tổng Thống Ronald Reagan, một biểu tượng anh hùng chiến đấu cho tự do, và mai đây, cùng sánh vai với tượng của Linh Mục Manuel Hidalgo, một anh hùng của dân tộc Mexico.”

“Chúng ta nhân danh sự đa dạng để cùng ăn mừng và chứng kiến sự kiện an vị tượng Đức Thánh Trần, để nói lên lòng tôn kính bên cạnh các vị anh hùng cùng tranh đấu cho tự do. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc tranh đấu đó,” vị giám sát viên gốc Việt hùng hồn nói, giữa những tràng pháo tay rộn rã vang lên.

 

 

Ông cũng nói đến việc học hỏi lịch sử cho thế hệ mai sau, “không còn bị giới hạn trong bốn bức tường của lớp học.”

“Con em chúng ta có thể cùng gia đình học hỏi về lịch sử oai hùng của cha ông, ngay tại công viên này,” ông nói.

Kế đến, ông cám ơn các thành viên của Hội Đồng Giám Sát Orange County đã bỏ phiếu thông qua, để dự án thành công và xây dựng ba bức tượng, đại diện cho ba sắc dân có số đông cư dân sống trong địa hạt.

Rồi ông tuyên bố lễ an vị tượng bắt đầu.

Linh vị 74 anh hùng tử sĩ trận hải chiến Hoàng Sa được mang vào lễ đài. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Sau đó là phần kéo màn, khánh thành tượng, do ông và ba thành viên khác của Hội Đồng Giám Sát là bà Lisa Barlett, bà Michelle Steel, và ông Todd Spitzer, cùng các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, như Hòa Thượng Thích Chơn Thành, phó thượng thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên Thế Giới, viện chủ chùa Liên Hoa, Garden Grove; Hòa Thượng Thích Viên Lý, chủ tịch Hội Đồng Điều Hành Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại, viện chủ chùa Điều Ngự, Westminster; Thượng Tọa Thích Minh Mẫn, viện chủ chùa Huệ Quang, Santa Ana; và các dân cử địa phương hiện diện dưới chân tượng.

Sau đó là phần tế lễ do Hội Cao Niên Á Mỹ, Hội Bà Triệu phụ trách với sự tham gia của Hội Đồng Hương Bắc Ninh và học sinh của Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng.

Phần hai của chương trình là lễ tưởng niệm các anh hùng trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 Tháng Giêng, 1974.

Các cựu quân nhân trong quân phục đại lễ màu trắng, khiêng linh vị liệt kê tên các anh hùng, đến đặt trước bàn thờ tổ quốc. Một cựu sĩ quan cầm kiếm điều khiển chương trình, trước sự hiện diện của cựu Hải Quân Đại Tá Nguyễn Hữu Xuân, cựu Hải Quân Trung Tá Trần Đức Cử, và các cựu quân nhân Hải Quân, đứng hai bên, trước bàn thờ tổ quốc.

Từ trái, Giám Sát Viên Todd Spitzer, Giám Sát Viên Andrew Đỗ, Chánh Án Cheri Phạm, Giám Sát Viên Lisa Barlett, Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Chánh Lục Sự Hugh Nguyễn, và Giám Sát Viên Michelle Steel dưới chân tượng Đức Thánh Trần. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Tên của từng chiến sĩ anh hùng được xướng lên, kèm với tiếng trống của đoàn trống Thiên Ân.

Quan khách và đồng hương sau đó tham gia và niệm hương.

Ban tổ chức mời các giám sát viên hiện diện phát biểu cảm tưởng. Hầu hết ý kiến nói lên sự vui mừng và hãnh diện về sự hiện diện của tượng Đức Thánh Trần.

“Quý vị là người Việt và cũng là các công dân Hoa Kỳ. Đất nước này cũng là quê hương của quý vị, với danh tướng Trần Hưng Đạo, oai nghi tại công viên này,” Giám Sát Viên Todd Spitzer dõng dạc nói.

Mọi người vỗ tay tán thưởng lời tuyên bố.

Giám Sát Viên Andrew Đỗ cám ơn tất cả những đóng góp của mọi người, trong đó có nhật báo Người Việt.

Ông Đinh Quang Anh Thái, phụ tá chủ nhiệm nhật báo Người Việt, trong phần phát biểu, nói: “Nhật báo Người Việt rất hân hạnh đóng góp cùng cộng đồng, vì đây là niềm hãnh diện chung của dân tộc. Nếu Tổng Thống Reagan tuyên bố phải giật sập bức tường Berlin thì bức tượng Trần Hưng Đạo là một cái tát vào mặt nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã bán đất dâng biển cho Trung Cộng.”

Đoàn trống Thiên Ân với những hồi trống khai mạc. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Tượng Đức Thánh Trần về đến công viên Mile Square Park, Fountain Valley, lúc 9 giờ sáng Thứ Năm, 7 Tháng Giêng, sau thời gian đúc tại xưởng All Classic Ltd., Newark, tiểu bang Delaware.

Được biết bức tượng Đức Thánh Trần bằng đồng, nặng 700 pound, cao 8 ft.

Ông Andrew Đỗ cho biết tiến trình đúc và làm tượng Đức Thánh Trần khởi đầu từ Tháng Ba, 2015, hai tháng sau khi ông đắc cử chức giám sát viên.

“Bức tượng trải qua ba giai đoạn, từ khi có khái niệm, gồm tượng nhỏ bằng đất sét; đến tượng đất sét kích thước như thật, trước khi thông qua để làm khuôn và đổ đồng,” ông giải thích.

Ông cũng nhắc đến những sửa chữa về khuôn mặt để khỏi giống Tàu, cũng như không thể giống Tây Phương. Cá nhân ông và nhân viên theo dõi từng bước của người tạc tượng, từ ngón tay chỉ, từ vạt chiếc áo bào.

“Sự thành công có được là nhờ vào sự tế nhị, sự tương kính khi làm việc chung với các thành viên Hội Đồng Giám Sát,” ông nói thêm.

Tại nơi cử hành lễ, đông đảo đồng hương tề tựu từ 9 giờ sáng, ngồi dưới những cái lều được dựng lên. Nơi đặt tượng Đức Thánh Trần là một rừng cờ, bên trái là cờ Mỹ, bên phải là cờ VNCH, và phía sau là cờ đuôi nheo.

Bên cạnh tượng, ở phía trên, là lá cờ lệnh vi tướng.

Đông đảo đồng hương đến tham dự lễ. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Dưới chân tượng là một bàn thờ có lư hương và trái cây thật trang nghiêm.

Ở bên cạnh nơi hành lễ là một cái chòi, có triển lãm một số mô hình tàu chiến tham dự trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, cùng với danh sách 74 binh sĩ tử trận, và một số hình ảnh của một số người hy sinh, như cố Thiếu Tá Ngụy Văn Thà.

Sau buổi lễ, mọi người dùng bánh mì và nước uống do công ty Lee’s Sandwiches cung cấp.

 

Nguồn: ‘Lincoln Nguyen’ luong92647@gmail.com [ds16group] Jan 18, 2016

 

Tâm thư 1 gia đình 1 Thương Phế Binh

09 Saturday Jan 2016

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

cứu trợ, Hội HO, tâm thư, TPB, VNCH

From: loc nguyen <namlocnguyen@yahoo.com>
Sent: Thursday, January 7, 2016 4:06 AM
Subject: Chính thức phát động chương trình “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”Thân nhờ quý anh chị và các bạn giúp chúng tôi phổ biến dùm trên các diễn đàn mà quý vị tham dự.

Thành thật cám ơn.

Nam Lộc

 

Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH

chính thức phát động chương trình

“1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”

 

Tâm Thư

 

Kính thưa qúy vị,

 

Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Qủa Phụ VNCH (HO/TPB/QP/VNCH) là một tổ chức hoàn toàn tự nguyện điều hành bởi các thiện nguyện viên làm việc không lương bổng từ gần 20 năm qua. Hội không nhận được sự hỗ trợ của bất cứ nguồn tài chánh nào ngoài tiền đóng góp thường xuyên của một số quý vị đồng hương hoặc qua các chương trình đại nhạc hội “Cám Ơn Anh” hàng năm để gây quỹ cứu trợ các TPB ở quê nhà. Tuy là một hội đoàn nhỏ, nhưng nhiều nơi cứ nghĩ rằng Hội HO/TPB/QP/VNCH là một “cơ quan trung ương” nên cứ gởi hồ sơ TPB về cho hội mỗi ngày một nhiều! Vì thế mặc dù ngân khoản thu được mỗi năm, một cao hơn, nhưng vẫn chỉ đủ tiền giúp đỡ khoảng 70% trong số 20 ngàn hồ sơ TPB và QPTS mà Hội hiện đang lưu giữ. Do đó, để tạo thêm cơ hội và phương tiện hầu giúp cho quý vị ân nhân có thể đóng góp một cách dễ dàng và tích cực hơn, kể từ ngày 1 tháng Giêng, 2016, Hội HO/TPB/QP/VNCH chính thức phát động chiến dịch có tên là “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh”. Chương trình này sẽ được phổ biến rộng rãi trên Website: “1giadinh1thuongphebinh.org” để mọi người Việt có lòng ở trên thế giới đều có thể tham gia được theo các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

 

1.    Xin quý vị hảo tâm cho biết muốn bảo trợ bao nhiêu TPB mỗi năm? Chúng tôi đề nghị mỗi cá nhân hoặc một gia đình ở hải ngoại chỉ nên bảo trợ từ 1 cho đến 5 hồ sơ TPB/VNCH mà thôi, và tiêu chuẩn giúp đỡ được chia ra như sau:

A: Bảo trợ cho một (1) Thương Phế Binh nặng: US$240.00 mỗi năm.

(Nặng: Cụt 2 tay, cụt 2 chân, mù hai mắt, cụt 1 tay + cụt 1 chân, hoặc bị liệt)

B: Bảo trợ cho một (1) Thương Phế Binh nhẹ: US$120.00 mỗi năm.

(Nhẹ: Cụt 1 tay, cụt 1 chân, mù một mắt, hoặc bị nội thương)

 

2.    Khi ghi danh bảo trợ, xin quý ân nhân cho Hội HO/TPB/QP/VNCH biết:

A: Quý danh cùng địa chỉ nhận thư (để Hội gởi copy hồ sơ TPB đến ân nhân).

B: Số điện thoại (cả phone tay cũng như điện thọai nhà nếu có).

C: Địa chỉ email (nếu có).

 

3.    Sau khi nhận được các tin tức trên thì Hội chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ chi tiết cùng lý lịch của người TPB theo ý muốn của quý vị (ở địa phương nào cũng được) đến địa chỉ ân nhân qua đường bưu điện để quý vị GỞI TIỀN TRỰC TIẾP về thẳng Việt Nam cho người thương binh đó. Hoặc nếu có cơ hội về thăm quê hương quý vị ân nhân đến thăm hỏi và trực tiếp trao tiền thì còn quý giá, an ủi và ý nghĩa biết bao.

 

4.    Mỗi lần gởi tiền giúp đỡ TPB, xin thông báo cho Hội biết để ghi lại lưu vào sổ.

 

5.    Đúng một năm, kể từ khi hồ sơ được gởi ra, chúng tôi sẽ theo dõi và xin phép được nhắc nhở để biết quý ân nhân còn tiếp tục bảo trợ nữa hay không?

 

6.    Thời gian bảo trợ dài hạn: Ít nhất là ba (3) năm trở lên. Tuy nhiên, nếu vì bất cứ lý do gì mà ân nhân không còn bảo trợ nữa, xin cho Hội biết càng sớm càng tốt để chúng tôi mở lại hồ sơ và tiếp tục giúp đỡ người TPB đó kẻo họ chờ mong tội nghiệp!

 

Kính thưa quý vị, các anh em TPB/VNCH đã hy sinh xương máu và một phần thân thể để bảo vệ miền Nam và cho chúng ta được sống bình an để có ngày hôm nay. Đã hơn 40 năm qua, họ phải sống cơ cực, thiếu thốn, vất vưởng ở quê nhà không được ai giúp đỡ, càng ngày càng già yếu, bệnh hoạn, chết dần, chết mòn. Chúng ta hãy giang tay cứu trợ và an ủi để anh em TPB/VNCH được hãnh diện vì biết rằng đồng hương hải ngoại vẫn luôn nhớ đến và lo lắng cho họ. Rất mong quý vị đồng hương hưởng ứng, đồng thời tiếp tay kêu gọi thân nhân, bằng hữu cùng giải thích cho con em, giới trẻ hỗ trợ Hội trong việc làm mang nhiều ý nghĩa nói trên.

 

Vậy kể từ ngày ra thông báo này, kính xin quý vị ân nhân có nhã ý hưởng ứng chương trình “1 Gia Đình 1 Thương Phế Binh” hoặc muốn bảo trợ hay biết thêm chi tiết, xin liên lạc ngay với nhóm điều hành chương trình qua:

@ email: 1gd1tpb@gmail.com

@ hoặc vào thăm Website: “1giadinh1thuongphebinh.org”.

 

Trân trọng cảm ơn toàn thể quý vị,

 

Nguyễn Thị Hạnh Nhơn

Hội Trưởng

Hội HO Cứu Trợ TPB&QP VNCH

(email: hanhnhonnguyen@yahoo.com)

&

Nam Lộc Nguyễn

Cố Vấn Tổng Quát

Hội HO Cứu Trợ TPB&QP VNCH

(email: namlocnguyen@yahoo.com)

 

Nguồn: Thomas <tvpham48@gmail.com> Jan 8, 2016

 

Cánh Cò – Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Miến Điện, Việt Nam

Cánh Cò – Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam

Thứ Tư, ngày 11 tháng 11 năm 2015

viết từ Việt Nam

Bà Aung San Suu Kyi trong những ngày vận động tranh cử

Cả ngày Chúa Nhật ngày 8 tháng 11 năm 2015, có lẽ dân tộc hạnh phúc và tự hào nhất hành tinh này là Miến Điện. Họ hạnh phúc khi đưa ngón tay nhuộm xanh lên khoe với thế giới rằng cuối cùng thì nhân dân Miến cũng đã tiến tới được bến bờ dân chủ thật sự, dù cái bến ấy mới chỉ được đóng tạm bằng những chiếc cọc tre để con thuyền chính trị của quốc gia ghé lại. Nhưng niềm tin và sức mạnh để mang con thuyền vào được cái bến thô sơ ấy chừng như đang hừng hực không gì có thể làm cho nguội đi.

Năm mươi ba năm, một hành trình không thể gọi là ngắn để lật đổ một chế độ quân phiệt toàn trị. Thế nhưng con số 53 năm ấy không ngưng một chỗ như nước ao tù mà nó luôn khuấy động khi nhiều khi ít cho đến khi thành sóng to bão lớn.

Trước cuộc bầu cử của người dân Miến Điện, nhiều người Việt đưa ra câu thách thức: “Tôi đố đảng cộng sản Việt Nam dám làm như Miến Điện”. E rằng nếu họ làm ngay, làm thật vào lúc này thì người đưa ra thách thức sẽ hối hận! Dễ hiểu lắm, bộ máy của nhà cầm quyền sẽ huy động tối đa để người dân đi bầu…cho họ. Trớ trêu nhất mà ai cũng nhận thấy: người ra tranh cử lúc này là ai, có đủ sáng giá cho người dân bỏ phiếu cho họ hay chưa?

Hãy nhìn thẳng vào những sự thật đã và đang làm cho Việt Nam tê liệt, chai lì và trong một thời gian dài sắp tới khó nói có thể đủ mạnh làm cho nhà nước này sợ hãi trong một cuộc phổ thông đầu phiếu dân chủ.

Bắt đầu từ đâu cũng thấy một con số không. Người nông dân, hơn 80 % dân số của Việt Nam là họ. Những tấm lưng trần giỏi giang trên đồng ruộng và chưa bao giờ làm một điều gì khiến chính quyền lo lắng chứ nói chi tới sợ hãi. Họ khuân vác sự thiếu thốn trong ý thức, kiên trì và chịu đựng áp bức một cách đáng khen. Chính quyền gọi đó là lực lượng cách mạng và sau 70 năm lực lượng cách mạng này vẫn còn có thể sử dụng qua việc nạo vét tới cạn kiệt sức lao động của họ vào từng hạt lúa, con tôm để ngoác miệng ra tự hào về tiềm năng phát triển kinh tế. Người nông dân ôm nỗi lo đói nghèo nằm ngủ và chưa bao giờ trong giấc mơ của họ có một đêm mơ được cầm lá phiếu để đi bầu.

Con cái của họ, đứa nào đầu óc tối tăm sẽ tiếp tục gục đầu dưới ruộng, đứa thông minh một chút lên thành phố thì chỉ một thời gian ngắn sẽ chạy theo cái cách mà con ông cháu cha ăn chơi đàn đúm rồi lại chạy về nhà trộm lúa giống cha mẹ đi bán để ăn chơi. Đứa nào may hơn một chút thì kiếm tấm chồng xa xứ để mà trưng bày phô diễn với chị với em tại vùng quê nghèo mà chúng bỏ đi.

Sinh viên Việt Nam nhiều như trấu nhưng trong cái đám trấu ấy mấy người được như sinh viên của Myanmar cách đây 23 năm. Họ hiên ngang đứng thẳng trước mũi súng của quân phiệt, người này bị bắn ngã xuống, người khác lại đứng lên. Trong ba ngàn con người đã hy sinh ấy sinh viên Việt Nam có được mấy người?

Trí thức Việt Nam là một con số đáng tự hào trong khu vực. Nhưng vẫn chỉ là con số thôi. Con số thống kê và con người trí thức cách biệt và chống đối lẫn nhau. Giáo sư Tiến sĩ nhiều vô số kể nhưng lên tiếng ủng hộ biểu tình chống Trung Quốc thì cả nước chỉ được vài người…trên mạng. Ấy là chống Trung Quốc mà còn như thế nếu chống trực tiếp đảng và chính phủ thì con số sẽ ra sao?

Người Việt Nam gọi tên bà Aung Shan Suu Kyi cho … đỡ nhớ, vì đã quá lâu Việt Nam không có được một hình ảnh đáng kính như bà.

Nhưng người ta không thể cứ nhớ và ước ao một lãnh tụ không hề có thật trong cộng đồng của mình đang sống. Sự thay đổi chính trị nào cũng phải thay da lột xác và chịu đớn đau. Không thể hỏi chừng nào mà nên hỏi tại sao chưa có cái chừng nào ấy.

Cái “tại sao” đầy dẫy mà dễ thấy nhất là từ chính mỗi người của chúng ta. Hãy nhớ lại vài mẩu chuyện nho nhỏ để biết thêm hai chữ “tại sao” này.

Khi Miến Điện bùng nổ biểu tình của sinh viên năm 1988, hàng ngàn sinh viên bị bắn, lập tức sư sãi và dân chúng xuống đường bất kể chính quyền quân phiệt đàn áp dã man. Hàng ngàn người vào tù trong đó có hàng trăm nhà sư, kiên trì tranh đấu cho sự vùng dậy của sinh viên.

Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc bị nhà nước đàn áp dữ dội, người dân đứng nhìn như thể họ không phải là người Việt. Một nhóm nhỏ bị tấn công, bị bắt, bị hù dọa và sau đó liên tục bị sách nhiễu. Xã hội ung dung và những con người “dại dột” đấu tranh đó chìm sâu vào bóng tối.

Miến Điện có một nền văn hóa của nhà Phật. Đạo đức và căn bản làm người được dạy dỗ trong các thế hệ sinh viên học sinh. Bi, trí, dũng của nhà Phật chảy trong máu huyết của người dân Miến và vì vậy họ tôn kính lãnh tụ của mình khi thấy sự dũng cảm và thông tuệ của bà là nguồn sinh lực cho đất nước. Từ tôn kính dẫn tới phục tùng là điều hiển nhiên.

Trong khi đó tại Việt Nam đạo Phật đã biến dạng trở thành buôn thần bán thánh. Sư sãi không ngồi nhồm nhoàm bổng lộc thì cũng đứng lộng ngôn trong tòa quốc hội. Một số sư ni chính đạo thì bị chính phật tử bao vây mua chuộc khi đòi cho bằng được những lá xâm thật tốt cho mình.

Căn bản văn hóa đã bị biến dạng như vậy nên thần tượng được nặn lên từ tro tàn của lịch sử liền được người dân tha hồ thờ cúng. Thanh niên nhảy múa trên những giai điệu đàn điếm và không chút tính người vì vậy khi ra đường gặp kẻ thương tật hay tai nạn chết người chúng sung sướng chụp ảnh mang khoe trên Facebook. Những kẻ trộm chó bị giết không cần biết tới luật pháp là gì trong khi bọn trộm tài sản quốc gia lại được đám dân đen ngưỡng mộ và chắt lưỡi vì mình không làm được như chúng.

Việt Nam với môn lịch sử bị bóp méo theo khẩu vị của đám thân Tàu còn Miến Điện lại sẵn sàng bỏ Tàu để tự lực cánh sinh bằng đôi tay và khối óc của họ.

Aung Shan Suu Kyi có một đảng chính trị đúng đắn với hàng trăm con người cộng tác đầy tài năng. Những con người âm thầm nhưng mạnh mẽ và cương quyết ấy góp phần tạo nên Aung Shan Suu Kyi trong khi ở Việt Nam chỉ cần một người có vẻ đáng tin cậy liền bị nhiều thế lực khác nhau, trong đó có cả thế lực tranh đấu, đồng minh đè cho bẹp xuống.

Người Miến lưu vong không có khái niệm quốc cộng, họ chỉ tranh đấu nhằm lật đổ quân phiệt để thành lập nền dân chủ và vì vậy sức mạnh của họ không bị phân tán. Tiếng nói bền bỉ của họ đấu tranh cho bà Aung Shan Suu Kyi được tự do đã nhắc nhở Hoa Kỳ và EU về người đàn bà bất khuất này và cuối cùng cũng lật đổ được sự lạnh lùng của thế giới.

Việt Nam mải mê phân chia ranh giới và mỗi người tự vẽ cho mình một vòng tròn cô lập. Không có một vòng tròn khép kín nào có thể nối được với một vòng tròn khác để tạo thành sức mạnh. Những vòng tròn bản năng ấy làm tê liệt sức chiến đấu trên mặt trận đấu tranh và tạo thêm niềm tin cho chính quyền hơn là tạo cho họ sự lo lắng cần thiết.

Cần thiết vì khi chính quyền lo lắng chính là lúc người dân biết được điểm chết của họ để tiếp tục tranh đấu, nhấn mạnh vào sự lo lắng ấy bằng những tác động cụ thể. Cũng như Miến Điện, khi bà Aung Shan Suu Kyi bị quản chế, đảng của bà chưa bao giờ lặng yên một ngày mà công tác đánh động quần chúng luôn được nêu cao, song song với sự yễm trợ của Mỹ và EU chính quyền quân phiệt cuối cùng cũng phải nhượng bộ.

Việt Nam không được một khuôn mẫu của Aung Shan Suu Kyi đã đành nhưng kể cả chờ đợi một người tương tự xuất hiện cũng phải biết cách. Tư thế ngồi chờ không phải là tốt đối với người hoạt động chính trị mà phải luôn luôn đứng, cho dù đứng chờ đi nữa, vì khi đứng người ta có thể chạy ngay ra đường khi có dịp, còn ngồi một thời gian quá lâu thì bắp thịt tê cứng, cơ hội đến mà chỉ lê lết chạy sau người khác thì thật quá buồn!

Và vì vậy đừng thách thức nhà nước có dám cho bầu cử tự do ngay vào hôm nay hay không, mà hãy tự thách thức chúng ta có dám để cho cơ hội ấy mau tới bằng chính hành động của mình bắt đầu từ hôm nay hay không.

Nguồn: thunguyen020845@yahoo.com.au posted on [ds16group]

Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Aung San Suu Kyi, cuộc đời, Myanmar, phụ nữ

Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar

 

 Bà Aung San Suu Kyi – lãnh đạo đảng Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD) – được ví như “ngọn hải đăng của niềm hy vọng” cho người dân Myanmar.
Suu Kyi là con gái của vị anh hùng dân tộc Myanmar – tướng Aung San. Ông Aung bị ám sát vào tháng 7/1947 – chỉ 6 tháng trước khi quốc gia Đông Nam Á giành độc lập. Lúc ấy, bà Suu Kyi mới lên 2 tuổi. Ảnh chụp bà Suu Kyi (giữa) cùng bố mẹ và hai người anh năm 1947 tại Burma.
Suu Kyi sinh ngày 19/6/1945. Bà là con gái của vị anh hùng dân tộc Myanmar – tướng Aung San. Ông Aung bị ám sát vào tháng 7/1947 – chỉ 6 tháng trước khi quốc gia Đông Nam Á giành độc lập. Lúc ấy, bà Suu Kyi mới lên hai tuổi. Ảnh chụp bà Suu Kyi (giữa) cùng bố mẹ và hai anh năm 1947 tại Myanmar.
 
Năm 1960, Suu Kyi chuyến tới Ấn Độ cùng mẹ Khin Kyi sau khi bà được bổ nhiệm làm đại sứ Miến Điện tại Ấn Độ và Nepal. 4 năm sau đó, Suu Kyi theo học ngành triết, chính trị và kinh tế tại trường Đại học Oxford (Anh). Trong thời gian này, bà gặp người chồng Michael Aris và sinh hai con trai. Ảnh chụp bà Suu Kyi với chồng vào năm 1973.
Năm 1960, Suu Kyi chuyển tới Ấn Độ cùng mẹ Khin Kyi sau khi bà được bổ nhiệm làm đại sứ Miến Điện (tên cũ của Myanmar) tại Ấn Độ và Nepal. 4 năm sau đó, Suu Kyi theo học ngành triết, chính trị và kinh tế tại Đại học Oxford (Anh). Trong thời gian này, bà gặp chồng Michael Aris. Ảnh chụp bà Suu Kyi với chồng năm 1973.
 
Suu Kyi và Aris sinh hai con trai là Alexander và Kim. Những đứa trẻ đã lớn lên ở Anh. Bà Suu Kyi quay trở về Rangoon vào năm 1988 để chăm sóc mẹ bị bệnh. Ảnh chụp bà Suu Kyi tại một cuộc phỏng vấn ở Rangoon ngày 28/8/1988.
Suu Kyi và Aris sinh hai con trai là Alexander và Kim. Những đứa trẻ đã lớn lên ở Anh. Từ năm 1985 đến năm 1987, Suu Kyi tập trung nghiên cứu để lấy bằng thạc sĩ văn học Myanmar tại trường Nghiên cứu Phương Đông và châu Phi (SOAS), thuộc Đại học London. Bà được bầu làm Ủy viên Danh dự của SOAS năm 1990. Trong hai năm, bà là ủy viên tại Viện nghiên cứu cao cấp của Ấn Độ (IIAS) ở Shimla. Bà cũng làm việc cho chính phủ liên bang Myanmar. Ảnh chụp bà Suu Kyi tại một cuộc phỏng vấn ở ​Yangon ngày 28/8/1988.
 
Quân đội đàn áp các cuộc biểu tình và tiến hành đảo chính vào ngày 18/9/1988. Một thời gian ngắn sau đó, ngày 24/8. Suu Kyi đồng sáng lập đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) và được bổ nhiệm chức vị cao nhất.
Bà Suu Kyi quay trở về ​Yangon vào năm 1988 để chăm sóc mẹ bị bệnh. Thời điểm bà quay về quê hương cũng là lúc Myanmar đang đứng giữa một cuộc chính biến. Bà sau đó trở thành lãnh đạo cuộc nổi dậy chống tướng Ne Win. Suu Kyi thành lập đảng Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD). Quân đội đàn áp các cuộc biểu tình và tiến hành đảo chính vào ngày 18/9/1988. 
 
- Năm 1991, Suu Kyi được trao giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh phi bạo lực vì dân chủ và nhân quyền. Vào thời điểm đó, bà chịu hai năm quản thúc tại gia trước những cáo buộc gây chia rẽ quân đội. Giai đoạn từ năm 1989 tới 2010, lãnh đạo phe đối lập bị quản thúc tại nhà gần 15 năm. Ảnh chụp bà Suu Kyi phát biểu trước khoảng 5.000 người tại trước nhà riêng, ngày 25/5/1996.
Chủ trương của đảng NLD là tranh đấu bất bạo động. Mặc dù bị cấm, Suu Kyi vẫn đi khắp nơi để phát động phong trào vì tự do và dân chủ. Bà từng đi thẳng vào mũi súng đã lên đạn của binh sĩ chắn đường để tỏ thái độ phản kháng. Tháng 12/1988, mẹ của Suu Kyi qua đời. “Mẹ dạy tôi một điều căn bản là bất công không bao giờ đứng vững vĩnh viễn”, bà từng chia sẻ. Ảnh chụp bà Suu Kyi phát biểu trước khoảng 5.000 người trước nhà riêng, ngày 25/5/1996.
 
- Hình ảnh bà Suu Kyi trong cuộc họp với bộ trưởng lao động Aung Kyi tại Yangon ngày 30/1/2008.
Tháng 5/1990, dù Suu Kyi vẫn bị giam lỏng, đảng NLD của bà thắng lớn (82%) trong cuộc bầu cử. Tuy nhiên, Liên đoàn Khôi phục Trật tự và Pháp luật Quốc gia (SLORC) không công nhận kết quả này. Năm 1991, Suu Kyi được trao giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh phi bạo lực vì dân chủ và nhân quyền. Vào thời điểm đó, bà chịu hai năm quản thúc tại gia trước những cáo buộc gây chia rẽ quân đội. Giai đoạn từ năm 1989 tới 2010, bà bị giam lỏng gần 15 năm. Hình ảnh bà Suu Kyi trong cuộc họp với bộ trưởng lao động (không xuất hiện trong ảnh) tại Yangon ngày 30/1/2008.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Bà Suu Kyi được hộ tống lên ôtô vào ngày thứ 3 của vụ xét xử bà tại nhà tù Insein ở thành phố Yangon, ngày 20/5/2009.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Cổng nhà bà Suu Kyi vào ngày 11/8/2009 khi tòa án cho rằng bà đã vi phạm các điều kiện quản thúc tại gia. Theo tòa Myanmar, bà Suu Kyi đã cho phép một người Mỹ lạ vào nhà. Người đứng đầu chế độ quân sự ra lệnh giam lỏng bà 18 tháng.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Trước áp lực quốc tế, bà Suu Kyi được trả tự do năm 2010. Ảnh chụp bà Suu Kyi gặp con trai Kim Aris tại sân bay Yangon ngày 23/11/2010. Bà đã không nhìn thấy con trong suốt 10 năm.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cầm tay Suu Kyi khi họ gặp nhau tại nhà của bà vào ngày 2/12/2011.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Sau 21 năm kể từ ngày được Hội đồng Nobel trao giải, ngày 16/6/2012, bà chính thức nhận giải thưởng danh giá trong buổi lễ tại thủ đô Oslo, Na Uy. Trao đổi với CNN ngay trước buổi lễ về khái niệm “hòa bình”, bà nói: “Với tôi, hòa bình chính là dựa trên định nghĩa của Myanmar về hòa bình. Nó có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn những yếu tố tiêu cực đe dọa hòa bình thế giới. Cho nên, hòa bình không có nghĩa là kết thúc chiến tranh, mà còn là tất cả những yếu tố đe dọa đến hòa bình, như phân biệt đối xử, bất bình đẳng, đói nghèo”.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Suu Kyi mỉm cười với những người ủng hộ khi bà tổ chức lễ hội té nước Thingyan phía trước cửa nhà ngày 16/4/2012.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Hai năm sau khi được phóng thích, bà Suu Kyi chính thức trở thành thành viên Hạ viện Myanmar trong cuộc bầu cử ngày 1/4/2012. Suu Kyi (giữa) và các nhà lập pháp của NLD tại một phiên họp thường kỳ của Hạ viện Myanmar vào tháng 2/2012. Bà tuyên thệ nhậm chức trước Quốc hội do quân đội hậu thuẫn.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra bắt tay bà Suu Kyi tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, ngày 31/5/2012. Đây là lần đầu tiên bà đặt chân ra nước ngoài trong hơn 20 năm.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Ngày 19/11/2012, nhân chuyến thăm Myanmar, Tổng thống Mỹ Barack Obama gặp thủ lĩnh phe đối lập tại dinh thự của bà. Ông không ngần ngại ôm và hôn bà Suu Kyi tại cuối buổi họp báo chung. Trước đó, ngày 20/9/2012, Quốc hội Mỹ trao tặng huân chương vàng – phần thưởng dân sự cao quý nhất của Mỹ – để ghi nhận những cống hiến của bà cho cuộc đấu tranh vì dân chủ tại Myanmar.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Suu Kyi đọc diễn văn tại Yangon vào ngày 4/12/2013.
 
Cuộc đời người phụ nữ nổi tiếng nhất Myanmar
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt tay bà Aung Suu Kyi trong cuộc họp tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Trung Quốc, vào ngày 11/6​.
 
San Suu Kyi đã từng là một ngọn hải đăng của niềm hy vọng cho nhiều người trong quân sự cai trị
Bà Suu Kyi cắt bánh trong lễ mừng sinh nhật lần thứ 70 tại tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Naypyidaw hôm 19/6. Bà từng được ví như “ngọn hải đăng của niềm hy vọng” cho người dân Myanmar trên con đường hướng tới nền dân chủ.
 
Trưa 8/11, bà Aung San Suu Kyi đến điểm bỏ phiếu trong vòng vây chào đón của người dân Myanmar.
Trưa 8/11, bà Suu Kyi đến điểm bỏ phiếu trong sự chào đón của người dân Myanmar. Kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử năm 2015 cho thấy đảng NLD của Suu Kyi đang đứng trước chiến thắng với 15 trong 16 ghế đầu tiên tại Quốc hội Myanmar. Chiến thắng của NLD là sự kiện mà thế giới mong đợi sẽ “thay đổi đáng kể” bối cảnh chính trị ở Myanmar. Đây cũng là chiến thắng dành cho người phụ nữ nhỏ bé nhưng có ý chí mạnh mẽ.
Nguồn: lienthicao@yahoo.com <ds16group@yahoogroups.com> 
posted on  Nov 13, 2015

Tham Vọng Chính Trị

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

chính trị, tham vọng

THAM   VỌNG   CHÍNH   TRỊ

 NGUYỄN HỌC TẬP

Thường khi nói đến chính trị, chúng ta có hai thái độ tiêu cực: hoặc dửng dưng hoặc xa lánh.

Thái độ dửng dưng là thái độ khá thông thường của những người cho rằng chính trị dành cho những kẻ có ”tham vọng” thì lăng xã vào, còn đối với tôi , nó xa vời, ” không ăn nhậu” gì.Đó là thái độ thông thường, được anh Michael viết thư cho chúng tôi cách đây không lâu để nói lên tâm thức của đồng bào bên nhà:

“å Giới trẻ ( từ 25 tuổi trở xuốùng) không biết gì về quốc gia và cộng sản, mà họ chỉ đi học hay thụ hưởng.

Từ 40 tuổi trở xuống chỉ lo kiếm sống nuôi gia đình, ít màng đến chuyện chính trị chính em“

Thật ra những vấn đề chính trị, nhứt là những đường hướng và quyết định chính trị, nhiều khi “ăn nhậu“ khá sát với đời sống thường nhật và cả tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta.

Quyết định tăng giá xăng dầu, cắt giảm phụ cấp gia đình, tăng lãi xuất ngân hàng, đánh thuế nặng vào hàng nhập cảng để bảo vệ sản phẩm nội điạ, hối xuất của đồng bạc VN đối với việc cung cấp ngoại tệ cho việc nhập cảng dụng cụ và nguyên liệu khác với hối xuất để nhập cảng sản phẩm tiêu thụ…là những quyết định chính trị đụng chạm khá trực tiếp đến túi tiền của chúng ta.

Đó là chưa kể đến những quyết định quan trọng liên quan đến mạng sống hàng triệu người:

nên đặt ưu tiên giao thương với Hoa Kỳ hay Trung Cộng, nên thương thuyết hay tuyên chiến với Cam bốt, nên khai thác nguyên tữ năng hay đấp đập thủy điện lực, thiết lập lò nguyên tử năng?

Còn nữa:

– “Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau.Tất cả đều được ĐấngTạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng“ ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Ký 1776)  .

– “Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền con người do Thiên phú, bất khả nhượng và cao quý“ 8 Tièn Đề Tuyên Ngôn Nhân quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 )   .

– hay “ Đảng CS  Sô Viết…xác định nền tảng cho thể chế xã hội và chính trị Công Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận của người dân…“ ( Tiền Đề Hiến Pháp CHLBSV 1977) .

Đó là những đường hướng chính trị. Cũng vậy:

– “Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm.Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó“( Điều 1 đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

– “Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thực sự giới hạng tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở ” ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Đó là những lời tuyên bố chính trị khác có liên quan dến việc con người được tôn trọng và được Quốc Gia cung cấp cho các đìều kiện thích ứng để cho mình có được một cuộc sống xứng đáng “người cho ra người“.

Còn nữa:

– “ Người công nhân được quyền thù lao xứng đáng , tương xứng với số lượng và phẩm chất công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống tự do và khan trang“( Điều 38, đoạn 2Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

– “Người làm việc có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ phương tiện thích hợp, đáp ứng lại các nhu cầu đời sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn phe, già  nua, thất nghiệp ngoài ý muốn“ ( Điều 38, đoạn 1, id).

 – “Người phụ nữ công nhân cũng có đủ mọi quyền và việc làm như nam công nhân, cũng được thù lao như nam công nhân. Các điều kiện làm việc phải được thiết định thế nào để người phụ nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình,phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ bằng một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp…“ ( Điều 37, đoạn 1, id.)  

 Đó là những lời tuyên bố chính trị khác, không xa lạ gì với những nhu cầu cuộc sống thường nhật của chúng ta, nếu chúng ta muốn có một cuộc sống “khan trang“ , văn minh, xứng đáng với nhân phẩm con người , “người cho ra người“.

Chúng tôi còn có thể liệt kê thêm hàng trăm câu tuyên bố “ chính trị“ tương tợ, liên quan thiết thực với đời sống chúng ta không khó khăn gì. Chỉ cần trích ra từ các văn bản Hiến Pháp, nhứt là các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ và nhân bản Tây Âu. Bởi vì Hiến Pháp là văn bản “ Mẹ Đẻ  của đường lối chính trị Quốc Gia.

Thái độ tiêu cực kế đến là coi chính trị như một cái gì dơ bẩn, xấu xa, bởi lẽ những người làm chính trị hay đảng phái chính trị thường dùng thủ đoạn bất chính,“mục đích biện chứng cho phương tiện“( Macchiavelli), để đạt cho bằng được mục tiêu và cố nắm giữ quyền bính bằng mọi giá, dù có phải thủ tiêu bao nhiêu người và hành xử lợi ích cho bè đảng, không đếm xỉa gì đến công ích,  loại trừ đối phương bằng thủ đoạn và nếu cần cả bằng vũ lực, tội tù, tra tấn, thủ tiêu, không đếm xỉa gì đến luật pháp luân lý.

Qua những suy tư và trích dẩn trên, chúng ta đã có ít nhiều khái niệm về chính trị.

 I – Chính trị là gì?

Để có một cái nhìn đúng đắn hơn với chính trị, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu chính trị qua những tư tưởng nguyên thủy của nó.

Từ ngữ Chính trị mà chúng ta có cùng ý nghĩa với danh từ Politique( Pháp ngữ), Politica(La ngữ và Ý ngữ), Policy(Anh ngữ). Politik ( Đức ngữ ) .

Tất cả những danh từ Chính trị trong các ngôn ngữ vừa kể đều phát xuất từ danh từ Polis của Hy lạp, có ý nghĩa là Thành phố hay Thị xã. Thị xã Hy Lạp trong thời thượng cổ, nhứt là thời Cộng Hoà Athène được tổ chức như những tiểu quốc gia tự lập, trong đó mọi người được phân chia công tác tùy khả năng, từ gát cổng, quét đường đến tổ chức phòng vệ, sản xuất thủ công nghệ, tổ chức văn hoá nghệ thuật.

Từ ý nghĩa tổ chức phân chia công việc mà mọi người đều  tham gia góp phần sao cho đời sống chung của Thị xã được ăn khớp nhịp nhàng đó, nảy ra những phương thức áp dụng vào Quốc Gia,  làm sao tổ chức hữu hiệu hơn, hoạt động hoàn hảo hơn, để mưu ích cho đời sống của từng cá nhân và lợi ích chung cho đời sống trong cộng đồng,  đó là những tư tưởng khởi thủy của chính trị.

Do đó, Chính trị (politique,politica policy) không có gí khác hơn  là những phương thức  tổ chức Thị xã ( Polis) sao cho đời sống cộng đồng được trôi chảy, nhằm mưu ích cho mổi cá nhân cũng như cho cuộc sống chung của cộng đồng

 Đến thời Đế Quốc Roma bành trướng qua Hy Lạp, người La-tinh thu nhập cách tổ chức trên của Hy Lạp cho cuộc sống Thị Xã của họ. Thị xã, trong ngôn ngữ La tinh là Civis. Người sống trong thị xã được gọi là Civilis, là người có cuộc sông văn minh. Bởi vì trong tâm thức người La Tinh chỉ có những người sống trong Thị xã (Civis), mới là người có cuộc sống tổ chức Văn minh   (Civilis), còn ai không sống trong cuộc sống hội nhập có tổ chức, không thể nào có đòi sống tiến bộ cho ra hồn, là người có cuộc sống Bán Khai Mọi Rợ (Barbarus):người có râu ria xồm xàm như quân Hung Nô, sống trong các Làng Mạc Hẻo Lánh(Pagus).

Qua những tư tưởng Polis, Civis, Civilis, Barbarus, Pagus trên, chúng ta có thể rút ra một vài tư tưởng sau đây:

1) Chính trị hiểu theo nghĩa Polis là những phương thức tổ chức Quốc Gia, nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống chung cộng đồng, mà cũng nhằm phục vụ cho từng người dân sống trong Quốc Gia, bởi lẽ, Quốc Gia hay dân tộc là những danh từ trừu tượng, được thể hiện trên thực tế bằng đời sống của từng người công dân một.

Dĩ nhiên , trong một tập thể chính trị có tổ chức như Quốc Gia, nơi quy tựu chung sống của hàng triệu người, sẽ có nhiều phương thức tổ chức thích ứng cho cuộc sống chung và cũng liên quan đếnø cuộc sống riêng rẻ của từng người, nên công việc chọn lựa thể thức nào thích hợp nhứt sẽ hàm chứa việc người dân có quyền đứng ra quyết định để lựa chọn, người dân có chủ quyền lựa chọn để quyết định phương thức tốt đẹp nhứt để tổ chức Quốc Gia hay Dân chủ ( Demokratía).

Dân Chủ theo nguyên ngữ Hy Lạp là Demokratía ( Demos, dân chúng; Krátos, quyền hành: quyền hành là của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền hành, có quyền định đoạt đường lối để tổ chức Quốc Gia hay Chính Hướng, đường lối Chính Trị).

 Những ai muốn đứng ra lãnh đạo Quốc Gia có nhiệm vụ đề ra những phương thức tổ chức ( hay “ Đường lối lãnh đạo Quốc Gia” hoặc “ Chương trình chính trị”, nói theo ngôn từ của chúng ta), để người dân phán đoán và lựa chọn.

Những thủ đoạn, lường lọc, mỵ dân, khủng bố, cấu kết , bè phái để đoạt lấy và khăng khăng giữ lấy quyền bính tiêu diệt đối phương là những hành vi băng hoại chính trị(dégénération) , chớ không phải chính trị hiểu theo nguyên ngữ và tư tưởng cao đẹp khởi thủy của nó.

2) Ngưới Hy lạp, nhứt là người La tinh, cho rằng, người sống ngoài Thị xã ( Polis hay Civis) là những người man rợ, bán khai, bởi lẽ đời sống không có tổ chức để người nầy hổ trợ người khác, sáng kiến của người nầy bổ túc làm lợi ích cho ngươi khác, đời sống

không thể nào có tiến bộ:”nhân vô thập toàn “ là vậy.

Tư tưởng đó vẫn còn có giá trị hiện đại đối với chúng ta. Chúng ta muốn trở thành văn minh, chúng ta muốn đất nước chúng ta tiến bộ, chúng ta phải ở trong Thị xã( Polis hay Civis): chúng ta phải tham dự chính trị.

Trong một Quốc Gia, tham gia chính trị có nghĩa là

a – bầu cử,

b- ứng cử để chuyển đạt ý kiến của người dân trong Quốc Hội, để hành xử quyền của người dân giao phó cho trong Chính Phủ,

c- mà cũng có nghĩa là tham gia vào các tổ chức, đảng phái để nói lên tiếng nói, ảnh hưởng , đặt điều kiện với các tổ chức quyền lực Quốc Gia trong các quyết định chính trị, nếu chúng ta không muốn những ai cầm quyền đưa ra các quyết định áp đặt lên đầu lên cổ chúng ta và người đồng hương chúng ta.

d – và sau cùng là cũng có thể  đứng ra đảm nhiệm hành xử quyền lực Quốc Gia, đem tài năng hiểu biết của mình để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình.

Như vậy ý nghĩa của việc tổ chức Thị xã( Polis) là những phương thức điều hành để phân công, mỗi người một việc, tùy khả năng và tuỳ nhu cầu của Thị xã, nhằm sao cho công việc  của Thị xã được ăn khớp, nhịp nhàng, hữu hiệu. Nói cách khác, những phương thức đó hay “đường lối chính trị” phải nhằm phục vụ công ích. Bởi đó, dùng chính trị để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm, để “ phục vụ Đảng”là đi ra ngoài tư tưởng nguyên thủy cao cả của việc tổ chức chính trị.

II – Tham vọng chính trị.

 Một số khá lớn dư luận quần chúng, mỗi khi thấy ai đứng ra tổ chức hội đoàn, sinh hoạt họp hàng với người khác, cho rằng “thằng cha đó có tham vọng chính trị”.

Dưới đây chúng ta thử xét ý nghĩa đứng đắn của câu nói trên. Cái lạ của thái độ phần đông chúng ta là gán “thằng cha đó tham vọng chính trị”cho những ai có khuynh hướng hoạt động chính trị, còn “tham vọng” ở những lãnh vực khác thì không thấy mấy ai chửi bới.Ví dụ không ai chửi bới một sinh viên cắp sách vào đại học :”thằng cha đó có tham vọng kỹ sư, con mẹ đó có tham vọng bác sĩ, bọn đó có tham vọng làm thú y, luật sư, giáo chức…”.

Thái độ trên của chúng ta có lẽ thoát thai từ quan niệm sai lầm về chính trị như là một môi trường bẩn thỉu , thủ đoạn, bất chính chớ không phải từ quan niệm Polis, Civis: phương thức tổ chức để điều hành hoạt động quốc gia, mưu ích cho cuộc sống cộng đồng quốc gia và cho từng cá nhân mổi công dân trong cộng đồng.

Nếu chúng ta có cái nhìn đứng đắn về chính trị theo tư tưởng Polis, Civis, tổ chức chính trị để phục vụ công ích, thì câu nói “thằng cha đó có tham vọng chính trị” sẽ không có ý nghĩa chê trách gì , ngoài ra hơn là “dốt, bất tài, vậy mà cũng tham vọng chính trị”.

Trong chiều hướng đó, câu phê phán của chúng ta nhằm đòi hỏi cũng như khuyến khích những ai muốn lãnh lấy trách nhiệm đối với đời sống hàng bao nhiêu triệu đồng bào phải là những người có đức độ và kiến thức. Người tay ngang không thể bốc đồng làm bác sĩ chữa bệnh, làm kỹ sư , kiến trúc sư  thiết kế đồ án xây cất. Vậy thì tại sao người làm chính trị, cầm trong tay vận mệnh của bao nhiêu triệu đồng bào trong tay  lại có thể là tên “ tay ngang nhào vào chính trị”:

“Người làm thầy thuốc mà sai lầm,là giết hại mạng người,    

   Người làm tướng mà sai lầm, tiêu diệt cả đoàn quân,

   Người làm chính trị mà sai lầm, đại hoại cả đất nước,

   Người làm tư tưởng mà sai lầm, tiêu diệt không biết bao nhiêu thế hệ”

                                                               ( Khổng Tử ?).

Một trích dẩn khác:

“Nhiều học thuyết chính trị cảnh cáo chúng ta  đừng lầm tưởng giữa những mơ ước đối với chính trị và những gì chính trị thể hiện trong thực tại…Những kết quả của chính trị và kinh tế không phải là những gì chúng ta mơ tưởng phải có, mà là những gì chúng ta đã đặt nền tảng thực hiện trước để có kết quả…” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III Zanichelli Bologna 1996, 129)

Viết tới những dòng nầy, người viết hồi tưởng lại miền Nam trước 1975. Chúng ta không nghi ngờ gì đến tài thao lược binh bị của những người lãnh đạo Quốc Gia lúc đó. Nhưng liệu những tướng tá cầm quyền thời đó có kiến thức chính trị tương xứng để lãnh đạo quốc gia trước cơn sóng gió của thời cuộc không? Biết đâu vận mệnh đất nước đã không ở trong một hoàn cảnh khác, nếu những vị lãnh đạo  lúc đó có khả năng thực sự cho trách nhiệm.

Đặt câu hỏi để chúng ta cùng suy nghĩ.

Giáo sư Giovanni Sartori cũng còn thêm:

– ” Giả sử anh có tư tưởng chính trị đúng đắn, chính đáng và có khả năng đem lại lợi ích cho dân tộc, hoặc có khả năng có thể đảm nhận những vai trò quản trị Đất Nước, nhưng vì ” an phận thủ thường, mặc kệ “, có thể kẻ khác có suy nghĩ lệch lạc, vô tài thất đức vì danh vọng, lợi nhuận ” nhào ra ” hoạt động chính trị, các hậu quả tai hại đổ nát sẽ đổ xuống trên đầu đồng bào, thân nhân của anh và cả trên đầu anh. Ráng chịu ! ” ( Giovanni Sartori, id. 133). 

 Qua những gì vừa trình bày, nếu người làm chính trị có kiến thức, đạo đức và mục đích đem chương trình chính trị để phục vụ công ích bằng những phương tiện hợp pháp và chính đáng, thì câu nói “thằng cha đó có tham vọng chính trị”sẽ trở thành vô nghĩa, nếu không phải phát sinh từ những hậu ý bất chính nào đó.

III – Chính trị và lương tâm ki tô hữu.

“Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích…”.

Hoặc:

“ Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…”.             Còn nữa:

“ Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những nười khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn”.         

Ba văn kiện mà chúng tôi vừa trích dẩn ( và còn nhiều văn kiện khác của Công Đồng Vatican II, cũng như những Thông Điệp mới đây của Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus) , qua những từ ngữ “không nên thối thoát”,” phải hợp tác”,” có bổn phận nặng nề”đăt người tín hữu Chúa Kitô trước chính trị, không như trước một trò chơi giải trí, một hobby, mà là trước lương tâm trách nhiệm.

Từ ngữ “Tham vọng chính trị” đối với ngưới tín hữu Chúa Kitô không những phát biểu một tư tưởng lổi thời, không cần phải đặt ra theo ý nghĩa nguyên thủy cao cả của tư tưởng Polis,Civis chúng ta đã thấy ở trên cũng như theo ý thức trách nhiệm trong những văn kiện của Giáo Hội vừa đề cập.

Dĩ nhiên Giáo Hội không xác định mức độ đến đâu mỗi tín hữu phải tham dự vào chính trị. Điều đó tùy thuộc khả năng, hoàn cảnh và lương tâm của từng người.

Câu hỏi được đặt ra có ý nghĩa hơn , có lẽ là câu phát biểu thái độ ngược lại với “tham vọng chính trị”. Đó là “ dửng dưng đối với chính trị”, “đứng ra ngoài chính trị, để ai làm gì mặc ai”.

Để trả lời cho lương tâm người tín hữu Chúa Kitô trong trường hợp nầy, Chúa Giêsu kể cho chúng ta dụ ngôn “Người Samaritano”. Người Samaritanio dừng lại băng bó vết thương và cỏng người bị cướp đánh giở sống giở chết bên vệ đường về quán trọ để chăm sóc, trong khi đó thì vị thông thái  luật cũng như thầy tư tế thấy kẻ xấu số, lách sang rồi bỏ đi luôn .

Nếu chúng ta quy tóm Mười Giới Răn của giáo lý Thiên Chúa Giáo lại chỉ còn Hai Giới Răn: kính Chúa và yêu người, chúng ta sẽ thấy được lời tuyên án nặng nề của Thánh Gioan đối với những ai không có lòng đối với người anh em đồng loại:

– “ Ai không yêu thương anh em là người mình thấy được, làm sao có thể kính yêu Thiên Chúa, Đấng mà mình không thấy”.

Nói cách khác, ai không thương yêu anh em, thì cũng không thể kính yêu Thiên Chúa, không còn phải là người tín hữu Chúa Kitô. Người không kính yêu Thiên Chúa, mà cũng chẳng tha thiết gì đến anh em, là người vừa vô đạo vừa bất nhân.

Một trong những điểm nổi bậc của Công Đồng Vatican II là làm cho chúng ta ý thức đến thái độ thiếu trách nhiệm trong việc “lách sang rồi bỏ đi luôn” (Lc.10,30-36).

Trong kinh Cáo Mình trước Công Đồng Vatican II chúng ta đọc thấy câu:

– “…lòng động, lòng lo, miệng nói, mình làm. Lổi tại tôi, lổi tại tôi, lổi tại tôi mọi đàng…”.

Trong khi đó thì kinh Cáo Mình hiện tại, sau Công Đồng Vatican II cho chúng ta:

“ ..con  đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót(  omissio). Lổi tại tôi, lổi tại tôi, lổi tại tôi mọi đàng…”

So sánh hai kinh Cáo Mình, chúng ta thấy Công Đồng Vatican II làm cho chúng ta ý thức đến điều đáng lý chúng ta phải làm, nhưng chúng ta đã “tự ý bỏ qua”(  omissio) trong La ngữ có nghĩa là tự ý bỏ qua, mặc dầu mình ý thức đó là bổn phận, chớ không phải chỉ thiếu sót vì thờ ơ, quên lãng), tạo ra việc chúng ta thiếu trách nhiệm đối với Chúa và đối với anh em, vì không thương yêu anh em , như lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1 Gv. 4,20s). Điều “ tự ý bỏ qua, không hành động , không can thiệp vào việc mà đáng lý chúng ta phải làm”( chớ không phải  “ thiếu sót”) đó là một hành vi lổi phạm một trong hai Giới Răn của Chúa, là tội, chớ không phải là hobby, muốn làm hay không cũng được.

Ngoài ra những văn kiện của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta ý thức đến việc dấn thân chính trị, cộng tác với anh em khác, công giáo hay không cũng vậy, để xây dựng một xã hội tương xứng hơn với địa vị con người, lương tâm kitô giáo đòi buộc chúng ta “không được tự ý bỏ qua” trách nhiệm chính trị, khi đức bác ái đối với anh em, đối với Quốc Gia Dân Tộc, đòi buộc chúng ta phải hiện diện.

Giả sử chúng ta có khả năng, có chương trình pháùt triển chính trị,  xã hội, kinh tế hữu hiệu, hợp lý và khả thi,  làm cho dân tộc  chúng ta có đời sống “ người cho ra người “ hơn, nhưng vì lý do nào đó chúng ta “không tham vọng chính trị” , trốn tránh trách nhiệm, để mất cơ hội, để kẻ khác kém tài năng hơn lãnh đạo làm cho đât nước cơ cực, dân chúng ngu dốt, lầm than. Thái độ “vô trách nhiệm, tự ý bỏ qua”( omissio) đó, chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa, trong lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1Gv.4,20s) .

Để kết thức, chúng tôi xin mượn lời Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về chính trị:

– “ Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người” .  

Và Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân:

– “ …việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác…”.

Nguồn: VN-Online

Tưởng nhớ bà Trần Lệ Xuân

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

Trần Lệ Xuân

BÀ TRẦN LỆ XUÂN:
MỘT THỜI SÓNG GIÓ VẺ VANG
VÀ NỬA ĐỜI THẦM LẶNG TRONG VINH DIỆU

Nguyễn Kim Lộc

(Chicago, Illinois. USA)
Ngày 01-11-1963 đánh dấu sự sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà Miền Nam, do Tướng Dương Văn Minh, với  tư cách đứng mũi chịu sào, danh xưng Chủ Tịch Hội Đồng Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà với sự hỗ trợ đắc lực của Tướng Trần Thiện Khiêm, người được mô tả là linh hồn của cuộc đảo chánh, từ hiến kế, sắp xếp, liên lạc thuyết phục các tướng lãnh trong quân đội và  gần như toàn quyền quyết định việc lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, để mở trang sử mới… cũng là ngày bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân, vỡ mộng chính trường…
Dư luận cho rằng, lý do sụp đổ của nền Đệ Nhất Cộng Hoà là do chính sách gia đình trị và việc đàn áp Phật Giáo của chính quyền đương thời và sự thiếu sáng suốt – cả nể của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để thân tộc chen sâu vào lãnh vực chính trị, và hoạt động kinh tài… “Đức cha Thục đứng trong bóng tối điều khiển người thân tín khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..v..; ông Ngô Đình Cẩn, tự phong là Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung về mặt an ninh và đoàn thể, đồng thời trực tiếp điều khiển Đoàn Công Tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu phụ trách”, nên Quân Đội phải lãnh sứ mạng đảo chánh để bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân miền Nam Việt Nam, nhưng ít ai biết được nguyên nhân  sâu xa của cuộc chính biến lịch sử nầy …Nhờ những tài liệu được giải mật của Mỹ và hồi ký của những người tham gia cuộc đảo chánh nói trên, người dân  Việt Nam đã hiểu rõ nguyên nhân sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hoà.  
Một lý do rất đơn giản – Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý cho Hoa Kỳ đổ quân Mỹ ào ạt vào miền Nam Việt Nam, vì sợ dân chúng hiểu lầm miền Nam Việt Nam đã bị Mỹ chiếm, làm ảnh hưởng đến chính nghĩa và tinh thần của người Việt quốc gia chống Cộng Sản; tạo cái cớ cho Cộng Sản Miền Bắc tuyên truyền xuyên tạc,  khơi dậy lòng căm thù trong dân chúng đối với Mỹ và chính quyền Đệ Nhất Cộng Hoà, hầu lôi kéo quần chúng về phía Cộng Sản, đồng thời kêu gọi dân chúng nổi dậy “đánh Mỹ cứu nước”,  “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”.
– Cũng khoảng thời gian đó, cơ quan Tình Báo Mỹ phát hiện ông Ngô Đình Nhu đi đêm với Cộng Sản Bắc Việt ở một khu rừng thuộc tỉnh Bình Tuy để tìm cách giải quyết vấn đề nội bộ Việt Nam; chuyện nầy không biết có phải là một đòn chính trị nhằm thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ và tìm hiểu đường hướng chủ trương của Cộng Sản Bắc Việt hay không (?), vẫn làm cho chánh quyền Mỹ khó chịu, và sự  việc nầy, hẳn nhiên là trật với đường lối và kế hoạch giải trừ  khối Cộng Sản Quốc Tế của Mỹ; nên CIA Mỹ (nhân vật nổi bật là Lucien Conein) nhận lãnh trách nhiệm liên lạc thuyết phục hoặc mua chuộc thành phần tướng lãnh Việt Nam Cộng Hoà dưới nhiều hình thức và đạo diễn cuộc đảo chánh chế độ Ngô Đình Diệm.
Lịch Sử đã sang trang, chắc có người thầm trách tôi khơi lại làm gì, khi hình ảnh ngày 01-11-1963 đã phai mờ dưới bao lớp bụi thời gian, đã hơn bốn mươi bốn năm thắm thoát trôi qua, hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị Quân Nhân Cách Mạng bắn chết trên thiết vận xa M113, trên đường từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu.
Thi thể được an táng vào lúc giữa đêm trong khuông viên trại Trần Hưng Đạo, cạnh chùa Ấn Quốc, trước sự chứng kiến của một linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung (một thời là Bộ Trưởng, Phụ Tá Quốc Phòng thời Đệ Nhất Cộng Hoà, và bà Dung gọi ông Diệm bằng cậu ruột) và Trung Tá Nguyễn Văn Luông (Trưởng Ban Mai Táng). Đến năm 1964, hai quan tài của ông Diệm và ông Nhu được di dời đến nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (Sài Gòn), chôn một cách sơ sài , không xây mộ và cũng chẳng dựng bia….và đến sau ngày 30-4-1975, hài cốt của hai ông Diệm và Nhu, một lần nữa, được cải táng tại  nghĩa trang Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương. Và Ngô Đình Cẩn cũng đã bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thời Đại Tướng Nguyễn Khánh xử tử lúc 6 giờ 30 sáng ngày 09-5-1964 tại sân sau khám Chí Hoà Sài Gòn, trước sự chứng kiến của Luật Sư Biện Hộ Võ Văn Quang – ông Quang bùi ngùi vì việc biện hộ không mang lại kết quả… và chỉ xin được cặp kính còn một tròng của người tử tù, đem về làm kỷ niệm …
 Tất cả những người vừa kể đã yên mồ… nhưng còn một phụ nữ Việt Nam đáng thương hơn là đáng trách, đáng phục hơn là đáng khinh, đó là Bà Ngô Đình Nhu khuê danh Trần Lệ Xuân. Bà có một phần đời vươn đến đỉnh cao quyền lực, với quyết tâm chống Cộng Sản và xây dựng tốt đẹp xã hội miền Nam Việt Nam trong tự do, dân chủ và công bằng, nhưng ước vọng đã không thành…. và nửa cuộc đời còn lại sống lưu vong trong cảnh cô đơn, thầm lặng, vinh diệu ở Châu Âu.
Trở về quá khứ một chút…Ngày 10-9-1963, Bà Nhu hướng dẫn một phái đoàn Dân Biểu Việt Nam đi dự Hội Nghị Quốc Tế Nghị Sĩ tại Nam Tư, đồng thời lãnh trách nhiệm giải độc dư luận ở Hoa Kỳ và một số nước ở Âu Châu về tình hình Phật Giáo và chính trị Việt Nam, thì một biến cố quan trọng xảy ra – chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà bị lật đổ. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị sát hại vào ngày 02-11-1963, trong khi bà Nhu và cô con gái Ngô Đình Lệ Thuỷ đang ở tại khách sạn Wilshire  thuộc Beverly Hill, Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Bà Nhu đã bàng hoàng khi nghe tin vừa kể.
Ngày 15-11-1963, bà Nhu và con gái rời Mỹ đi Roma (Ý), sau khi tuyên bố: “Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
Vào năm 1964,  bà Ngô Đình Nhu đã một lần xin về thăm lại quê hương Việt Nam để lo mồ mả cho chồng, ông Ngô Đình Nhu và anh chồng là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng bị cấp lãnh đạo nền Đệ Nhị Cộng Hoà bác đơn (?)… Có quê hương, mà vì hoàn cảnh phải bỏ đi tỵ nạn ở xứ người là một điều đau khổ, lại bị từ chối không cho về thăm quê hương lại càng đau khổ hơn, nhất là đối những người có tuổi, càng về già càng da diết nhớ quê hương, càng nhớ nhiều về quá khứ, cội nguồn, tổ tiên, dân tộc…
Tôi chẳng bà con họ hàng gì với bà Trần Lệ Xuân, chỉ biết thấp thoáng bà có họ hàng với ngôi nhà Từ Đường Họ Trần ở góc đường Quang Trung và Phan Châu Trinh Biên Hoà. Ngôi nhà nầy do thân tộc của bà Trần Lệ Xuân, xây cất từ đời ông cố của bà Nhu là ông Trần Văn Tứ, tiếp đó ông nội của bà Nhu là ông Trần Văn Thông từng là Tổng Đốc Nam Định thời xa xưa, là người nguyên quán tỉnh Biên Hoà…Và nhân dịp đọc được nhiều trang báo đề cập đến Bà là một phụ nữ tân tiến, tài ba, dám dấn thân hoạt động chính trị, hơn hẳn nhiều nghị sĩ và dân biểu thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tấm lòng quyết tâm chống Cộng Sản và xây dựng  xã hội miền Nam Việt Nam, nhưng giấc mộng của Bà đã tan theo khói súng cuộc đảo chánh 01-11-63, do một nhóm tướng lãnh chủ trương, và bà đã phải sống lưu vong nơi hải ngoại gần năm mươi năm; bà an phận trong cuộc đời goá bụa, giữ tròn tiết hạnh đối với chồng và cố gắng nuôi các con ăn học thành tài, có địa vị xã hội cao nơi xứ người…khiến cho tôi vô cùng cảm kích, ngưỡng mộ và kính trọng Bà.
Bà Ngô Đình Nhu là một phụ nữ có tài, nhưng tài nghệ của bà không thể nào so sánh với hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định về Tàu, giành độc lập, xưng vương năm 40, đóng đô ở Mê Linh…và sau đó bị Mã Viện đánh bại, nên hai Bà trầm mình xuống sông Hát Giang mà tự tử vào năm 43; cũng không thể so sánh với Bà Triệu khởi nghĩa năm 248 tại quận Cửu Chân đánh thắng quân Tàu nhiều trận, nhưng sau cùng thế yếu, Bà tự tử tại làng Bồ Điền (Thanh Hoá) …nhưng có một phụ nữ Việt Nam nào có bản lĩnh hơn Bà Nhu, trong lịch sử cận đại, dám dấn thân vào lãnh vực chánh trị, phụ chồng (ông Ngô Đình Nhu) và giúp anh chồng (ông Ngô Đình Diệm) trong việc cùng lo bảo vệ chế độ Cộng Hoà Miền Nam, chống lại Cộng Sản Miền Bắc hay không? – Xin thưa rằng không. Tôi không có ý nói bà Trần Lệ Xuân là người học cao…. Bà chỉ học đến bậc Tú Tài Pháp, nhưng bà rất thông minh, lịch lãm, dám tham gia hoạt động chính trị; là vợ của một quân sư lỗi lạc và thường thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân thời Đệ Nhất Cộng Hoà, mỗi khi có cuộc tiếp tân, chào đón các mệnh phụ phu nhân của nhiều quốc gia trên thế giới đến thăm viếng Việt Nam.
            Ngoài các công việc vừa kể, bà Ngô Đình Nhu còn đãm trách nhiều chức vụ quan trọng khác…
            * Dân Biểu Quốc Hội Đệ Nhất Cộng Hoà (Đơn vị quận Đức Hoà/Long An), Bà mạnh dạn đề nghị chính phủ đóng cửa hai sòng bạc Kim Chung (Sài gòn) và Đại Thế Giới (Chợ Lớn) do lực lương Bình Xuyên-Bảy Viễn đỡ đầu và khai thác, vì nhận thấy nơi đây là nguồn gốc gây ra tệ đoan xã hội; đồng thời đề nghị đóng cửa thanh lâu “Bình Khang” ở ngã ba Vườn Lài (Sài Gòn), nơi mà người phụ nữ bị khinh khi nhất, bị người đời mỉa mai làm nghề bán trôn nuôi miệng…
* Thủ Lãnh Thanh Nữ Cộng Hoà, trong ý hướng nâng cao vai trò phụ nữ, tạo điều kiện cho người phụ nữ dự phần bảo vệ quốc gia, Bà gây ý thức “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Bà làm sống lại tinh thần Trưng Trắc Trưng Nhị:
“Bà Trưng quê ở Phong Châu
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
….
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên Thành
Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.
Bà làm sống lại tinh thần Triệu Trinh Nương:
“Tôi chỉ muốn cưỡi có gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Có bà Triệu Tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân”
“Tùng Sơn nắng quyện mây trời
Dấu chân Bà triệu rạng ngời sử xanh”
* Là Phu Nhân của Cố Vấn Chính Trị Ngô Đình Nhu, nhưng Bà và thường mặc nhiên thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân thời Đệ Nhất Cộng Hoà trong công tác ngoại giao quốc tế, tiếp đón các nữ chính khách của nhiều nước trên thế giới, đến viếng nước Việt Nam…do đó, giá trị và tư cách của Bà được nâng cao Bà luôn làm tròn nhiệm vụ được giao phó.
* Chủ Tịch Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới Xã Hội. Bà bênh vực quyền lợi của người phụ nữ và tạo cơ hội cho người phụ nữ tham gia công tác  xã hội….vì Bà hiểu rõ thân phận của người phụ nữ Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử, luôn bị coi thường, tháng ngày chỉ quanh quẩn trong phạm vi gia đình trách nhiệm nuôi con, lo việc bếp nút và thường bị người chồng chèn ép về nhiều mặt…Bà đã mạnh dạn đề nghị Quốc Hội ban hành Luật Gia Đình (1958) ngầm xoá bỏ cảnh trai năm thê bảy thiếp, để bảo  đãm hạnh phúc gia đình một vợ một chồng; Bà muốn làm một cuộc cách mạng, nâng cao vai trò phụ nữ Việt Nam, xoá hẳn câu “Nhất Nam Viết Hữu, Thập Nữ Viết Vô”, trọng nam khinh nữ,  một quan niệm sai lầm do ảnh hưởng tập quán nước Tàu đã lỗi thời, mà vẫn còn một thiểu số người còn bám níu. Bà kêu gọi phu nhân các vị tướng tá và các công chức cao cấp tham gia công tác xã hội, thường xuyên thăm viếng các cô nhi quả phụ và uỷ lạo các thương bịnh binh trong các quân y viện…
Bà chấp nhận đi Mỹ và Âu Châu, giải độc dư luận về vụ đàn áp Phật Giáo dẫn đến việc Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, mà theo bà hiểu… đó là một âm mưu do Cộng Sản chủ trương với sự đồng loã của CIA Mỹ, nhằm bức tử Hoà Thượng Thích Quảng Đức dưới hình thức tự thiêu vì đạo pháp, để làm ngọn đuốc giả tạo, đấu tranh cho Phật Giáo với mục đích khuynh đảo chế độ của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà và Bà sẵn sàng chấp nhận mọi sự phản đối của nhiều người Mỹ và cũng như một số người Việt Nam Thật sự, lúc bấy giờ, có một số đông dân chúng, gồm cả nhiều người trí thức rất ngây thơ về mặt chính trị, nên bị Cộng Sản lừa gạt, dụ dỗ thoát ly vào rừng hoạt động như Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, Kiến Trúc Sư Huỳnh Tấn Phát, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ… và hầu hết các kháng chiến quân miền Nam và sau cùng đều bị bạc đãi; họ ngậm đắng nuốt cay và thú nhận đã lầm đường… kể cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sống tại miền Nam tự do, làm giáo sư, dạy môn Việt Văn, cũng lầm và đã viết bài thơ “Lửa Từ Bi”…. ca ngợi sự tự thiêu vì đạo pháp của Hoà Thượng Thích Quảng Đức…để rồi sau ngày 30-4-1975, Vũ Hoàng Chương được Việt Cộng chiếu cố mời vào khám Chí Hoà nghỉ mát đến lúc gần chết mới được thả về.
LỬA TỪ BI
Kính dâng lên Bồ Tát Quảng Đức
Vũ Hoàng Chương
Lửa, lửa cháy ngất toà sen!
Tám chín phương nhục thể tràn tâm
Hiện thành thơ, quỳ cả xuống
Hai vầng sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt-Trời-mới-mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên
Ô đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ là hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân sì vừa mở mắt
Nhìn nhua: tình huynh đệ bao la.
Nam mô Đức Phật Di Đà
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dầy
Bước ra ngồi nhập định về hướng Tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngã luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên từng nhịp Bánh xe quay
Không khí vặn mình theo,
khóc oà lên nổi gió:
Người siêu thăng…
Dông bảo lắng từ đây
Bóng người vượt chín tầng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề.
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Chổ người nồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét Từ Bi.
Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
Với thời gian, lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ! Còn trái tim Bồ Tát
gội hào quang xuống chốn A Tỳ
Ô ? Ngọn lửa huyền vi!
Thế giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác
Từ cõi vô minh
Hướng về Cực Lạc
Vần điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác
Và cũng chỉ nguyện được là rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh
Tụng cho nhân loại hoà bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này
Thổn thức nghe lòng Trái ất
Mong thành quả phúc về cây;
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật;
Đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt
Tình thương hiện Tháp-Chín-Tầng xây
Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương
(viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1963, để tưởng niệm
Hoà Thượng Bồ Tát Thích Quảng Đức).
Trong khi bà Ngô Đình Nhu biết chắc vụ tự thiêu Hoà Thượng Thích Quảng Đức là do bàn tay của Cộng Sản dàn dựng, nên trong các cuộc phỏng vấn trong nước cũng như ở hải ngoại (của báo New York Times…), bà Nhu đã không ngần ngại phát biểu :
            “Hoạt động của Phật Giáo là một hình thức phản bội xấu xa…” hoặc “Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu thì tôi sẽ cho (nguyên văn: I would clap hands at seeing another monk barbecue show……)”.
            Và còn gọi vụ tự thiêu là “nướng sư” hoặc “Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật Giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới“,
            Bà bị nhiều người, trong số có cả người thân trong gia đình, chê trách Bà đã không tế nhị trong việc phát ngôn, lời nói mang tính cách chế dầu vào lửa, khiến cho tình hình chính trị tại miền Nam, vốn rối rắm càng lúc càng rối rắm hơn ….nhưng thực tế bà Nhu đã không thể nói khác được vì sự thật đã bày ra trước mắt….chỉ tiếc rằng Bà đã không nói thẳng ra, vụ Thích Quảng Đức tự thiêu là do âm mưu của Cộng Sản miền Bắc chỉ thị cho Phật Giáo Quốc Doanh miền Nam, núp dưới danh nghĩa Phật Giáo Ấn Quang, do Thích Trí Quang lãnh đạo, thực hiện…. 
            Bây giờ mọi người đã rõ việc “Thích Quảng Đức tự thiêu’’ là do Việt Cộng sắp đặt từ A đến Z, từ chích thuốc an thần cho đến khi Hoà Thượng Thích Quảng Đức không còn biết gì nữa, rồi giao cho tên Trần Quang Thuận chở đến ngã ba đường Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng (Sài Gòn), với sự tham gia đắc lực của tên Việt Cộng nằm vùng Nguyễn Công Hoan, đổ cả thùng xăng lên người Thích Quảng Đức và châm lửa; chuyện rõ ràng như thế mà Cộng Sản lại tuyên truyền :
            “Bồ Tát Thích Quảng Đức tự Ngài đã tẩm ướt xăng, rồi ngồi kiết già nơi giao lộ và cũng tự tay Ngài châm thêm xăng và quẹt lửa vào người”
            Sau ngày 30-4-1975, Nguyễn Công Hoan, tên thật là  Huỳnh Văn Thạnh, được Việt Cộng đề cử là Dân Biểu tỉnh Phú Khánh. Nhờ những đoạn phim, ảnh, quay và chụp được…  nhân dân Việt Nam đã thấu hiểu vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu là do âm mưu của Cộng Sản  nhằm bức tử một nhà sư trong mưu đồ chính trị, nhằm gây rối tình hình và khuynh đảo chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà. Những tấm hình dưới đây đã chứng minh điều vừa kể.
Bây giờ, mọi người đã hiểu rõ hai tiếng “nướng sư” ….của Bà Ngô Đình Nhu phát biểu trên bốn mươi năm qua,  diễn tả rất rõ ràng, chứng minh được cảnh  Hoà Thượng Thích Quảng Đức không phải tự thiêu về đạo pháp mà là một sự  bức tử  – cán bộ Cộng Sản  đã trút lên người Thích Quảng Đức cả “can” xăng rồi nhanh tay châm lửa…
Mời quí vị đọc bài thơ sau đây…
ỬA TỪ BI HAY OAN NGHIỆT
(Thế Nhân)
Ôi! Ngọn lửa từ bi
Hay khói mùa oan nghiệt?!
Cộng Sản quá độc ác
Tế sống một nhà sư
Nam mô A Di Đà Phật!
Cộng Sản chở Sư đến
Cộng Sản dìu Sư đi
Sư dường không còn biết
Sắp lìa đời từ đây
Nam mô A Di Đà Phật!
Trước cảnh người chứng kiến
Thích Quảng Đức lặng im
Sư ngồi thế toạ thiền
Góc đường Lê Văn Duyệt
Giữa hàng rào cà sa
Lẫn màu áo lam già
Của Ấn Quang tà phái
Cảnh dàn dựng cúng dường
Chao ôi! Ác quá chừng
Cộng Sản đổ ‘can’ xăng
Lên khắp người thượng toạ
Cộng Sản mở quẹt châm
Bức tử một vì Tăng
Lửa oán cừu bùng cháy
Cộng Sản truyền thắng lợi
Một ngọn lửa chính trị
Đã hoá kiếp nhà sư
Ống kính đã khắc ghi
Ảnh hình còn lưu lại
Bao Tăng ni đồng loã?
Chứng cảnh dã man nầy!
Ngọn lửa đang bốc cao
Từ Bi hay Oan Nghiệt
Người đời đà nhận biết
Nguồn cội tự Quốc Doanh
                       
Hầu như mọi người đều nhận ra Phật Giáo Ấn Quang là một tổ chức ngoại vi của Cộng Sản Bắc Việt và tổ chức nầy biến thành Phật Giáo Quốc Doanh sau ngày 30-4-75, riêng Thượng Toạ Thích Trí Quang được Bộ Chính Trị Cộng Sản Miền Nam điều động vào bóng tối ngồi nghỉ ngơi, im hơi lặng tiếng đến ngày hôm nay.
Việc làm kể trên của bà Ngô Đình Nhu dĩ nhiên có nhiều người Quốc Gia ganh tị tài ba và địa vị, đồng thời bị Cộng Sản tuyên truyền bóp méo sự thật, cố tình xuyên tạc, phao tin thất thiệt nhằm làm giãm uy tín của bà …..
Theo bài báo có tựa là “Các Tướng Cướp Đội Lốt Thầy Tu’ của  Nguyễn Hạnh Hoài Vy, tác giả cho rằng bà Nhu có buông lời xúc phạm đến các linh mục và các nhà sư với những câu  “Bà Nhu nổi tam bành mà mắng mấy ông cha là “các tướng cướp” vì sợ rằng thành phần giai cấp tăng lữ mới nầy , nếu có tham vọng quá đáng, sẽ lấn lướt quyền lực của chồng bà, cũng đang trong giai đoạn cần củng cố và phát triễn”….chỉ vì bà Nhu đã  không tiện nói tách bạch những ai mà thôi. Theo tôi, lúc bấy giờ, bà Nhu đã biết chắc những người nào lợi dụng lốt áo thầy tu, nhưng  không lo việc tu hành, lại ngấm ngầm dấn thân làm việc ngoài đời, lo làm chính trị hoặc kinh doanh dưới nhiều hình thức, vô tình làm cho chế độ mang nhiều tai tiếng….Bà nói quá tổng quát, kiểu quơ đũa cả nắm, nên bị nhiều người chỉ trích và bị Cộng Sản lợi dụng xuyên tạc … chứ phải hồi đó bà Nhu cứ nói thẳng ra Thượng Toạ Thích Trí Quang, hoặc  linh mục Phan Khắc Từ thì đúng quá rồi (Sau ngày 30-4-75, Thích Trí Quang và Phan Khắc Từ đã hiện nguyên hình là cán bộ Cộng Sản) hoặc nói thẳng linh mục Chân Tín (chủ trương tờ báo Đối Diện), hoặc linh mục Nguyễn Ngọc Lan tác giả quyển “Cho Cây Rừng Còn Xanh Lá”, là những người ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản thì cũng đúng quá rồi, nhưng Bà quá dè dặt không nói thẳng ra (sau ngày 30-4-1975, hai ông Chân Tín và  Nguyễn Ngọc Lan đã thức tỉnh thì sự việc đã rồi, nước mất nhà tan, hai ông bị Cộng Sản bạc đãi, và dường như muốn chuộc lại phần nào lỗi lầm trong quá khứ, hai ông tiếp tục dấn thân tranh đấu tự do, dân chủ cho
Việt Nam và ông đã ngậm ngùi mang theo xuống suối vàng cách đây vài năm, nỗi tức tối vì đã chọn lầm hướng đi….
            Sau đây là phần góp nhặt trong dư luận qua sách báo về những sự khen chê cùng những lời phát biểu của bà Ngô Đình Nhu:
            Những Lời khen Bà Nhu:
            1. Trong quyển truyện “Ván Bài Lật Ngữa” của Nguyễn Trương Thiên Lý (tên thật là Trương Gia Triệu, bí danh Trần Bạch Đằng, một đảng viên Cộng Sản cao cấp, gốc người miền Tây), theo thân phụ, ông Trương Gia Mãng, lưu lạc lên Biên Hoà làm quản lý cho đồn điền Sở Quít của cố trưởng toà Trần Quang Nghiêm (thân phụ của Trần Quang Nghĩa, một  sĩ quan Không Quân Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà), tác giả Nguyễn Trương Thiên Lý đã có lời khen “Bà Nhu rất sắc sảo về chính trị”.
            2. Trong bài phỏng vấn ông Quách Tòng Đức (cựu Đổng Lý Văn Phòng cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm) do ông Lâm Lễ Trinh thực hiện, có đoạn:
            “Ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới và vận động quốc hội ban hành Bộ Luật Gia Đình cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội….”
            “Ngoài chức vụ Dân Biểu Quốc hội, bà Nhu còn là Chủ Tịch Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu còn đóng vai trò Đệ Nhất Phu Nhân, vì Tổng Thống độc thân”
            3. Trong bài viết “Nhớ về Ông bà Ngô Đình Nhu”, Giáo Sư Nguyễn Văn Lục viết:
            “Bà thì vừa xinh, vừa trẻ đẹp, giữ gìn gia phong nề nếp. Thêm một lần nữa, tôi có một ấn tượng rất tốt đẹp về bà Nhu. Theo cha Phước khi đến thăm ông Nhu cùng với vài người khác ngồi ở phòng khách. Chủ khách đàm đạo trong khi bà Nhu không dám ngồi mà chỉ đứng chắp tay vào nhau để trước bụng. Đấy là cử chỉ của những gia đình có lễ giáo nghiêm ngặt. Tôi không nói thêm cho bà cũng không nói bớt cho. Nghe sao thì nói lại…Mà câu chuyện này tôi nghe khi còn ở ngoài Bắc trước khi có cuộc di cư. Cung cách ấy, cử chỉ như thế, giáo dục nghiêm ngặt, lễ giáo như thế. Sau này có điều gì đi nữa. Làm sao tôi có thể nghĩ xấu cho người phụ nữ này được. Ai nghĩ xấu thì đó là việc của họ. Còn tôi thì không. Ai ghét thì cứ việc. Còn tôi không là không. Nói xấu cho một người thì dễ. Kính trọng được một người thì mới là điều khó”.
            Vẫn trong bài viết của Giáo Sư Nguyễn Văn Lục:
“Theo lời kể của anh Trần Cao Lĩnh, ông đã hết lời đối với gia đình ông Diệm và đặc biệt là đối với bà Nhu. Bà Nhu là hạng người phụ nữ chẳng những có ăn học, có giáo dục. Cử chỉ phong cách quý phái, chừng mực lễ độ trong cư xử. Không phải loại người bờm xơm, cớt nhả, dâm đãng, mất nết như những lời bịa đặt của dư luận ác ý”.
“ Tại Huế, chỉ các đàn ông như các ông Diệm, ông Nhu, Giám Mục Ngô Đình Thục mới được phép ở nhà trên dùng cơm. Bà Nhu chẳng những sợ và khép nép với ông Diệm mà còn cả với Giám Mục Thục. Theo nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Bà Nhu không dám tự tiện vào phòng ông Diệm”.
 “Nhưng phỏng được bao nhiêu người có cơ hội tiếp xúc với bà Nhu, hiểu bà Nhu như ông Trần Cao Lĩnh để rồi kính trọng nhân cách con người bà? Phải thú thực không có bao nhiêu. Không mấy ai biết bà, nhưng ghét bà, khinh miệt bà thì gần như tất cả. Đàn ông ghét đã đành, đàn bà cũng ghét theo. Ghét ngay từ những năm1955 khi chưa có Quốc Hội, chưa có Hội Phụ Nữ Liên Đới hay Phụ Nữ Bán Quân sự. Dưới mắt đám đông, bà Nhu chỉ là một người phụ nữ “mất nết”, ăn mặc hở hang, lố lăng với chiếc áo dài kiểu mới. Phụ nữ chê bai tư cách của bà trong chiếc áo dài kiểu mới, nhưng không ai bảo ai, giới nữ sinh đến loại mệnh phụ phu nhân đều ăn mặc theo kiểu áo dài đó” 
“Đến độ vào năm 1955, ông Diệm chép miệng than thở: Tội nghiệp, Bà Nhu có làm gì đâu? Không làm cũng chết chỉ vì bà là một người đàn bà. Lại thường nói quá mạnh, cứng rắn trong quan điểm, lập trường, không nhường nhịn. Đàn ông nào nó chịu được”
            4. Tờ Nữu Ước Thời Báo viết:
            “Chính nhân dân Việt Nam phải tự giải quyết cuộc khủng hoảng tại nước họ. Vai trò của Hoa Kỳ là làm cho họ hiểu rằng cuộc viện trợ và ủng hộ của Hoa Kỳ là không thể kéo dài vô thời hạn. Chúng tôi hy vọng rằng “quan điểm ấy của người Mỹ” sẽ được trình bày rõ ràng với bà Nhu, và bà trở về Sài Gòn với ý niệm rõ ràng đó, thì cuộc viếng thăm của bà tại Hoa Kỳ không phải là không hữu ích”
            “Trong ba tuần lưu lại Hoa Kỳ, bà Ngô đình Nhu đã đi thăm 12 thành phố, tham gia 17 chương trình phát thanh, đọc 17 bài diễn thuyết, dự 15 đại tiệc ….và bà đã qua kỳ thi sơ khảo trước báo chí Hoa Kỳ và đã đậu ưu hạng. Hôm thứ Tư vừa qua, bà Ngô Đình Nhu tố cáo một số cơ quan thông tấn xã Hoa Kỳ tại Việt Nam đã liên can đến một vụ âm mưu lật đổ Chính Phủ Việt Nam”.
            Những Lời Chê Bà Nhu:
1. Có những kẻ xấu miệng lại cho rằng Bộ Luật Gia Đình nhằm mục tiêu riêng:
            Ngăn Luật Sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với bà Trần Lệ Chi, chị của bà Nhu. Theo tôi, đây chỉ là sự đoán mò với dụng ý xuyên tạc.
2. Trong bài “Nhớ Về Ông Bà Ngô Đình Nhu”, ông Nguyễn Văn Lục viết:
            “Tôi biết rõ. Vì chính tôi cũng chẳng thể nào quên được câu nói phạm thượng và xấc xược của bà khi Hoà Thượng Quảng Đức bị tự thiêu”
            “Đối với tôi, sau 1963, cái gì cũng trở thành đầu đề để đàm tiếu gia đình ông Nhu. Có cần nhắc lại những điều viết bất xứng về bà Nhu của những người như Hoàng Trọng Miên, Nguyễn Đắc Xuân không?”
            Và cũng trong bài viết nầy, có đoạn “Suốt tuần qua báo chí Sài Gòn đăng nhiều phóng sự điều tra về những bí mật trong Dinh Gia Long, đặc biệt là những hình ảnh sex mà họ gán cho là của bà Trần Lệ Xuân….Các sĩ quan chỉ cho chúng tôi hệ thống kính soi được lắp kính bốn mặt tường và họ giải thích rằng bà Trần Lệ Xuân lắp hệ thống kính như thế để mọi hoạt động thân thể riêng tư của bà trong phòng nầy bà có thể ngắm được từ nhiều phía, nhưng kỳ thực đây là những lời hoàn toàn bịa đặt ….”
            Và ông Nguyên Văn Lục có ghi đoạn:
            “Theo ông Ngô Bảo (nhà thầu tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật bên Pháp) có trách nhiệm trang trí tư dinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho người viết hay: phòng ăn Dinh Gia Long được trang trí với tranh sơn mài Thành Lễ. Riêng phòng bà Nhu chỉ treo độc nhất một bức ảnh bán thân của bà Nhu, do hoạ sĩ Nguyễn Khoa Toàn vẽ (1). Bức tranh vẽ bà Nhu mặc áo cánh lụa, có hơi rõ nét nổi lên phần ngực phía trong làn áo. Chỉ có vậy. Người viết hỏi thêm, có thấy các bức tường chung quanh phòng bà Nhu đều có gương phản chiếu không? Ông Ngô Bảo cho biết: Làm gì có chuyện đó. Tường thường như mọi bức tường nhà khác”
            3. Cũng trong bài viết của Gáo Sư Nguyễn Văn Lục, ông trình bày:
            “Tôi đã nói chuyện với Sĩ Quan Tuỳ Viên Lê Châu Lộc, sau này là Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Ông Lộc với bản chất trung thực cho biết, ông biết gì nói nấy, có nói có, không nói không. Ông cho biết 06 năm làm sĩ quan tuỳ viên cho “ông cụ”, kề cận ông cụ ngày đêm. Trong 06 năm đó chỉ gặp bà Nhu trên dưới 10 lần, vì hai ông bà ở khu bên kia Dinh Tổng Thống, ít có tiếp xúc qua lại. Ông không mấy thích bà Nhu vì giọng nói của bà Nhu lai Bắc, lai Trung và tính nết tỏ ra cao ngạo. Nhưng đối với Tổng Thống Diệm thì bà sợ và cử chỉ e dè, khép nép. Không có cái cảnh muốn ra vào văn phòng ông Diệm lúc nào thì vào. Bà là người có phong cách, lịch sự và đàng hoàng”.
            4. Nhiều người chỉ trích bà ỷ lại, là phu nhân của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và thường thủ vai Đệ Nhất Phu Nhân, nên chen quá sâu vào lãnh vực chính trị, để phải mang tiếng là “Sau rèm chấp chính”; nói bà có cử chỉ xem thường một số viên chức cao cấp và  tướng lãnh, nên gây cho họ bất mãn về cung cách ấy của bà, và  nhất là khi phát biểu, bà không uyển chuyển lựa lời, cứ nói thẳng thừng nên dễ gây mếch lòng nhiều người cho rằng bà nói năng hàm hồ và từ đó đâm ra thù ghét sau lưng bà….
          Những Lời Phát Biểu của bà Nhu:
          1. Trong bài viết về “Cuộc Đời Thanh Nga” đăng trên báo Người Việt Online có đoạn:
          “Bà nói, hiện nay nam nữ đã bình quyền, phụ nữ không còn phải chịu cảnh tối ngày chỉ lẩn quẩn trong gia đình, ẩn núp trong phòng the mà có thể tham gia bất cứ lãnh vực nào ngoài xã hội, kể cả chính trị mà hầu như xưa giờ chỉ dành cho nam nhân”.
           …Luật Gia Đình đã phổ biến nhưng còn rất nhiều phụ nữ vẫn chưa biết, nên vẫn còn thiệt thòi. Bà nhấn mạnh, điều khoản trong Luật Gia đình đã bỏ chế độ đa thê lỗi thời, có từ thời thực dân, phong kiến đã hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ.”
          2. Trong diễn văn ngày 03-8-63, khai mạc Khoá Phu Nữ Bán Quân Sự tại Toà Đô Chính Sài Gòn, với nội dung có lời lẽ vu khống, mạ lỵ và hăm doạ Phật Giáo, gián tiếp tố cáo chính quyền Mỹ đe doạ và bắt chẹt chính quyền Miền Nam và cố tình bịt miệng Bà. Bà kêu gọi hãy phớt lờ các cuộc đấu tranh của Phật giáo và chớ quan tâm đến vụ Hoà Thượng Thích Quảng Đức, vì theo Bà, đó là âm mưu của Việt Cộng  “nướng” sư ngày 11-6-63, nhằm vào việc quấy rối, khuynh đảo chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
          Bài diễn văn của bà Nhu đã gây ra một loạt phản ứng và tự thiêu ở các nơi khác..”
          Ngày 15-11-1963, bà và con gái đã rời khỏi Los Angeles sau khi tức tối tuyên bố: “Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
          3. Trong những ngày đi giải độc dư luận tại nước Mỹ bà Nhu tuyên bố “Nếu có một âm mưu lật đổ như thế, tôi có thể đoán chắc với quý vị là âm mưu ấy sẽ thất bại”.
          4. Trong bài viết về “Bà Ngô Đình Nhu” của tác giả Trương Phú Thứ có đoạn:
          “Nhiều người nói bà Nhu căm thù Mỹ lắm vì những sai lầm trong chính trị đối với Việt Nam và nhất là đối với Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam. Vào những ngày tháng cuối năm 1963, cả thế giới kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát nước Mỹ và những lãnh đạo của siêu cường này ở tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Ốc một quãng đường”
          Tin Đồn, Xuyên Tạc Ác Ý:
          1. Trong bài phỏng vấn nhà văn Vĩnh Phúc (VP) của nhà văn Nguyễn Văn Lục (NVL), đăng trên Đàn Chim Việt Online tháng 3-2006 có đoạn:
          “Chẳng hạn có đám cháy ở khu Khánh Hội, người ta đồn bà Nhu cho đốt để bán tôn của bà.  Cái gì cũng của bà Nhu, xe buýt bà Nhu, bột ngọt bà Nhu, hãng taxi bà Nhu, cây xăng bà Nhu, bất động sản khắp nơi của bà Nhu, chỗ nào cũng có người mập mờ nhận là Cần Lao…Thấy nó vô lý, nhưng làm sao kiểm chứng được. Tin đồn cứ thế loang ra”.
          NVL: Tôi có cảm tưởng ông có vẻ ghét, khinh thường bà Nhu về những ngôn ngữ, cữ chỉ xấc xược của bà ấy. Mặt khác tôi có cảm tưởng ông biện hộ, bênh vực bà ấy. Chẳng hạn trong sách ông cố tình chứng minh bà ấy không kinh tài, không tham nhũng, hối lộ? Điều đó có mâu thuẫn không?
          VP: Không có gì là mâu thuẫn cả. Ghét là một chuyện, ghét tính nết, không ưa. Nhưng cho phép tôi dùng lại chữ của ông đã dùng, tôi phải công bằng với bà ấy. Theo tôi, bà là nạn nhân bị bôi nhọ một cách thô bạo nhất thời ông Diệm.
          2. Trong bài viết của Luật sư Trương Phú Thứ có đoạn ghi:
          “Ngay cả một ‘sử gia chân chính” đã từng viết trong “chính sử” rằng Bà Nhu có mười bảy tỷ Mỹ kim, hai cái thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây ….”
          Ngày Tháng Lưu Vong
          Ngày 01-11-1963, Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đổ, bà Nhu và cô con gái Ngô Đình Lệ Thuỷ đang ở Mỹ và ngụ tại khách sạn Wilshire ở Beverly Hill, California, lo việc giải độc dư luận về tình hình chính trị và Phật Giáo tại Việt Nam…nhưng đến ngày 15-11-1963, bà rời nước Mỹ đi Roma (Italy), sau khi phát biểu:
“Tôi không thể cự ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi”.
            Khoảng đầu thập niên 90, bà Trần Lệ Xuân đến sống tại vùng Riviera (Pháp) và sau đó không lâu, Bà Nhu dọn đến ở trong một căn phòng nhỏ trên tầng lầu thứ 11 của toà nhà chung cư, gần khu kỳ quan tháp Eiffel, thuộc Quận 15, thủ đô Paris (Pháp).
            Trên 40 năm sống lưu vong ở Âu Châu, ở Ý cũng như ở Pháp, Bà sống rất tằn tiện với nguồn thu nhập rất khiêm nhường từ một căn phòng cho mướn. Bà sống khép kín, cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật làm chính trị …cũng như hạn chế tiếp xúc với giới truyền thông báo chí. Trong bài viết của Luật Sư  Trương Phú Thứ, có đoạn ghi:
            “Bà có thói quen, mỗi sáng, bất kể thời tiết giá buốt cỡ nào, bà vẫn đến nhà thờ…. dâng thánh lễ, phụ giúp công việc trong nhà thờ và đãm trách dạy các lớp Kinh Thánh và thỉnh thoảng thích làm công việc từ thiện.  Bà hầu như không thiết tha gì đến cuộc đời….Bà luôn thản nhiên vui sống với nếp sống hiện tại, bà dường như đã xoá nhoà dĩ vãng và cũng chẳng nghĩ gì về tương lai, mọi thứ Bà phó thác trong vòng tay của Chúa”.
            Thời gian sau nầy, kể từ ngày ông Ngô Đình Luyện qua đời, bà Nhu thay bà Luyện, tổ chức lễ cầu hồn cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông cô vấn Ngô Đình Nhu hằng năm tại Paris, Pháp.
            Năm 2007, Bà đã trên tám mươi tuổi, dấu vết già nua đã hiện trên gương mặt, nhưng sức khoẻ còn khả quan, tươi tỉnh, dáng vẻ còn linh hoạt, nhưng chỉ 2 năm sau đó, ở tuổi 85 (2009), sức khoẻ của bà đột nhiên giảm sút nhanh và bị đau chân, bà không đi đến nhà thờ nữa, chỉ ở nhà cầu kinh, nên hai người con của Bà (Ngô Đình Trác và Ngô Đình Lệ Quyên) rước Bà qua Ý Đại Lợi sống chung, để tiện việc chăm sóc cho Bà…
            Bà Trần Lệ Xuân đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã, lúc 2 giờ sáng (giờ La Mã-Ý Đại Lợi), vào ngày Lễ Phục Sinh, Chủ Nhật 24-4-2011. Bà thanh thản ra đi trong sự quay quần đông đủ các con và các cháu nội ngoại…Hưởng thượng thọ 87 tuổi.
            Từ sáng ngày 24-4-2011, tôi ghi nhận có rất nhiều điện thư ngập tràn trên mạng lưới Internet, nhiều người trong cũng như ngoài nước, đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Maria Trần Lệ Xuân với những lời lẽ trang trọng mến thương và chân thành cầu nguyện hương hồn của Bà sớm về an nghĩ nơi nước Chúa.
            Chuyện “Hồi Ký Bà Nhu”
            Trước đây , có tin đồn bà Nhu đang viết Hồi Ký và sẽ cho xuất bản vào một ngày rất gần,  nên có rất nhiều người hiếu kỳ mong được sớm đọc quyển Hồi Ký nầy để tìm hiểu về chuyện thâm cung bí sử nền Đệ Nhất Cộng Hoà và những cải chính về những tin đồn liên quan đến cá nhân của Bà, nhưng  mãi cho đến khi bà Nhu từ giã cõi đời, quyển hồi ký vẫn chưa thành hình và có tin từ trong gia đình, bà Nhu không viết hồi ký về cuộc đời sóng gió của bà mà chỉ viết  những cảm nghiệm của Bà về cuộc đời đạo hạnh và Thiên Chúa…. Tập sách nầy được các con bà Nhu trao cho ông Trương Phú Thứ, để dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt và sẽ cho xuất bản vào năm 2012. Quyển sách nầy không đề cập đến những hận thù, kể cả nhưng người đã làm đảo chánh, giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chồng của bà (ông Ngô Đình Nhu) và chắc chắn có đoạn bà tuyên bố sẵn sàng tha thứ tất cả “Anh Thứ à, những chuyện người ta nói xấu về tôi thì tôi không biết. Nhưng nếu họ có nói xấu tôi, thì tôi cũng tha thứ hết.” Đó là lời của bà Ngô Ðình Nhu đã nói với ông Trương Phú Thứ.
Báo Chí  khắp nơi  bình phẩm sau khi bà Trần Lệ Xuân qua đời
1- Lời của Nguyễn Đình Hoài Việt.
            “Bà Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân, là người đã có công không ít trong công cuộc giải phóng người phụ nữ Việt Nam khỏi đầu óc phong kiến, chế độ quân chủ và chủ thuyết Cộng Sản
đã chà đạp nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam xuống tận bùn đen. Bà Ngô Đình Nhu là người phụ nữ đầu tiên đi tiền phong phất cao ngọn cờ “Phụ Nữ Liên Đới” giải phóng người phụ nữ Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ phong kiến chồng chúa vợ tôi. Chính nhờ bà Ngô Đình Nhu mà người phụ nữ Việt Nam mới được bình đẳng với nam giới, mới được có nhiều cơ hội dấn thân đóng góp tài đức công khai trên chính trường Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua”.
2. Ông Bùi Văn Giải, Chủ Nhiệm Bản Tin Về Bên Mẹ La Vang, số 160 tháng 6-2011, đã viết:“….Bà Ngô Đình Nhu, một nữ nhân trí thức, không ngu dốt như bọn nhà quê Thị Bình, Thị Định. Bà là một người vì chính nghĩa Quốc Gia, đứng thẳng trước bọn tiểu nhân hèn hạ, (ngày đó nhà văn Thương Sinh gọi bọn tiểu nhân này là bọn Cỏ Đuôi Chó), bọn Cỏ đuôi Chó này bám đít mấy ông linh mục xu thời và thầy chùa quốc doanh. Thời hỗn loạn đã qua, trắng đen, phải trái, cả thiên hạ biết hết rồi, chúng ta, những người lương hảo, cách riêng, những tín hữu, hãy thinh lặng cúi đầu, xin Thượng Đế đoái thương người phụ nữ Việt Nam can đảm này, xin Thiên Chúa ban cho linh hồn Bà an hưởng trường sinh với Ngài nơi cõi Vĩnh Hằng”.
3. Một người có địa chỉ Email Lmymy2000@…. sau khi nghe và đọc bài Phỏng Vấn Bà Ngô Đình Nhu (Anh Ngữ, có lẽ là lần duy nhất, sau 1963), đã viết: “Nghe cuộc phỏng vấn đặc biệt của bà Ngô Đình Nhu. Hình như sau khi chồng bị giết, bà chỉ cho phép được phỏng vấn một lần duy nhất này. Bà nói thẳng vào mặt mấy tên chính khách Mỹ đã âm mưu giết Tổng Thống Diệm và ông Nhu. Lập luận của bà vẫn sắc sảo, lời nói của bà vẫn đanh thép như thuở nào. Bà xứng đáng là một nữ lưu, cả thế giới phải nể phục. Sự khinh bỉ bọn chính trị ma đầu vẫn nằm trong ánh mắt và lời nói của bà. Tiếc thay, vận trời không đi theo ý muốn để giờ này VN vẫn lụn bại, vẫn đau khổ vì áp bức, bất công”. 
            4. TTLan Paris, viết ngày 26-4-2011: 
            “Sáng Chủ Nhật Lễ Phục Sinh, bà Ngô Đình Nhu đã lìa đời. Bà Maria Trần Lệ Xuân, một tín đồ công giáo, ra đi ngày lễ này thì quả là được ơn phúc Phục Sinh, cầu nguyện cho hương hồn bà về nước Chúa an nghỉ. Tôi, hậu sinh và con cái của ‘chế độ cũ’ thì có thể nói là thiên vị. Thôi cũng chịu. Với tôi, bà Nhu là một Đệ Nhất Phu Nhân sáng giá nhất từ trước tới nay, một phụ nữ Việt tiêu biểu 3 miền (gốc gác bên Cha người Nam, bên mẹ người Huế, sinh ra và ăn học tại Hà nội), bà lại là một người thông minh, hoạt bát, đầy nhiệt huyết, lý chí để chỉnh đốn xã hội miền Nam bấy giờ. Nhưng sự cấp tiến của bà không thức thời nên bị hiểu nhầm bởi nhiều người và bà cũng bị nhiều người lạm dụng. Chỉ nên nhớ đến bà như một người đã trải qua một cuộc đời quá sôi nổi, gian truân, mà bà vẫn giữ được tư cách, phẩm giá của bà và gia đình bà. Xin một phút hoài niệm đến linh hồn người đã ra đi…”
*   *   *
Trong bài viết nầy, tôi xin phép không đề cập đến đời sống tình cảm riêng tư của bà Trần Lệ Xuân, vì tôi không có những tài liệu xác thật. Tôi không thể dựa vào tin đồn ác ý hoặc  mang tính cách lăng mạ vì ganh tị địa vị hoặc nhằm mục đích chính trị mà trình bày một cách hàm hồ. Trong thị trường sách báo trong nước, hiện nay có vài quyển tiểu thuyết viết về bà Trần Lệ Xuân. Các tác giả dựa vào các tin đồn và thêm thắt quá nhiều hư cấu, nhất là những chuyện bên trong bức màn the của bà Trần Lệ Xuân, rồi kết luận rằng bà Nhu là một phụ nữ đa tình, lãng mạn và không chính chuyên, đôi khi dùng cả cái ngàn vàng của người phụ nữ trong mưu cầu chính trị để củng cố chế độ nhà Ngô. Ngay cả sau khi nghe tin bà Nhu qua đời, nhiều tờ báo trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam viết những bài mang tính cách vạch lá tìm sâu, hài tội hơn là khách quan nhận xét, hoặc ngõ lời phân ưu hoặc tỏ chút tình cảm “Nghĩa tử nghĩa tận” đối với một người phụ nữ đáng thương hơn đáng trách.Viết về nhân vật lịch sử, phải viết bằng tâm tình trong sáng và khách quan, không ẩn tàng màu sắc chính trị, mới mong tránh được việc nhận xét sai lầm đáng tiếc. Thật không có gì nhục nhã cho bằng những kẻ uốn cong ngòi bút, cố tình bóp méo sự thật, với giọng điệu tuyên truyền cố hữu nhằm hạ thấp giá trị của một người đã vĩnh viễn ra đi.
Tôi căn cứ vào phim ảnh và tài liệu báo chí viết về bà Ngô Đình Nhu trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà miền Nam Việt Nam, cùng những ngày tháng lưu vong của Bà tại Pháp và Ý Đại Lợi, mà viết bài viết nầy.
Tôi nhận thấy bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ Việt Nam tuyệt vời, có một không hai thời Đệ Nhất Cộng Hoà, dám dấn thân hoạt động chính trị, phục vụ cho quê hương và dân tộc.
            Bà là một phụ nữ khôn ngoan, một mẫu người tính tình cương trực, lịch lãm, dám nói dám làm, rất nhạy bén với thời cuộc, hiểu nhiều âm mưu thâm độc của Cộng Sản và quyết tâm bảo vệ nền Đệ Nhất Cộng Hoà với kỳ vọng phục vụ nhân dân miền Nam sống trong tự do no ấm. Khi chồng bà, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị nền Đệ Nhất Cộng Hoà bị sát hại, Bà mới 39 tuổi, nhan sắc còn mặn mà, nhưng bà quyết ở vậy, sống tằn tiện, nuôi các con của bà ăn học thành tài, có địa vị xã hội cao ở Ý Đại Lợi và Bỉ Quốc.
            Trong những ngày tháng lưu vong, Bà ý thức “thời của bà đã qua”, Bà luôn an phận một goá phụ, cắt đứt mọi liên lạc với những người hoạt động chính trị và giới hạn tối đa việc tiếp xúc với báo chí nên Bà không bị một điều tiếng gì trong lãnh vực tình cảm cũng như trong lãnh vực chính trị.
            Bà không cần cải chính những tin đồn về việc Bà mang tiền (17 tỷ đô la) của chế độ ra ngoại quốc hoặc những lời bịa đặt bêu xấu Bà ….Bà giữ im lặng và sống khiêm nhường cho đến lúc Bà qua đời. Thái độ và cuộc sống của Bà đã chứng minh đâu là sự thật.
            Bà đã quyết không trở về Việt Nam, mặc dù Nhà Nước Cộng Sản có lần đánh tiếng “Nếu Bà muồn về thì cứ về thôi”, nhưng Bà tuyệt nhiên không về để đau lòng chứng kiến quê hương Việt Nam bị nhuộm đỏ và cảnh dân chúng cơ cực lầm than…..Thái độ của Bà hơn hẳn nhiều người, trong số có ông tướng Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam với cầu mong danh vọng hảo huyền để phải mang điều nhục nhã, hoặc một số người khác cam tâm bán linh hồn cho quỷ đỏ….đã bị hầu hết người Việt yêu chuộng Tự Do trong và ngoài nước chê cười, khinh bỉ.
            Tôi rất ngưỡng mộ bà Nhu dùng hai chữ “Nướng Sư” trong trường hợp Thượng Toạ Thích Quảng Đức bị “bức tử” qua dàn dựng “tự thiêu”. Từ ngữ “nướng sư” rất xác nghĩa nhưng nhiều người đã không chịu hiểu như vậy mà ngược lại còn cố tình xuyên tạc, cho rằng bà Nhu “hổn láo”, “xấc xược” đối với một vị chân tu. Thật đáng tiếc cho những người kém hiểu biết về Cộng Sản mà cứ vỗ ngực xưng tên….
            Bà Ngô Đình Nhu bị các đảng phái đối lập và thành phần hoạt động Cộng Sản ngấm ngầm giựt dây, chỉ trích là không tế nhị trong khi phát biểu trước công chúng, khiến cho nhiều người phật ý, gây bất lợi trong môi trường chính trị và ngoại giao. Đó chắng qua là bản tánh bộc trực của bà Nhu; nếu bà Nhu thận trọng hơn, khéo léo hơn về điểm nầy, thì chắc chắn giá trị cá nhân của Bà sẽ được nâng cao và được nhiều người mến mộ hơn nữa.
            Nói chung, ở đời ai cũng có khuyết điểm, nhân vô thập toàn, nhưng nếu đem khuyết điểm vừa kể so với tinh thần phục vụ, cùng những việc làm thiết thực của bà Nhu dành cho xã hội miền Nam thời Đệ Nhất Cộng Hoà, thì bà Ngô Đình Nhu quả một người phụ nữ đáng được nhân dân Việt Nam tuyên dương hơn là chê trách. Bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ đoan trang, tiết hạnh, giàu cương nghị. Bà chấp nhận cảnh goá bụa trong cuộc sống tha hương, tằn tiện nuôi các con của bà ăn học thành tài; ngoài ra, bà còn có lòng vị tha, xoá bỏ tất cả hận thù đối với những người tham gia đảo chánh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm là anh chồng của bà và chồng bà, ông Ngô Đình Nhu. Bà tin tưởng mọi việc xảy ra trong cuộc đời đều do bàn tay của Thiên Chúa sắp đặt, nên Bà luôn thanh thản từng phút giây trong cuộc sống. Việc làm của bà Nhu đã khiến tôi vô cùng cảm phục.
Bài viết nầy coi như là nén hương lòng thắp muộn của một người dân xứ Bưởi kính dâng bà Ngô Đình Nhu, nhủ danh Trần Lệ Xuân, cháu cố của ông Trần Văn Tứ, cháu nội của ông Trần Văn Thông, ….nguyên quán tỉnh Biên Hoà.
Nguyễn Kim Lộc
Nguồn: Ts Hong Linh <honamtran5@yahoo.fr> posted on VN-Online
Date: 2012/1/24

Chính đề Việt Nam

08 Sunday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

chính đề, Việt Nam

Click to access chinhdevietnam.pdf

Tháng Tư Đen và Ngày Quốc Hận 30-4

08 Sunday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị

≈ Leave a comment

Tags

quốc hận, tháng tư đen

Book: “A reporter’s love for a wounded people”

 

THÁNG TƯ ĐEN và NGÀY QUỐC HẬN 30-4

ĐOAN KẾT cuả một quyễn sách nói về Việt Nam, tác giả  Uwe Siemon-Netto là một phóng viên người Đức, đã sống tại  Nam VN  5 năm trong thời  chiến tranh trước 1975. Thật hay và thật cảm động, kính mời đọc để biêt.

Có thể nhiều vị đã đọc rồi, nhưng đọc lại cũng thấy hay vậy.

Tôi xin trích một câu của tác giả trong Đoạn Kết:

” . . . .Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. . . .” 

 

             MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM

Đoạn kết  : Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã viết xong và đang chờ 1 số người viết “foreword” và endorsements.

Bản dịch đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn, cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa, ……..

Đoạn kết
Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.
Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?
Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.”
Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.” Thực tế không phải như vậy.

Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa.

Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.
Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương.

Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng.

Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này.

Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất.

Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả.

Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:

Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”
Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội.

Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

Nguồn: lienthicao@yahoo.com gửi cho ds16group ngày May 4, 2015

← Older posts
Newer posts →

Categories

  • Ẩm Thực
  • Chính Trị
  • Gia Đình
  • Giáo Dục
  • Giáo Huấn GHCG
  • Giải Trí
  • Hôn Nhân
  • HBT/TNTTW
  • Hiểu và Sống Tin Mừng
  • Kỹ Thuật
  • Lộc Vũ
  • Linh Tinh
  • Nhạc
  • PT Cursillo-BTU
  • QGHC
  • Sống Khỏe
  • Suy Niệm
  • Tâm Linh
  • Tôn Giáo
  • Thần Học
  • Thơ
  • Tranh Ảnh
  • Triết Lý
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • Uncategorized
  • Văn Hóa
  • Điều Cần Biết
  • ĐS16

Blog at WordPress.com.

  • Subscribe Subscribed
    • locnvu.blog
    • Already have a WordPress.com account? Log in now.
    • locnvu.blog
    • Subscribe Subscribed
    • Sign up
    • Log in
    • Report this content
    • View site in Reader
    • Manage subscriptions
    • Collapse this bar