• About
  • Tâm Linh
    • Suy Niệm
    • Hiểu và Sống Tin Mừng
    • Giáo Huấn GHCG
    • Thần Học
  • Hôn Nhân & Gia Đình
    • Hôn Nhân
    • Gia Đình
  • Sống Khỏe
  • Giải Trí
  • Thơ
  • Nhạc
  • Tranh Ảnh
  • Điều Cần Biết
  • Xã Hội
    • Tôn Giáo
    • Chính Trị
    • Văn Hóa
    • Giáo Dục
    • Kinh Tế
    • Kỹ Thuật
    • Triết Lý
    • Ẩm Thực
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • ĐS16
  • QGHC
  • HBT/TNTTW
  • Linh Tinh

locnvu.blog

~ This site is belonged to Loc Vu

locnvu.blog

Category Archives: Lộc Vũ

Đừng Sợ Chính Trị

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chính trị

Đừng Sợ Chính Trị

* Hồng Ân

Hiểm họa mất nước:

Trong vài tháng gần đây, dư luận trong và ngòai nước bàn tán xôn xao trên báo chí và các phương tiện truyền thông về hiểm họa mất nước do thái độ ngang ngược và bá quyền của Trung Cộng ngang nhiên công bố chủ quyền trên các đảo Hòang Sa và Hòang Sa của Việt Nam vì cho rằng 2 quần đảo này nằm trong vùng Lưỡi Bò mà Trung cộng đã tự ý khoanh vùng trên Biển Đông. Trung Cộng còn cấm các ngư phủ Việt Nam không được đánh cá gần các đảo này và lên tiếng đe dọa các nước ký hợp đồng với Việt Nam khai khác dầu khí ở vùng hải đảo này. Trên đất liền, chính quyền Cộng Sản Việt Nam để cho Trung cộng đang khai thác mỏ bô-xít ở Tây Nguyên và đưa 1.300.000 nhân công qua làm việc tại Việt Nam và xây dựng cả một thành phố Tầu ở tỉnh Bình Dương nữa. Trước hiểm họa mất nước này, dân chúng trong nước đã nhiều lần xuống đường biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng dù bị cảnh sát đàn áp và bắt bớ. Còn dân Việt tỵ nạn ở hải ngọai đã phản ứng ra sao? Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đông đảo Việt kiều cũng đã xuống đường biểu tình chống Trung Cộng và lên án nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam nhu nhược, bán nước cầu vinh.

Trong buổi sinh họat Đại Ultreya vào Chúa Nhật 16 tháng 10 năm 2011 vừa qua tại Trung Tâm Công Giáo, cha Nguyễn Thái, Phụ Tá Linh Hướng của Phong Trào Cursillo, trong phần đúc kết và trong bài giảng đã kêu gọi các anh chị cursillista hãy cầu chuyện cách riêng cho đất nước Việt Nam trước hiễm họa mất nước do mưu đồ xâm lược của Trung cộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa. Trong hai lá thư mục vụ đặng trên tờ Hiệp Thông ngày 2 và 9 tháng 10 năm nay, Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange, cũng nhắc nhở mọi giáo dân trong tháng Mân Côi này hãy cầu nguyện xin Đức Mẹ Mân Côi ban hòa bình và tòan vẹn lãnh thổ cho Nước Việt Nam trước ý đồ của Trung Cộng đang hăm he xâm chiếm lãnh thổ và các hải đảo của Việt Nam.

Hai vị lãnh đạo tinh thần đã gíong lên tiếng chuông báo động về hiểm họa mất nước và khẩn thiết kêu gọi các giáo dân cầu nguyện cho quê hương dân tộc. Trước đó một tháng, ngày 14 tháng 9, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Nam Cali cũng đã tổ chức một đêm thắp nến cầu nguyện cho quê hương tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster nhân ngày kỷ niệm 43 năm thủ tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng đã ký công hàm nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên đảo Hòang Sa và Trường Sa. Theo Ban Tổ Chức, số đồng bào tham dự đã lên tới ngót 5 ngàn người dù tổ chức vào ngày thứ tư trong tuần. Trên đường đi làm về, tôi cũng ghé tham dự đêm  cầu nguyện này, và nhận thấy các hội đòan cả đạo lẫn đời tham dự đều mang theo biểu ngữ đề tên đòan thể mình. Tôi đi vòng quanh tượng đài để quan sát và thấy phía Công Giáo chỉ có một biểu ngữ mang tên Cộng Đòan Huntington Beach mà thôi. Tôi cũng gặp một số các bạn bè quen biết trong các đòan thể công giáo và họ thắc mắc tại sao Công Giáo có 14 cộng đòan mà sao chỉ có một cộng đòan tham dự dù người được ủy thác làm Trưởng Ban Tổ Chức là ông Nguyễn Văn Liêm, Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange. Tôi nghĩ thầm cũng may là có cha Nguyễn Thái, Linh Hướng và Điều Hành Trung Tâm Công Giáo, đã đến tham dự và được mời lên phát biểu và dâng lời cầu nguyện cho quê hương dân tộc bên cạnh các vị lãnh đạo của các tôn giáo bạn.

Ngừơi Công Giáo thờ ơ với chính trị?

Người giáo dân Công Giáo Việt Nam ở đây thường bị mang tiếng là chỉ siêng năng đi lễ và cầu nguyện thôi. Ngòai ra, họ thừơng thờ ơ với các sinh họat chính trị dù có liên quan tới đấu tranh cho tự do tôn gíao và nhân quyền của đồng bào và đồng đạo ở quê nhà.

Đó là những người có thái độ tiêu cực về chính trị. Họ viện cớ rằng kẻ làm chính trị thường dùng các thủ đọan bất chính để nắm quyền bính với bất cứ giá nào với chủ trương “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” theo kiểu Macchiavelli, không quan tâm gì tới công ích và phúc lợi của dân chúng.

Thực ra, theo nguyên ngữ từ chữ “Polis” của Hy Lạp, chính trị là những phương thức tổ chức và điều hành quốc gia sao cho hữu hiệu nhằm mưu ích cho mỗi cá nhân và đồng thời mang lại ích lợi chung cho cuộc sống cộng đồng. Theo như ý nghĩa nguyên thủy cao đẹp này của chính trị,  mỗi công dân đều có bổn phận phải tham gia vào sinh họat chính trị để đi bầu các vị đại biểu nói lên tiếng nói của dân chúng, ứng cử vào các chức vụ dân cử, hoặc tham gia vào các tổ chức, đảng phái chính trị hoặc ra tranh cử vào các chức vụ điều hành quốc gia từ cấp địa phương đến cấp trung ương, ngõ hầu có cơ hội dùng tài năng và đức độ của mình để mưu ích lợi cho dân chúng. Một học giả người Ý, giáo sư Giovanni Sartori, đã cảnh cáo các người có thái độ thờ ơ và lãnh đạp với chính trị như sau:

– ” Giả sử anh có tư tưởng chính trị đúng đắn, chính đáng và có khả năng đem lại lợi ích cho dân tộc, hoặc có khả năng có thể đảm nhận những vai trò quản trị Đất Nước, nhưng vì ‘ an phận thủ thường, mặc kệ ‘, có thể kẻ khác có suy nghĩ lệch lạc, vô tài thất đức vì danh vọng, lợi nhuận ‘ nhào ra’” hoạt động chính trị, các hậu quả tai hại đổ nát sẽ đổ xuống trên đầu đồng bào, thân nhân của anh và cả trên đầu anh. Ráng chịu ! ” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III Zanichelli Bologna 1996, 133) (1)

Giáo Hội Công Giáo có ngăn cấm giáo dân sinh họat hoặc tham gia vào các họat động chính trị không?

Theo các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, cũng như những Thông Điệp sau đây của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không cấm đóan mà còn khuyến khích giáo dân tham gia sinh họat chính trị với lương tâm trách nhiệm của một công dân đối với quốc gia của mình.

Sau đây là một số trích đọan từ các văn kiện trên:

– “Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích…”.

– “ Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…”. 

 

– “ Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những nười khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn”.         

Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về đức bác ái chính trị:

– “ Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người” . 

 

Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân dấn thân vào chính trị:

– “ …việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác…”.

Đức Cố Giáo Hòang Gioan Phaolô II nói về tôn giáo và chính  trị:

Năm 1991, sau khi thể chế Cộng Sản ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết sụp đổ do sự vận động và can thiệp tích cực của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II với  Tổng Thống Nga Sô, Michael  Gorbaciov, và Tổng Thống Mỹ Reagan và bà Thủ Tuớng Thatcher của Anh Quốc, Ezio Mauro và Paolo Mieli, hai đặc phái viên của tờ La Stampa, một trong những tờ báo lớn nhứt ở Ý xin phép được phỏng vấn Đức Giáo Hoàng gioan Phaolô II: (2)

– “Kính thưa Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha làm chính trị, Đức Thánh Cha nghĩ sao?”.

   – ” Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là nhân quyền, sự tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Đức Giáo Hoàng có làm chính trị. Nhưng Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người” ( Ezio Mauro e Paolo Mieli, ” Giovanni Paolo II “, La Stampa 04.03.91, p.2).

Ý thức về sứ mạng của mình trong cuộc sống trần thế của  con người, Giáo Hội cũng cần can thiệp  vào các lãnh vực trần thế:

– ” Giáo Hội có quyền và bổn phận không những bảo vệ các nguyên tắc liên quan đến lãnh vực luân lý và tôn giáo, mà còn phải can thiệp vào các lãnh vực trần thế, mỗi khi cần phán đoán việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thiết thực” ( ĐGH Gioan XXIII, Mater et Magistra, 239).

Qua các dẫn chứng nêu trên về lập trường của Giáo Hội đối với chính trị, tôi cảm thấy mạnh dạn dấn thân vào các sinh họat chính trị, nhất là các họat động chính trị mang lại hy vọng cho các đống bào và đồng đạo của tôi ở quê nhà đang mong chờ được tụ do thờ phượng và được sống xứng đáng với phẩm giá con người mà Thiên Chúa đã tạo dưng nên theo hình ảnh của Ngừơi. Tôi thiết nghĩ chính trị là môi trường sinh họat chung của các cursilista ngòai các môi trường riêng của từng người trong Ngày Thứ Tư.

Tham khảo:

(1): Nguyễn Học Tập, “Tham Vọng Chính Trị”, vn-online@googlegroups.com

(2): Nguyễn Học Tập, “Tôn Giáo và Chính Trị”, vn-nline@googlegroups.com

Đầy Tớ Vô Dụng

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

vô dụng, đầy tớ

Đầy Tớ Vô Dụng

  • Lộc Vũ

Trong buổi họp hàng tháng vào Chúa Nhật đầu tháng tại phòng tập hát cạnh văn phòng giáo xứ, Nhóm Nhỏ Kitô-hữu Inê Thành chúng tôi học hỏi và chia sẻ lời Chúa về bài phúc âm của thánh Luca 17:5-10 đăng trên tờ Hiệp Nhất hôm đó. Khi các tông đồ xin Chúa Giêsu ban thêm lòng tin cho họ, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp là có ban cho họ hay không, nhưng Ngài lại kể một câu chuyện về cách đối xử của ông chủ nhà đối với người đầy tớ vừa mới cầy bừa ngoài đồng trở về. Một là mời người đầy tớ vào bàn ăn, hai là bảo người ấy dọn bữa tối cho chủ ăn xong rồi mới được ăn. Rồi Ngài hỏi ngược lại các tông đồ rằng, “Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không?” Rồi Ngài tự trả lời là không, và khuyên các môn đệ rằng, “Khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.” (Lc 17:10).

Bài phúc âm này có vẻ khó hiểu vì các môn đệ xin một đàng thì Chúa Giêsu lại cho một nẻo. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực mà Chúa muốn dạy các môn đệ qua đoạn phúc âm này?

Để dẫn giải ý nghĩa của bài phúc âm này, Lm. Xuân Nguyên kể chuyện về một ngôi thánh đường mới khánh thành do tiền đóng góp của mọi giáo dân trong một cộng đoàn nọ, và ngài nhận định như sau:

“Điều làm cho ngôi nhà thờ vật chất có giá trị là do bởi lòng quảng đại dâng cúng đóng góp xuất phát từ sự hy sinh thật tình như của lễ chung góp vào lễ hy sinh thánh giá của con người. Lúc đó, mọi cá nhân sẽ hòa hợp nên một như của lễ duy nhất, và tự nhiên họ được hòa tan trong sự hiện diện của Chúa Kitô thập giá ở đó.  Chúa Kitô dạy chúng ta về sự hy sinh này: ‘Phần các con, khi làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.’ (Lc 17:10). Phải, bởi vì Chúa thích tấm lòng hy sinh chứ không phải của lễ” (trích Hiệp Thông số 83).

Qua lời giải thích trên đây của cha Xuân Nguyên, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ bài học hy sinh. Rồi cha ngưng lại ở đó mà không giải thích thêm. Còn đối với bản thân tôi là một người giáo dân bình thường, tôi nghĩ rằng Chúa muốn tôi phải có thái độ khiêm hạ khi làm công việc Chúa giao phó.  Khi làm bất cứ công việc gì mà Chúa muốn tôi phải làm, tôi làm công việc đó như một bổn phận. Dù không muốn làm, tôi  cũng phải hy sinh mà làm, không được phép từ chối hay thoái thác vì bất cứ lý do gì,  vì đó là bổn phận hay nghĩa vụ của một người tin theo Chúa. Và khi làm xong, tôi phải có lòng khiêm hạ mà nhìn nhận rằng mình chỉ là người đầy tớ vô dụng vì chỉ biết làm điều mình phải làm. Quả vậy, trong cuộc sống của một người Kitô-hữu, tôi phải giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời, 6 điều răn của Hội Thánh, 14 mối thương người và cố gắng sống theo 8 mối phúc thật mà Chúa đã truyền dạy. Tôi chưa có một sáng kiến hay tự ý làm hơn những điều Chúa muốn nơi tôi cả. Vì thế dù tôi có thành công lớn lao trong công việc Chúa muốn tôi làm, tôi không thể tự hào về bổn phận phải làm; tôi càng không được phép kể công với Chúa hay với bất cứ ai; nhất là tôi không có quyền đòi hỏi Chúa phải cám ơn hoặc trả ơn cho tôi qua các lời tôi cầu xin nơi Chúa, vì Chúa đã trả lời rõ ràng là chủ nhà KHÔNG phải mang ơn người đầy tớ khi nó đã làm theo lệnh của chủ (x. Lc 17:9). Đến đây tôi tự nhủ rằng không biết có công việc nào Chúa muốn tôi làm mà lại thưởng công cho tôi không? Chẳng hạn như việc truyền giáo? Một giáo dân tầm thường như tôi không đi tu mà lại tự nguyện làm công việc rao giảng Tin Mừng của các cha và các sơ thì có được Chúa thưởng công cho chăng?

Vì Nhóm Nhỏ không có cha linh hướng và không biết hỏi ai, nên tôi tự mò mẫm tìm hiểu qua Thánh Kinh, các giáo huấn của Giáo Hôi và các sách báo công giáo. Cuối cùng tôi tìm thấy các giáo huấn về tông đồ giáo dân dưới đây.

Truyền Giáo: Tự Nguyện hay Nhiệm Vụ?

“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con” (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Giáo Hội vẫn tiếp tục thực thi cho đến thời đại ngày nay. Tôi là một chi thể của Giáo Hội nên tôi cũng phải chia sẻ sứ mệnh truyền giáo trong bậc sống của tôi.

Thánh Phaolô tông đồ đã tự thú rằng:  “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cor 9, 16-17).

Công Đồng Vaticanô II qua hiến chế Tín Lý Về Giáo HộI (GH) và sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (TĐGD) công bố từ năm 1965 đã nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dân là phải truyền bá Phúc Âm cho thế giới và làm chứng nhân cho Chúa Kitô (GH số 35 & 36), và canh tân các trật tự trần thế trong bậc sống của mình (TĐGD số 7).

Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: “Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại” (Sứ điệp Truyền giáo, số 2).

“Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài” (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).

Truyền Giáo: bằng rao giảng hay bằng chứng nhân?

Là một phần tử của Giáo Hôi với sứ mệnh được sai đi đem tin mừng Phúc Âm cho mọi người, mỗi người gíao dân bắt buộc phải làm việc tông đồ vì “việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô-giáo” (Jn 4:14). Nhiệm vụ đó không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Vì vậy, mỗi giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào công cuộc tông đồ và truyền giáo của giáo hội địa phương bằng việc tông đồ cá nhân hoặc tông đồ tập thể trong các đoàn thể, hiệp hội, phong trào giáo dân (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân của ĐGH Gioan Phaolô II, số 28).

Các vị chủ chăn trong Giáo Hội nhấn mạnh về vai trò chứng nhân cho Tin Mừng của người công giáo trong thế giới hôm nay như sau:

ĐGH Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ trong dịp mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2000 rằng: “Chỉ có những người tín hữu đang thực sự sống những gì mình tuyên giảng trên môi, mới được người khác đón nghe mà thôi” (Hiệp Thông 18-6-2000).

ĐGH Phaolô VI: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy nầy đã là những chứng nhân”.

Giám Mục Gerard Huyghe, cựu Giám mục giáo phận Arras, Pháp: “Giá trị của một Giáo Hội không dựa vào con số người nhập đạo, nhưng ở tại chứng tá Tin Mừng mà các cộng đoàn kết hợp nên Giáo Hội thực hiện” (trích trong cuốn Le Chrétien au seuil des temps nouveaux của Hồng Y Suenens, Ed. Fiat, 1997, tr. 51).

Gần đây nhất, tôi đọc được một quan niệm truyền giáo thực tiễn sau đây của Tập San Dấn Thân số mới nhất, đăng trên tuần báo điện tử Công giáo Maranatha số 24 ngày 23-10-2004:

             “Chúng tôi quan niệm truyền giáo không phải chỉ là đứng rao giảng giữa nhà thờ, xây cất, sửa sang những đền thờ lộng lẫy để Chúa có chỗ ngự, nhưng quan trọng hơn, là đi, là sống thật những điều rao giảng, mở rộng cửa nhà Chúa cho mọi người trong đạo cũng như ngoại đạo, là phá đổ những hàng rào ngăn cách, đi tìm những con chiên lạc mang về, là phục vụ không phải được phục vụ… Hơn ai hết, những môn đệ theo chân Chúa phải là những người sống thật, sống đúng tinh thần khó nghèo, phục vụ, yêu thương của Đức Kitô khi Người còn ở dương thế. Chúng tôi cũng quan niệm theo đạo, giữ đạo, chuẩn bị cho cuộc sống đời sau không phải chỉ là đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, xin lễ, quà tặng hậu hỉ cho chủ chiên, rộng rãi góp tiền xây cất thánh đường nguy nga là đủ…, nhưng quan trọng hơn, làm muối mặn men nồng, mang tình yêu thương đến những người bất hạnh, kém may mắn hơn mình; sống đức tin không phải chỉ mến Chúa mà còn phải yêu người vì như Chúa dạy “Ai cho người đói ăn, người khát uống, người rách mặc… là đã làm cho chính Thầy đó.” Đạo Chúa không phải để “giữ” mà để “truyền”. Tin Mừng không phải để giấu kín, dành riêng cho bổn đạo mà phải được mọi thành phần dân Chúa làm loa phát đi, không rao phát bằng lời nói mà rao phát bằng đời sống, bằng hành động dấn thân phục vụ tha nhân”.

 Tin Đạo, Giữ Đạo và Sống Đạo

Qua các tài liệu trên tôi hiểu ra rằng tôi có bổn phận làm tông đồ giáo dân để rao giảng những điều mình tin và sống những điều mình giảng. Tôi phải sống đạo chứ không chỉ giữ đạo. Mà sống đạo tức là phải thể hiện đức tin của mình qua lối sống công bình vị tha bác ái, biết cho đi hơn là nhận lãnh, và phải làm chứng cho Tin Mừng bằng hành động hơn là chỉ rao giảng xuông. Nhất là không được tự hào về những thành quả đạt được vì như thánh Phaolô đã từng nói, không phải tôi cải hóa người khác mà chính là nhờ quyền năng của Lời Chúa. Tôi cũng không được đòi hỏi Chúa phải trả công cho tôi; không được phàn nàn vì công tác tông đồ quá vất vả mà còn bị người khác hiểu lầm, ganh ghét hoặc chê bai này nọ.

Hiểu như vậy, tôi cảm thấy hổ thẹn về đức tin nông cạn của mình vì biết bao lần tôi đã tự hào rằng tôi tham gia vào nhiều đoàn thể công giáo tiến hành hơn các người khác; rằng Nhóm Nhỏ Kitô-hữu của tôi là nhóm duy nhất còn sinh hoạt trong khi các nhóm khác đã tan hàng sau Năm Thánh 2000; rằng tôi đọc nhiều sách và hiểu lẽ đạo thâm sâu hơn nhiều người khác; rằng một hội đoàn mà tôi đang tham gia tích cực nhất là hội đoàn hăng say nhất cộng đoàn, đóng góp nhiều nhất cho cộng đoàn và làm việc có phương pháp nhất cộng đoàn. Còn nhiều tự hào khác tôi vấp phải mà không đủ chỗ để kể ra cho hết.

Sau khi đã tìm hiểu, học hỏi và suy gẫm, tôi chợt hiểu ra ý Chúa khi các môn đệ xin ban thêm đức tin thì Chúa lại khuyên họ phải có thái độ khiêm hạ của một người đầy tớ vô dụng khi làm xong công việc chủ giao phó. Chính thái độ khiêm hạ xuất phát từ nhận thức được thân phận “đầy tớ vô dụng” của họ đã thể hiện đức tin đích thực của một người tin theo Chúa. Vì một khi đã nhận biết mình là “tôi đòi” của Chúa thì không có lý do gì để tự hào cả; còn việc có được khen thưởng hay không là do lòng khoan dung và nhân hậu của Chúa.

Lạy Chúa xin ban thêm đức tin cho con để con luôn luôn nhận thức được rằng con là “đầy tớ vô duyên bất tài, nhưng con luôn luôn trung tín chân thành” như lời của cha cố Phêrô Vũ Đình Trác đã ghi trong bản nhạc “Tình Chúa Yêu Tôi”. Và xin Chúa cũng ban thêm đức tin cho cả những anh chị em đang làm công tác tông đồ với con trong cộng đoàn của con nữa. Amen.

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

cuộc đời, thánh lễ

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời (The Mass in your Life)

  • Hồng Ân

  Thánh Lễ và Đời Sống

Thánh Lễ là trung tâm thờ phượng của đạo Công Giáo vì trong thánh lễ, chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng Mình Máu Chúa Kitô, bằng sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau trong cộng đồng dân Chúa. Hơn nữa, phép Thánh Thể trong thánh lễ bao gồm trọn vẹn kho tàng của Giáo Hội tức là chính Chúa Kitô, Bánh Vượt Qua và hằng sống của chúng ta (Euch. Myst., #6). Vì thế, Giáo Hội đòi buộc chúng ta phải đi tham dự thánh lễ ít nhất một lần mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật, và phải xưng tội rước lễ ít ra một lần trong Mùa Phục Sinh.

Thánh Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả Thánh Lễ trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, điều 47 như sau: “Vào Bữa Tiệc Ly, trong đêm bị nộp, Chúa Cứu Thế của chúng ta đã lập Phép Thánh Thể để vĩnh cửu hóa hy tế trên thập giá qua nhiều thế kỷ cho tới khi Người lại đến. Bằng phương thế này, Người muốn lưu truyền cho Hiền Thê yêu dấu của Người là Giáo Hội, việc tưởng niệm về cuộc tử nạn và phục sinh của Người: đó là một bí tích của tình yêu, một dấu chỉ hiệp nhất, một sợi giây ràng buộc bác ái, một bữa tiệc vượt qua  ‘trong đó chúng ta rước lấy chính Chúa Kitô, hầu tâm hồn được tràn đầy ân phúc, và được bảo chứng cho vinh quang mai sau'”.

Vì những lợi ích thiêng liêng của thánh lễ, nên người Công Giáo chúng ta đi lễ hàng ngày hoặc ít nhất cũng đi lễ Chúa Nhật hàng tuần, để rước Mình Máu Chúa Kitô vào lòng rồi lãnh phép lành bình an cuối lễ và trở về với cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Vấn đề được đặt ra là để được hưởng ân phúc do thánh lễ đem lại, chúng ta phải thể hiện tinh thần thánh lễ trong cuộc sống hàng ngày bằng việc rao giảng Tin Mừng và thực thi bác ái đối với người khác. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, giống như những người khác, chúng ta cũng phải vật lộn với cuộc sống đầy bon chen, cạnh tranh ráo riết ở xã hội Mỹ này để nuôi gia đình, để có nhà có xe, có tiền đầu tư sinh lợi, có tiền đi giải trí, đi nghỉ hè hoặc phải dành dụm tiền để về hưu nữa. Bận rộn như vậy thì làm sao chúng ta có thì giờ để chia sẻ đức tin với người khác, và làm sao có đủ tiền bạc để giúp đỡ những người khác đang thiếu thốn hoặc gặp hoạn nạn. Nếu chúng ta chỉ đi dự thánh lễ, rước lễ rồi về tiếp tục cuộc sống thế tục mà thiếu tình bác ái đối với người khác thì liệu thánh lễ có ơn ích gì cho chúng ta không?

Để tìm giải đáp cho vấn đề này, chúng ta hãy thử tìm hiểu ý nghĩa của thánh lễ và đối chiếu thánh lễ trên bàn thờ với thánh lễ trong cuộc đời.

Thánh Lễ Trên Bàn Thờ

Thánh Lễ là một hy lễ tưởng niệm (memorial sacrifice), một hy lễ tạ ơn (thanksgiving sacrifice), và là hy lễ thánh vì thánh lễ hiện tại hóa một cách bí tich lễ hy tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô (sacramental actualization of Christ’s sacrifice) xưa trên đồi Golgotha một cách không đổ máu trên bàn thờ ngày nay để sinh ơn cứu độ cho cả nhân lọai (Hiến Chế về Giáo Hội, #28)(1).

Trong thánh lễ, khi cử hành phụng vụ Thánh Thể theo lệnh truyền của Chúa Kitô: ” Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, vị linh mục chủ tế lúc đó là hiện thân của Chúa Kitô, cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ ngợi khen Chúa Cha, rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn. Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy vào cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con cầm lấy mà uống. Nầy là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cữu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Website VietCatholic: Nghi Thức Thánh Lễ).

Trong phần cuối của thánh lễ trên bàn thờ, vị linh mục chủ tế ban phép lành cho chúng ta và chúc chúng ta ra về bình an. Khi trở về với cuộc sống hàng ngày, chúng ta phải mang theo sứ mệnh sống Lời Chúa nhắn nhủ trong bài Phúc Âm vừa nghe, và thực thi tinh thần Thánh Thể mà chúng ta vừa cử hành.

Trong thánh lễ, chúng ta hiệp dâng đời sống của chúng ta cùng với hy tế của Chúa Kitô lên Chúa Cha để xin ơn cứu độ. Nhưng của lễ chúng ta dâng chỉ đẹp lòng Thiên Chúa khi chúng ta sống theo thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày bằng cách chấp nhận những thử thách gian nan của đời sống Kitô-hữu, dấn thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi người, và thực thi bác ái để phục vụ tha nhân. Đó chính là thánh lễ trong cuộc đời của mỗi người Kitô-hữu chúng ta. (2).

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời

 Thánh lễ còn được gọi là Lễ Misa, do từ Latin “Missio” nghĩa là “Sai đi”. Thánh lễ kết thúc với lời Hội Thánh sai các tín hữu đi vào đời để họ thực thi thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày (x. GLCG, đ. 1332). Đó là thánh lễ trong cuộc đòi của mỗi tín hữu chúng ta.

 Cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ:

Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng mọi tín hữu vì là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô,  đều được tham dự vào cuộc sống của Chúa Kitô, nên họ đều mang trong mình lễ hiến tế của Người trong từng giây phút của cuộc đời “ngõ hầu sự sống của Người cũng được tỏ hiện nơi mình chúng tôi” (2Cor. 4:10). Vì thế cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ. Cũng như trong mỗi thánh lễ đều có phần công bố Lời Chúa, trong thánh lễ cuộc đời, Lời Chúa và Nhan Thánh Ngài cũng phải được công bố và biểu lộ ra qua mọi biến cố hàng ngày của người tín hữu. Trong mỗi thánh lễ đều có phần Truyền Phép để biến bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Kitô hầu làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, thì trong thánh lễ cuộc đời cũng phải có phần thánh hiến để biến bánh của mọi hoạt động và chén của những niềm vui nỗi buồn cùng mọi lao nhọc đau khổ để trở thành “thánh thể”, tức lời chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Đức Kitô. (3).

Cử hành thánh lễ trong đời sống hàng ngày

So chiếu với thánh lễ trên bàn thờ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng dâng lời ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa trong mọi công việc chúng ta làm; chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về mọi ơn lành chúng ta lãnh nhận; và chúng ta cũng phải “bẻ bánh” ra và trao cho những người khác bằng hành động chia sẻ đức tin và ân sủng Chúa ban cho người khác nữa.

Chúng ta chia sẻ ân sủng bằng việc thực thi bác ái đối với những người nghèo khó, phục vụ những người bệnh tật, họan nạn. Chúng ta chia sẻ đức tin bằng việc loan báo Tin Mừng cho người khác qua công tác tông đồ truyền giáo (4). Khi làm như vậy là chính chúng ta cũng đang cử hành thánh lễ trong cuộc đời để dâng lên Thiên Chúa mọi hành động và việc làm của chúng ta như của lễ tòan thiêu làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Thánh lễ trong cuộc đời là thể hiện tình huynh đệ để được ơn cứu độ

Phép Thánh Thể là nguyên lý hiệp nhất các Kitô-hữu thành nhiệm thể Chúa Kitô như Công Đồng Vaticanô đã qủa quyết: “Nhờ Bí Tích Thánh Thể, họ được tạo thành một thân thể liên kết chặt chẽ với nhau trong tình bác ái duy nhất của Chúa Kitô” (Sắc lệnh về Giám Mục, #15). Vì sự hiệp nhất trong tình bác ái duy nhất này, khi chúng ta tham dự vào Thánh Thể tức là chúng ta vừa tham dự vào đức bác ái, vừa phải thể hiện đức bác ái với tha nhân.

“Do đó, một cộng đồng cử hành Thánh Thể mà dửng dưng đối với những người khác, đặc biệt là các anh chị em trong cùng một cộng đồng, thì cuộc cử hành Thánh Thể chỉ là giả dối và vô nghĩa mà thôi. Nếu Mình Thánh Chúa được chứa đầy trong Nhà Tạm mà tâm hồn ta trống rỗng tình bác ái, điều đó có ích lợi gì cho ai. Khi ta đến rước Mình Thánh Chúa nơi cùng một bàn thờ, tham dự vào cùng một tấm bánh trong khi thiếu tình bác ái đối với nhau, không quan tâm gì đến nhau, thì quả ta đã làm cho Diện Mạo Chúa Kitô biến dạng đi và bôi nhọ Thánh Nhan Người. Thờ lạy và yêu mến Chúa hiện diện thực sự trong Nhà Tạm dễ hơn gấp bội thờ lạy và yêu mến Người hiện diện nơi tâm hồn tha nhân. Tóm lại, vì Phép Thánh Thể là ‘Bữa tiệc hiệp thông tình huynh đệ’ (Hiến Chế về Giáo Hội, #38), nên Bí Tích này luôn mời gọi và thôi thúc ta không những đi tới sự hiệp nhất trong tình bác ái huynh đệ, mà còn phải thể hiện tinh thần ấy nơi cuộc sống hàng ngày nữa.” (5).

Trong đời sống thường nhật đầy bon chen và thụ hưởng vật chất ngày nay, mỗi người chúng ta thường gặp những trạng huống đầy thử thách và cám dỗ, khiến chúng ta khó lòng thể hiện tình huynh đệ và thực thi bác ái với người khác, nhưng chúng ta phải kiên trì trong mọi thử thách và tuyệt đối trung thành với Chúa đến cùng thì mới được hưởng ơn cứu độ muôn đời. (6).

Thánh lễ trong cuộc đời tôi: Chứng từ của một giáo dân

Qua các phần trình bầy trên, người ta cảm thấy rằng cách hữu hiệu nhất để được ơn cứu độ là kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày của mình. Nhưng ngoài một số ít các vị thánh ra, người ta tự hỏi không biết có ai trong đại đa số các giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Chúa như thánh Phaolô tông đồ đã cảm nhận: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal. 2:20).

Để trả lời cho câu hỏi này, mời quý anh chị cursillista lắng nghe tâm tình dưới đây của một giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống ơn gọi gia đình. (7).

Ông là một giáo dân đã từng thao thức tự hỏi mình là làm sao cảm nhận được nên một với Chúa khi rước Mình Máu Chúa vào lòng mỗi khi tham dự thánh lễ? Ông đã từng siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch trước khi rước lễ, chầu Thánh Thể hằng giờ nữa. Nhưng ông vẩn không sao cảm nhận được nên một với Chúa. Ông suy nghĩ liên lỉ mà vẫn không tìm ra câu trả lời.

Cho đến khi ông tham dự buổi lễ kết thúc Năm Thánh Thể 2005 của giáo phận Worcester, nơi ông cư ngụ, ông vô tình đọc được một hàng chữ quen thuộc in trên tập sách nhỏ phát ra trong buổi lễ như sau: “Do this in memory of me” (Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy). Đột nhiên ông nghẹn ngào và bật khóc nức nở chỉ vì một hàng chữ quá đỗi quen thuộc mà ông coi thường không để ý đến. Tâm hồn ông xao động mạnh suốt ngày hôm ấy và niềm vui dâng trào không sao diễn đạt nổi. Ông cảm nhận rằng ông đã được gặp gỡ Chúa qua câu quen thuoäc này, và chính Chúa đã trả lời cho câu hỏi mà ông hằng thắc mắc lâu nay. Ông cảm tạ Chúa đã cho ông hiểu được ý nghĩa của lời Chúa mời gọi mọi người cử hành bí tích Thánh Thể qua câu nói đó, và ông cảm thấy có bổn phận phải mang Tin Mừng này cho tất cả mọi người dân Chúa.

Ông kể lại những điều Chúa nói với ông rằng: muốn nên một với Chúa qua mầu nhiệm Thánh Thể là phải làm và sống giống như Chúa: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” (Lc. 22:19). Câu này có nghĩa là phải cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong cuộc sống hàng ngày của mình, nghĩa là phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình mà chia sẻ cho tha nhân với lòng yêu thương chân thành như Chúa đã yêu ta đến nỗi chết vì ta vậy.

Chúa nói với ông rằng: “Để được nên một với Ta, con hãy làm giống như Ta với lòng yêu thương chân thành nhất mà chính Ta đã dạy và làm cho con từ cái chết đau thương trên Thánh Giá. Để được nên một với Ta, không chỉ là tham dự Thánh Lễ mỗi ngày, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch rước mình máu Ta vào trong lòng con hay chầu Thánh Thể hằng giờ là đủ đâu, mà chính là con phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình ra mà chia sẻ cho tha nhân. Mà đã yêu thì phải yêu cho đến chết.”

…

Ông chia sẻ tiếp: “Nếu chúng ta cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong đời sống hằng ngày như thế, Chúa sẽ hiện diện và đồng hành với mình cũng như khi rước Mình Máu Chúa vào trong lòng mỗi khi đến tham dự Thánh Lễ, chúng ta sẽ cảm nhận được nên một với Chúa qua Bí Tích Cực Thánh này, và nếu mọi người Kitô cùng làm như thế là chúng ta đang hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất với chính Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh trong một tình yêu duy nhất…”

Vì đã cảm nghiệm được ý nghĩa linh thiêng của việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày, ông ước mong rằng tất cả mọi người dân Chúa gồm mọi giáo dân và kể cả các linh mục “nên cử hành Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày để cùng được nên một với Chúa Kitô trong một tình yêu vĩnh cửu và đó cũng là con đường dẫn chúng ta về quê trời, có như vậy tất cả chúng ta mới có thể nếm được Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày với Chúa và với nhau.”

Cuối cùng ông đề nghị các việc cần làm để cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày.

“Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ chén cơm manh áo hằng ngày trên bàn ăn trong gia đình của tôi cho người anh chị em kém phần may mắn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ sức lực mà Thiên Chúa ban cho tôi, vì họ là vợ, là chồng, là con cái và là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ trí thông minh để góp phần xây dựng cho Giáo Hội và cho tha nhân nhằm vô điều kiện mà chính Thiên Chúa đã ban tặng, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết quan tâm đến cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng, con cái, biết xót thương những người gìa đơn chiếc, những người bệnh tật và những người khôn khồ trong xã hội hôm nay, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết khiêm nhường, biết tha thứ, biết nhận lỗi sửa sai và biết cảm thông đến những người xung quanh khi họ gặp khó khăn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết nhịn nhục, kiên nhẫn khi gặp phải gian nan khốn khó trong cuộc sống cũng như khi bị người đời xúc phạm đến mình, biết vui với người vui, biết khóc với kẻ khóc, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là cầu nguyện cho những người đã khuất, cầu nguyện cho Giáo Hội hiệp nhất nên một tình yêu mà Chúa hằng mơ ước, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết chu toàn bổn phận mỗi ngày, vì tất cả mọi sự dẫn đến cho tôi đều nằm trong chương trình của Chúa giúp tôi nên Thánh.”

Lạy Chúa,

Cảm tạ Chúa đã cho con hiểu được làm sao để được nên một với Chúa.

Xin cho con biết rộng lượng bẻ đôi tấm bánh đời mình mà không cần do dự.

Xin cho con biết cảm nhiệm được Chúa trong mọi sự khi Chúa cần đến con.

Xin cho con biết lắng nghe những gì Chúa đang mời gọi con trong cuộc đời.

Xin cho con biết thực hành những gì Chúa dạy bảo con qua lời của Chúa.

Xin cho con biết thương anh em như chính Chúa đã thương con.

Xin cho con biết yêu mến hai chữ phục vụ là quà tặng mà Chúa dành cho con.

Xin cho con biết cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày.

Vì đó là con đường dẫn con nên một với Chúa.  Amen.

Ghi chú:

  1. Sách Giáo Lý Công Giáo mới năm 1997, đđ. 1328-1341, 1360-1361, 1362-1372.
  2. Sách “Thánh Thể: Mầu Nhiệm Vượt Qua” của Lm. Dominic Nguyễn Phúc Thuần, SSS – nxb: Dân Chúa, Louisiana, 1993. tr. 141-144.
  3. Sđd. tr. 145-146.
  4. Tông Thư của Đức Cố Gíaùo Hoàng Gioan Phaolô II về Năm Thánh Thể 2004-2005: “Xin Thầy ở lại với chúng con”: đ.đ. 28, 24, 31.
  5. Sách “Thánh Thể: Mầu Nhiệm Vượt Qua” của Lm. Dominic Nguyễn Phúc Thuần, SSS – nxb: Dân Chúa, Louisiana, 1993. tr. 172-173.
  6. Sđd. tr. 143.
  7. Trích từ bài “Hãy Làm Việc Này Mà Nhớ Đến Ta” của Giuse Bùi Huy Minh, đăng trên tuần báo điện tử Công Giáo Maranatha, số 87, ngày 24-9-2006)

Thánh Lễ Là Thiên Đàng Nơi Hạ Giới

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

hạ giới, thánh lễ, thiên đàng

Thánh Lễ Là Thiên Đàng Nơi Hạ Giới

Tác giả: TTTH

Trong cuốn sách nổi tiếng “The Lamb’s Supper: the Mass As Heaven  On Earth” (Bữa Ăn Tối của Con Chiên: Thánh Lễ Như Thiên Đàng Nơi Hạ Giới), Tiến sĩ Scott Hahn, một mục sư Tin Lành trở lại Công Giáo, đã diễn tả cảm nghiệm của ông về thánh lễ misa như Thiên Đàng nơi hạ giới.

Thánh lễ Misa chính là Tiệc Cưới của Con Chiên trong sách Khải Huyeàn

Sau 20 năm nghiên cứu sách Khải Huyền (Revelation) để cố tìm ra ẩn ý mà thánh sử Gioan viết về mạc khải của ông khi được chiêm ngưỡng cảnh thiên đàng, tiến sĩ Scott Haln đã hòai công vô ích. Nhưng từ khi ông tham dự thánh lễ misa của đạo Công giáo vì tò mò muốn tìm hiểu nghi lễ phụng vụ này mà ông đọc thấy trong các tài liệu về Giáo Hội Tiên Khởi cũng như trong các sách của các gíao phụ truyền lại, ông liền nhận ra sự liên hệ sâu xa và mật thiết giữa các nghi thức phụng vụ trên thiên đàng với thánh lễ misa, nghi thức phụng vụ chính yếu của Giáo Hội Công Giáo. Sau hai tuần tham dự thánh lễ misa hàng ngày, ông từ từ nhận ra rằng thánh lễ misa chính là việc thờ phượng trên Thiên Đàng đã được thánh Gioan diễn tả trong sách Khải Huyền.

1Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên:
“Ha-lê-lui-a! Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ, Đấng vinh hiển uy quyền!
2Những lời Người phán quyết đều chân thật công minh!
Vì Người đã xét xử Con Điếm khét tiếng từng dùng chuyện gian dâm mà làm cho mặt đất ra hư hỏng, và Người đã bắt nó phải đền nợ máu các tôi tớ của NgườI mà chính tay nó đã giết.”
3Lần thứ hai họ lại hô: “Ha-lê-lui-a! Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp! “4Bấy giờ, hai mươi bốn vị Kỳ Mục và bốn Con Vật phủ phục xuống thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai, mà tung hô: “A-men! Ha-lê-lui-a! ” 5Rồi từ ngai có tiếng phát ra:
“Nào ca ngợi Thiên Chúa chúng ta, hỡi tất cả tôi trung của Chúa, hỡi những ai lớn nhỏ hằng kính sợ Người! ” 6Tôi lại nghe như có tiếng hô của đoàn người đông đảo, nghe như tiếng nước lũ, như tiếng sấm vang dữ dội:
“Ha-lê-lui-a! Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng đã lên ngôi hiển trị.
7Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ dâng Chúa lời tôn vinh,
8vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên,
và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,
nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền.”
9Thiên thần bảo tôi: “Hãy viết: Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên! ” Người lại bảo tôi: “Đó là những lời chân thật của chính Thiên Chúa.”10Tôi phủ phục xuống dưới chân người mà thờ lạy, nhưng người nói: “Đừng, đừng! Tôi cũng là một tôi tớ như ông và như các anh em của ông, những người giữ lời chứng của Đức Giê-su. Hãy thờ lạy Thiên Chúa.” Lời chứng của Đức Giê-su, là thần khí linh hứng cho ngôn sứ. (Kh 19:1-10)

Theo cảm nghiệm của ông, thánh lễ nơi hạ giới chính là việc diễn tả lại Tiệc Cưới của Con Chiên đã được mô tả trong sách Khải Huyền nêu trên. Khi chúng ta cử hành phụng vụ thánh lễ, Chúa Kitô hiện diện ở đó và huyền diệu thay, ngay giây phú đó, chúng ta được tham dự vào Bữa Ăn Tối Vĩnh Cửu của Con Chiên.

Thánh lễ Misa là Thiên Đàng nơi hạ giới

Khi nghiên cứu về nghi lễ phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, tác giả cũng còn khám phá ra rằng Giáo Hội Công Giáo từ lâu đã nhìn nhận thánh lễ chính là bữa tiệc cưới của Con Chiên, là thiên đàng nơi hạ giới này:

  • ĐGH Gioan Phaolô II: “Thánh lễ chính là một cung điện thiên đàng nơi trần thế, nghĩa là khi chúng ta cử hành nghi lễ phụng vụ, chúng ta được tham dự một cách huyền diệu nghi lễ phụng vụ trên thiên đàng”.
  • Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh: “Trong phụng vụ nơi trần thế này, chúng ta được nếm hương vị của phụng vụ trên thiên đàng được cử hành nơi thành thánh Giêrusalem, nơi đây chúng ta như những khách hành hương đang trên đường tiến về. Nơi đây Đấng Cứu Thế đang ngồi bên hữu Thiên Chúa, đấng Chủ Sự thánh điện và lều thánh đích thực. Cùng với tất cả các chiến binh của đòan binh thiên quốc, chúng ta hát bài ca vinh quang chúc tụng Thiên Chúa; trong khi kính nhớ các thánh, chúng ta hy vọng được thông phần và kết nghĩa với các ngài; chúng ta hăm hở chờ đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, chính là cuộc sống của chúng ta, cho tới ngày Ngài sẽ tái ngự đến và chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài “.
  • Sách Giáo Lý Công giáo, điều 1326: Nhờ cử hành bí tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hợp với phụng vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu ‘khi Thiên Chúa có tòan quyền trên mọi sự’ (1 Cor 15,28).
  • “Bí tích Thánh Thể được gọi là Bữa Ăn tối của Chúa (The Lord’s Supper) vì Hội Thánh tưởng niệm bữa Tiệc Ly Chúa cùng ăn với các môn đệ tối hôm trước ngày chịu nạn. Bữa ăn tối này cũng nói lên sự tiền dự vào Bũa Tiệc Cưới Con Chiên tại Giêrusalem trên trời” (GLCG, đ. 1329).

Tham dự thánh lễ là dâng đời sống của chúng ta cùng với hy tế của Chúa Kitô

Trọng tâm của thánh lễ là hình ảnh Con Chiên trở thành hy lễ. Con chiên chính là Chúa Kitô, Chiên Thiên Chúa đã tự hy tế để xóa tội trần gian. Trong thánh lễ, Chúa Kitô vừa là vị tư tế vừa là vật hiến tế:

“Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”

“Máu này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22:19-20).

Chúa Giêsu hiến tế chính mình để tiêu diệt tội lỗi (Dt 9:26) vì Ngài là một hy tế hòan hảo nhất, không tì vết để đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa tòan hảo, thánh thiện và nhân hậu. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa Giêsu, chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử hành thánh lễ.

Sau khi đối chiếu những hy tế của dân Do Thái trong Cựu Ước với hy tế của Chúa Giêsu trong Tân Ước, tác giả kết luận rằng những hy tế trong Cựu Ước mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa. Và giờ đây chúng ta cũng được dâng hiến cùng một lễ hy tế này với Chúa Giêsu trong thánh lễ (x. Kinh Nguyện Thánh Thể IV, III).

Cử hành thánh lễ Misa để được ơn cứu độ

Chúa Giêsu đã dâng hiến chính mình làm lễ hy tế đền tội thay cho chúng ta và cứu độ chúng ta. Nhưng để đáng được ơn cứu độ đó, chúng ta phải làm gì?

Theo ý tác giả, chúng ta phải làm ba việc sau đây:

  1. Chúng ta phải phụng thờ Thiên Chúa bằng việc cử hành thánh lễ: chúng ta cùng nhau ngợi khen, chúc tụng, đền tạ, tạ ơn Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta. Chúng ta nâng chén cứu độ và ca ngợi danh Ngài trong thánh lễ là cách thức chúng ta đền đáp Ngài xứng hợp nhất. “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa “(TV 116:13).
  1. Chúng ta phaûi ăn thịt Con Chiên tức là rước Mình Máu Chúa Kitô vào lòng để được sống sung mãn, vì “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6:53).
  1. Việc phụng thờ Thiên Chúa qua thánh lễ còn mang ý nghĩa quy hướng đời sống của chúng ta về Chúa để chúng ta được biến đổi từ bên trong, và chia sẻ ơn Chúa với người khác nữa.

Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa

Từ cảm nghiệm được ý nghĩa tuyệt vời rằng thánh lễ là thiên đàng nơi trần thế, tác giả mời gọi chúng ta tham dự thánh lễ với một nhận thức mới, cử hành thánh lễ với một trái tim mới, và cảm nghiệm thánh lễ một cách thâm sâu hơn, rung động hơn, tràn đầy hơn và thần diệu hơn. Tác gỉa còn hối thúc chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không đi vào cảm nghiệm này ngay đi, vì “Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa” (Heaven can’t wait).

Tài liệu tham khảo:

*  Sách: “The Lamb’s Supper: The Mass As Heaven On Earth” by Scott Haln, nxb: Double Day, New York, 1999.

*  Bài “Những Nhận Thức Mới Về Thánh Lễ” – đăng trên tuần báo điện tử Maranatha, do Hòang Quý viết theo tiến sĩ Scott Haln.

Tưởng Niệm 40 Năm Ngày Quốc Hận 30-4-1975

08 Sunday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị, Lộc Vũ

≈ Leave a comment

Tags

quốc hận, tưởng niệm

Tưởng Niệm 40 Năm Ngày Quốc Hận 30-4-1975 – Bài Học Lịch Sử

* Vũ Ngọc Lộc

* Đêm tưởng niệm 40 năm ngày Quốc Hận 30-4-1975

* Tại nhà Hòang Liên 2-5-2015

Bản chất của chiến tranh Việt Nam: chiến tranh tự vệ của VNCH chống lại sự xâm lược của CSBV.

Cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975 là cuộc chiến tự vệ của Miền Nam Tự Do với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, nước lãnh đạo thế giới tự do, chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) làm tay sai cho Nga Sô và Trung Cộng thực thi mưu đồ của Cộng Sản Đệ Tam quốc tế muốn nhuộm đỏ  Đông Nam Á Châu.

Các tài liệu sau đây vạch trần ÂM MƯU NHUỘM ĐỎ Á CHÂU CỦA ĐỆ TAM QUỐC TẾ mà CSBV chỉ là một công cụ tay sai trong cuộc chiến xâm lược Miền Nam tự do:

–Tháng 2/1951, ở Tuyên Quang, Đại Hội 2 của Đảng CSVN, để đưa Đảng CS ra hoạt động công khai trở lại với danh xưng mới là Đảng Lao Động VN, Hồ Chí Minh phát biểu :”VỀ LÝ LUẬN, ĐẢNG LAO ĐỘNG VN THEO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN…LẤY TƯ TƯỞNG MAO TRẠCH ĐÔNG LÀM KIM CHỈ NAM.”

–Sách “Sự Thật về quan hệ VN-TQ trong 30 năm qua” (Nhà Xuất Bản Sự Thật 14-10-1979) :

“Tháng 8-1965, tại cuộc họp BCT Ban Chấp hành TƯ Đảng CSTQ, Mao Trạch Đông tuyên bố: ‘CHÚNG TA PHẢI GIÀNH CHO ĐƯỢC ĐÔNG NAM Á, GỒM CẢ MIỀN NAM VN, THÁI LAN, MIẾN, MALAYSIA, SINGAPORE. MỘT VÙNG NHƯ ĐNA RẤT GIÀU, Ở ĐẤY CÓ NHIỀU KHOÁNG SẢN, XỨNG ĐÁNG VỚI SỰ TỐN KÉM CẦN THIẾT ĐỂ CHIẾM LẤY.”

–Theo tài liệu lưu trữ ở Thư viện TT Wilson Hoa Kỳ : “Trong cuộc họp với Mao, Lê Duẫn nói: ‘TẠI SAO CHÚNG TÔI GIỮ LẬP TRƯỜNG BỀN BĨ CHIẾN ĐẤU CHO 1 CUỘC CHIẾN KÉO DÀI, ĐẶC BIỆT TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN Ở MIỀN NAM? TẠI SAO CHÚNG TÔI DÁM TKKC ? CHỦ YẾU LÀ VÌ CHÚNG TÔI PHỤ THUỘC VÀO CÔNG VIỆC CỦA MAO CHỦ TỊCH. CHÚNG TÔI CÓ THỂ TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU, ĐÓ LÀ VÌ MAO CHỦ TỊCH ĐÃ NÓI RẰNG 700 TRIỆU NGƯỜI TQ ĐANG ỦNG HỘ NHÂN DÂN VIỆT NAM 1 CÁCH VỮNG CHẮC.”

Sau này, câu nói của Lê Duẩn : “TA ĐÁNH ĐÂY LÀ ĐÁNH CHO LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC” đã được khắc trên đền thờ của hắn ở Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh (1).

— Nhà báo Trần Quang Thành:

Trong “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.”, Trần Quang Thành, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng Nói và Truyền Hình cộng sản Việt Nam, đã công khai tố giác CSBV đã lừa dối và phản bội nhân dân trong cuộc chiến tranh Việt Nam:

“Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội» (2).

— Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:

Sau ngày 30-4-1975, ông có dịp vào thăm Miền Nam và đã nhận ra đời sống thật sự tự do và sung túc của nhân dân miền Nam ngược hẳn với sự tuyên truyền gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng Sản Miền Bắc, nên ông cảm thấy hổ thẹn với lương tâm và đã khóc trong phần kết luận của bài thơ “Cảm Tạ Miền Nam” như sau:

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.” (3)

— Hải Long, con của một người lính bên thắng cuộc, gửi cho BBC từ Hà Nội để xin lỗi những người lính ở phía bên kia nhân ngày 30-4-2015:

Nếu ai đó hỏi cha tôi 30/04 là ngày gì? Cha tôi sẽ trả lời, đó là ngày mà ông nhận ra mình đã bị lừa dối. Ông và các đồng đội của ông là “Thế hệ bị lừa dối”.Còn nếu ai đó hỏi ông muốn gọi 30/04 là ngày gì? Thì tôi xin phép được trả lời thay cho cha tôi, hãy gọi 30/04 là ngày phán xét.

Ngày phán xét những kẻ đã đẩy dân tộc vào cuộc chiến huyết nhục tương tàn.

Ngày phán xét những lãnh đạo miền Bắc thời điểm đó, những kẻ đã trực tiếp đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lên giàn hỏa thiêu, vì một thứ lý thuyết không tưởng, mơ hồ và thiếu thực tế.

Ngày phán xét cho những kẻ tự khoác lên mình chiếc áo nhà văn, nhà thơ, cổ động người ta lao vào chỗ chết, lao vào những cuộc chém giết với lòng căm thù không giới hạn.

Còn thống nhất ư? Hòa giải ư? Làm sao có thể thống nhất và hòa giải khi những kẻ thủ ác còn chưa bị trừng phạt? Lịch sử rồi sẽ phải ghi chép lại một cách công bằng và khách quan. Tội ác rồi sẽ bị trừng phạt, chỉ là sớm hay muộn!

Cuối cùng, tôi muốn thay mặt cha tôi gửi lời xin lỗi chân thành đến những người lính ở phía bên kia. Mong các bạn hiểu rằng, cha tôi và các đồng đội của ông và các bạn cũng đều chỉ là nạn nhân của cuộc chiến phi nhân này. Nói cho cùng thì tất cả chúng ta đều là những kẻ thua cuộc (4).

Tóm lại, qua những tài liệu trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong “thiên đường cộng sản văn minh nhất hành tinh” (5).

Nguyên nhân của chiến tranh Việt Nam:

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã được CSBV chuẩn bị ngay từ 1954 theo lệnh của Liên Xô và Trung Cộng trong bối cảnh chiến tranh lạnh giữa hai khối: Cộng Sản Quốc Tế và Thế Giới Tự Do.

Ngay sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Liên Xô chiếm luôn Đông Âu, còn Trung Cộng chiếm trọn lục địa Trung Hoa. Khối Cộng Sản theo đuổi cuộc chạy đua vũ khí với Hoa Kỳ, cùng lúc dựng lên các phong trào Dân Tộc Giải Phóng ở các nước Á Châu và Phi Châu, để bành trướng kiểm soát Thế Giới Thứ Ba. Trước sự bành trướng của Khối Cộng Sản Quốc Tế, Tây Phương và Thế Giới Tự Do bị đe dọa trầm trọng. Nên Hoa Kỳ là một siêu cường lãnh đạo Thế Giới Tự Do, phải ngăn chặn làn sóng đỏ của Khối Cộng Sản.

Theo lệnh của đàn anh Trung Cộng muốn bành trướng thế lực xuống vùng Đông Nam Á, Hồ Chí Minh rập khuôn theo mô thức bạo lực và gian trá của Trung Cộng trong cuộc chiến cướp chính quyền Miền Nam. Hồ sử dụng Chiến Thuật Khủng Bố, chiến dịch tiêu diệt các dự án kinh tế phục vụ cho nhu cầu người dân miền Nam, kết hợp với chiến tranh du kích, để trước tiên tiến vào Miền Nam Việt Nam. Rồi đưa thêm bộ đội, tướng tá chỉ huy, và phương tiện chiến tranh xâm nhập vào miền Nam qua đất Lào. Hồ gia tăng chiến tranh lên mức độ vận động chiến và trận địa chiến. Tại Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới thiết lập vỏn vẹn mười năm, phải đối đầu với một kẻ thù hung hiểm.

Tháng 12 năm 1960, Hồ cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấy danh nghĩa người Miền Nam đứng lên chống “liên minh ông Diệm và Đế Quốc Mỹ”. Chiêu bài Chiến Tranh Giải Phóng Miền Nam đã làm suy yếu nền chính trị của miền Nam, trong việc đối phó với cuộc tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế. Báo chí Tây phương thì khá ngây thơ trước những thủ thuật nhồi sọ và tẩy não của cộng sản. Vào những thời điểm năm 1965, Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) dồn dập tấn công đe dọa sự tồn tại của Miền Nam Việt Nam. Đó là thời điểm và là lý do khiến Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến.

Đối phó với cuộc xâm lăng của CSBV tại Việt Nam, trước tiên Hoa Kỳ phản ứng bằng “cuộc chiến chống nổi loạn”, dần dà leo thang thành sự can thiệp trọn vẹn vào năm 1965. Đấy là nguyên nhân của chiến tranh Việt Nam, do chính Hồ chí Minh, tay sai đắc lực của Stalin và Mao, gây ra cho Việt Nam.  6)

Diễn tiến của chiến tranh Việt Nam (7) :

– Cộng Sản miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh xâm lược miền Nam từ năm 1954 khi ký kết Hiệp Định Geneve, đã gài cán bộ ở lại miền Nam khi bộ đội CS miền Bắc rút về Bắc, chôn dấu vũ khí trước khi rút khỏi miền Nam, cho tổ chức những đám cưới tập thể cho bộ đội tập kết với các cô gái địa phương.

– Đầu năm 1959, đảng cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết 15 xác định rõ việc thâu tóm miền Nam bằng bạo lực cách mạng, tiến hành chiến tranh trong lòng dân tộc, quyết thực hiện nội chiến tương tàn.

– Có nghị quyết 15, những người cộng sản ở miền Bắc liền hối hả mở đường đưa súng đạn và lực lượng chiến đấu vào miền Nam. Tháng năm 1959, đường mòn từ miền Bắc xâm nhập miền Nam được mở dọc theo dãy Trường Sơn. Tháng bảy 1959, mở tiếp đường mòn trên biển, mở luồng mở bến cho những con tàu không số chở súng, đạn, thuốc nổ từ Đồ Sơn, Hải Phòng vào Vũng Rô, Phú Yên (Trung Bộ), vào Gành Hào, Cà Mau (Nam Bộ).

– Có nghị quyết 15, cán bộ cộng sản ở lại miền Nam nằm vùng liền tổ chức, tập hợp lực lượng. Những hầm súng đạn được khui lên. Cuối năm 1959, tiếng súng nội chiến bùng nổ ở Trà Bồng, Quảng Ngãi. Ngày 17. 1. 1960, tiếng súng nội chiến rộ lên ở huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày, Bến Tre. Từ đó tiếng súng nội chiến lan ra khắp miền Nam. Khắp miền Nam, nơi nào cũng có cán bộ cộng sản nằm vùng, nơi nào cũng mịt mù lửa khói nội chiến, lênh láng máu người Việt giết người Việt. Từ đó, ngày 17. 1. 1960 được những người Cộng Sản tự hào coi là ngày Đồng Khởi vẻ vang của họ. Còn lịch sử Việt Nam phải đau buồn ghi nhận ngày 17. 1. 1960 là ngày khởi đầu cuộc nội chiến Nam Bắc.
– Về mặt chính trị, Cộng Sản Việt Nam cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tháng 12 năm 1960 để rêu rao chính nghĩa lừa bịp thế giới là dân Miền Nam nổi dậy chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ xâm lược.
– Chiến tranh vũ trang thảm khốc và chiến tranh chính trị lừa dối do những người cộng sản phát động đã đẩy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào cuộc khủng hoảng nặng nề, triền miên về mọi mặt. Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, và trước nguy cơ cả Đông Nam Á bị tràn ngập trong sắt máu bạo lực cộng sản, năm 1965, sáu năm sau nghị quyết 15 của đảng CSVN sử dụng bạo lực thâu tóm miền Nam, gần sáu năm sau tiếng súng nội chiến bùng nổ ở miền Nam, Mỹ mới đưa quân vào miền Nam Việt Nam cứu đồng minh Việt Nam Cộng Hòa trước nguy cơ sụp đổ và củng cố một tiền đồn ngăn chặn cơn thác lũ cách mạng bạo lực cộng sản đang ở đỉnh cao trào.

– Năm 1965, quân đội Mỹ đổ vào Việt Nam cũng như năm 1944 quân đội Mỹ đổ bộ vào Châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như năm 1950 quân đội Mỹ đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên, đều không có mục đích xâm lược, không đánh chiếm lãnh thổ mà chỉ để làm trách nhiệm của một đồng minh và làm trách nhiệm của một nước lớn bảo đảm một thế giới ổn định, công bằng, bảo vệ những giá trị tự do, dân chủ của con người, ngăn chặn thảm họa phát xít thời thế chiến hai và ngăn chặn thảm họa cộng sản đang như bệnh dịch nhấn chìm thế giới vào hận thù đấu tranh giai cấp, vào bạo lực chuyên chính vô sản và nô dịch con người.

– Vào dịp Tết Mậu Thân, tháng 2 – 1968, Cộng Sản mở cuộc Tổng Công Kích ở trên 50 tỉnh và thành phố Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là ở SAIGON và HUẾ (HUẾ bị chiếm trong gần 1 tháng với số nạn nhân 8.000 người tìm thấy xác trong rất nhiều mồ chôn tập thể) trong khi có đến 80 % quân đội VNCH đi phép vì tin theo sự cam kết nghiêm trọng của Việt Cộng và Bắc Việt là ngưng chiến trong 4 ngày Tết.
– Từ năm 1970, Mỹ thực hiện chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh, quân đội Mỹ giao lại vai trò chủ thể chiến trường cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa, quân đội Mỹ không trực tiếp tham chiến nữa, họ chỉ trợ chiến, yểm trợ hỏa lực. Khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa độc lập tác chiến trên các mặt trận, trực tiếp đối đầu với những người lính Việt Nam phía bên kia là lúc diễn ra những trận đánh đẫm máu nhất, những người lính Việt Nam ở cả hai phía, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Sản chết trận nhiều nhất. Những điểm quyết chiến ở Snun, Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia, ở đường 13, ở đường 9 – Nam Lào đầu năm 1971 (Lam Sơn 719), ở thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972.

– Năm 1973, sau khi ký Hiệp Định Hòa Bình Paris ngày 27-1-1973 (Paris Peace Accord) giữa 4 phe tham chiến: Mỹ, VNCH, CSBV và Mặt Trận giải Phóng Miền Nam, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam thì những người Cộng Sản càng đẩy mạnh cuộc nội chiến để chỉ hai năm sau họ thâu tóm hoàn toàn miền Nam vào ngày 30. 4. 1975.

 

Tại sao VNCH thua trận:

– VNCH thua không vì thiếu tinh thần chiến đấu, cũng không thiếu khả năng chiến đấu mà vì bị Mỹ phản bội, thất hứa khi cắt viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH, trong khi khối Cộng Sản: Nga Sô và Trung Cộng tiếp tục cung cấp vũ khí đạn dược cho CSBV để tiến chiếm Miền Nam tự do.

Sau đây là các tài liệu minh chứng cho lập luận trên.

* Trong cuộc phỏng vấn dành cho báo LA Times vào trước ngày 30-4-2015 tưởng niệm 40 năm Sàigon sụp đổ, ông Lewis Sorley, một viên chức tình báo cao cấp Mỹ (CIA planning and policy chief), đã ca ngợi về khả năng chiến đấu của quân đội VNCH, và quy trách nhiệm cho Quốc Hội Mỹ khi cắt viện trợ cho VNCH sau đây:

“The Vietnamese expanded their forces from 600,000 to 1.1 million, almost all territorial forces who were on home ground, where their families lived, where their ancestral grave sites were. They really turned out to be excellent soldiers and until Congress decided to cut support for them they fought very effectively.

We will never live down the shame of having abandoned the Vietnamese. It’s not just that the evacuation left many behind, but when we cut off support for their armed forces, we caused the war to end the way it did”. (8)

* Frank Scotton, một viên chức ngọai giao Mỹ đã từng tham gia vào công cuộc bình định (National pacification program) và chống phiến lọan (Counterinsurgency) tại Việt Nam từ 1962 tới 1975, đã phê bình việc rút quân qua chính sách “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” của Mỹ lúc đó là thiếu thành thật, và việc cắt viện trợ cho VNCH là đáng hổ thẹn. Theo ông, đáng lẽ chính phủ Mỹ phải có một chính sách danh dự. Chính phủ Mỹ đáng lẽ ra nên thông báo cho VNCH biết rằng quân đội Mỹ không thể đóng quân ở Việt Nam lâu hơn nữa nhưng sẽ cung cấp tài chánh và tiếp liệu bao lâu VNCH còn muốn tiếp tục chiến đấu cho chính mình:

“… So in 1973 I was not someone who would argue against withdrawal, but I did feel that dishonesty – pretending that “Vietnamization” worked, reducing liaison personnel (advisors) when they might be most needed, and cutting funding for supply and operations – was dishonorable. We ought to have had a honorable policy. We should have informed the Republic of Viet Nam that we could no longer station Americans in Viet Nam but would provide financial and logistical assistance as long as they wanted to continue their struggle for a distinct identity” (8B).

* Henry Kissinger (Cố Vấn An Ninh Quốc Gia) đã cố tình giấu giếm các bản báo cáo tối mật và tối khẩn của CIA về việc CSBV tiến quân xâm chiếm VNCH sau Hiệp Định Paris 1973.

Trong bài viết tựa đề “The CIA In Vietnam War” (Cơ Quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ Trong Chiến Tranh Việt Nam) đăng trong số phát hành tháng 8 – 1989 của nguyệt san Vietnam Magazine, USA (tạp chí bằng Anh ngữ của Mỹ), ký gỉa Lynch (đã là một cựu chiến binh đã từng chiến đấu tại Việt Nam) hỏi ông Thomas Polgar là cựu Giám Đốc CIA Vùng Đông Dương của Mỹ lúc bấy giờ (tháng 4 – 1975 đang có mặt tại Việt Nam) rằng: “Ông đã có mặt tại Nam Việt Nam từ đầu năm 1974, vậy thì ông và CIA của Mỹ có biết trước về cuộc tấn công ồ ạt và toàn lực của Cộng Sản Bắc Việt nhào vào đánh chiếm cướp mất Miền Nam Việt Nam Tự Do hay không?”

Ông Thomas Polgar trả lời rằng:

“Ông Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger đã cố tình giấu giếm các báo cáo tối mật, tối khẩn của tôi… Ông đã cố tình làm hư , làm hỏng mọi điều, mọi sự… Ông đã cố tình chủ mưu bỏ rơi VNCH và để cho Cộng Sản chiếm lấy, cướp lấy, thống trị Miền Nam, cai quản, chỉ huy toàn thể đất nước Việt Nam!!!!!…. Thật là qúa đau buồn , cay đắng và chua xót cho VNCH và Miền Nam Việt Nam Tự Do, Dân Chủ!!!!!”….

* Âm mưu thâm độc của Henry Kissinger và tập đòan tài phiệt Do Thái đã lũng đọan giới truyền thông và chính quyền Mỹ để bán đứng VNCH cho CSBV. Tại sao? Bởi vì, đối với Do Thái lúc bấy giờ, VNCH phải chết để cho Do Thái sống (với nguyên tắc: Mỹ không thể lưỡng đầu thọ địch).

Do Thái nắm hầu hết các phương tiện truyền thông Âu Mỹ, nên đã tổ chức, cổ võ, xúi dục và tài trợ cho rất nhiều cuộc biểu tình phản chiến ở các nước Âu Mỹ chống lại chiến tranh VN.

Do Thái Henry KISSINGER khuyên NIXON bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa để đi với Trung Cộng. Chính hắn chủ trương cho cuộc gặp gỡ NIXON – MAO TRẠCH ĐÔNG. NIXON đã từng nói với MAO TRẠCH ĐÔNG và CHU ÂN LAI (1972): “Nếu chúng tôi là bạn của 1 nước CS lớn ở Á CHÂU thì tại sao tôi lại không chấp nhận cho 1 nước CS nhỏ ở Á CHÂU (Việt Cộng). Tuy nhiên, nước chúng tôi là nước dân chủ nên không thể thay đổi ngay tức khắc, hãy để cho chúng tôi chuẩn bị trong 3 năm”. Quả nhiên, 3 năm sau, 1975, Việt Nam Cộng Hòa không còn tồn tại.

Để giữ đúng lời hứa với MAO TRẠCH ĐÔNG cho Việt Nam Cộng Hòa chết vào khoảng 1975, Quốc Hội Mỹ do Do Thái lũng đọan, cùng với Hành Pháp Mỹ do tên Do Thái KISSINGER lèo lái, đã áp lực Tổng Thống Gérald FORD chuẩn bị bức tử Việt Nam Cộng Hòa….

Ngày 10-03-1975 mất BAN MÊ THUẬT, tinh thần quân lực Việt Nam Cộng Hòa xuống thấp. Trong lúc nguy khốn, Việt Nam Cộng Hòa xin Mỹ viện trợ gấp 700 triệu USD (món tiền này chỉ là 1 khoản rất nhỏ so với số viện trợ của Mỹ cho Do Thái). Đầu tiên, quốc hội Mỹ chấp thuận 700 triệu USD về viện trợ vũ khí. Nhưng sau đó, quốc hội Mỹ ngăn chặn món tiền này với lý do hết sức khốn nạn là: ” Cho Việt Nam Cộng Hòa bao nhiêu cũng không đủ, vậy giữ lại để tiết kiệm”.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hết sức lo sợ vì tinh thần quân đội xuống thấp, và Việt Cộng đã tới tận PHAN RANG, PHAN THIẾT. Nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, lạy van Mỹ đến mức, nếu Mỹ không cho 700 triệu USD đã tháo khoán thì chỉ xin các ông một lời nói trước báo chí để trấn an tinh thần của quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa: “700 triệu USD về võ khí cho Việt Nam Cộng Hòa sẽ được chấp thuận, nhưng còn phải nghiên cứu thêm vài chi tiết “. Tức là chúng ta chỉ xin Mỹ 1 lời hứa cuội. Quốc Hội MỸ (dưới ảnh hưởng cuả Do Thái) họp báo nói “không có 1 cent (xu) cho Việt Nam Cộng Hòa”. Đau đớn thay!

Cái bẩn thỉu, độc ác của Do Thái đối với Việt Nam Cộng Hòa ở chỗ là: đối với các nước dân chủ pháp trị, một khi 700 triệu USD võ khí đã được quốc hội tháo khoán thì chính phủ bắt buộc phải chi dùng, nhưng Quốc Hội Mỹ lại cố ý không cho gửi các võ khí đó sang VN, như đã hứa. Để rồi, ba tháng sau ngày VNCH bị sụp đổ, Lobby Do Thái đã áp lực với quốc hội Mỹ cho phép Tổng Thống FORD sử dụng 700 triệu USD võ khí, không phải để gửi sang VN, vì Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa, mà là để gửi sang cho Do Thái !!

Độc hại hơn, Kissinger khuyên Tổng Thống FORD bỏ hẳn dự định làm hàng rào an toàn nối liền SAIGON và Vũng Tầu để cho các gia đình Việt Nam Cộng Hòa đi thoát (tương tự như 1954-1955, PHÁP giữ 2 thành phố Hànội và Hải Phòng trong 1 năm cho dân chúng miền Bắc Kỳ di cư vào Nam VN).

Tập Đoàn Do Thái đã thành công rực rỡ, vẻ vang (trên hàng triệu người bị chết) vì tài ba, nhưng không có đức độ của họ. Nạn nhân là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhân dân Việt Nam Cộng Hòa, QUÂN LỰC MỸ, các Phi Công MỸ, và QUÂN LỰC của các nước Đồng Minh…. Tuy nhiên, đối với bọn họ thì đấy chỉ là những con số, không lấy gì làm quan trọng, làm mủi lòng tiếc thương của họ. Họ dửng dưng không cần biết, không thèm để ý, không thèm quan tâm …. Họ đã trở thành thú vật vô lương tri !!!! (9).

* Bí ẩn 30-4-1975?

Để tìm hiểu thêm về bí ẩn đàng sau biến cố lịch sử 30-4-1975, chúng ta hãy theo dõi các lời bình luận của cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, một thành viên của phái đòan VNCH tham dự  hòa đàm Paris, về việc ai đã gây ra thảm họa 30-4-1975?

Ngay từ năm 1982, giáo sư Huy đã cho biết nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch giải kết (tức hủy bỏ mọi cam kết bảo vệ miền Nam!) để từng bước rời bỏ miền Nam VNCH. Tuy nhiên thảm họa 30.04.1975 xảy ra bất ngờ hơn mọi người đã dự đoán bởi vì vụ xì căng đan Watergate dẫn tới sự từ chức của Tổng Thống Nixon vào ngày 9.8.1974 đã làm tê liệt mọi cố gắng để cứu vãn tình thế.

Là một thành viên của phái đòan VNCH tham dự Hòa Đàm Paris, giáo sư Huy nhận xét rằng Kissinger (một người Mỹ gốc Do Thái lúc đó còn làm Cố Vấn An Ninh cho Tổng Thống Nixon) có thái độ đáng ngờ là cương quyết muốn thỏa hiệp riêng (“đi đêm”!) với CSVN bất cứ giá nào để quân đội Hoa Kỳ rời bỏ miền Nam, dù biết rằng sau đó miền Nam sẽ lọt vào tay Hà Nội.

Những tiết lộ tế nhị của Giáo Sư Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận (1908 – 1986) nhân dịp tái bản Hồi Ký Bên Giòng Lịch Sử của ông cũng cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân ra khỏi Việt Nam. Riêng dư luận báo chí quốc tế đã sớm nhìn thấy rõ Hoa Kỳ muốn rút lui bỏ rơi miền Nam từ khi bắt đầu chánh sách Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 (mà họ phân tích là nhằm thay đổi màu da tử sĩ!), nhứt là hòa đàm Paris (mà họ nhận định là nhằm bảo đảm Mỹ rút quân được an toàn!).

Như vậy thảm họa 30.04.1975 đã xảy ra, nguyên nhân chính là Hoa Kỳ có chính sách bỏ rơi miền Nam VNCH và thế lực Do Thái thúc đẩy chính sách đó được thực hiện qua Kissinger.
Nhưng tại sao thế lực Do Thái muốn Mỹ phủi tay bỏ Miền Nam Việt Nam?

Đó là vì họ sợ Hoa Kỳ sa lầy và sự tốn kém khổng lồ tại chiến trường Việt Nam có thể đưa tới hậu quả Hoa Kỳ không còn khả năng giúp đỡ một cách hữu hiệu cho nước Do Thái tồn tại như trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng làm. Cho nên họ chủ trương Hoa Kỳ phải giải kết – bỏ rơi miền Nam – để trở về chuyên tâm lo cho Do Thái. Để đạt được mục tiêu này, họ đã có kế hoạch rõ ràng và thực hiện từng bước một.

Thế lực Do Thái tại Mỹ:

Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái chủ trương nắm giữ các cơ cấu quan trọng trong guồng máy điều khiển đất nước Hoa Kỳ. Họ gài được nhiều nhân sự vào bên hành pháp cũng như lập pháp. Trong các bộ quan trọng nhứt như ngoại giao, quốc phòng và tài chánh thường thấy đa số có nhân viên gốc Do Thái và nhiều lần cấp bộ trưởng cũng do người Mỹ gốc Do Thái nắm giữ. Trong Thượng Viện và Hạ Viện có khá nhiều nghị sĩ và dân biểu gốc Do Thái trong cả hai chính đảng. Vì vậy, thế lực của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái rất lớn và đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Họ còn chủ động nắm những lãnh vực ngân hàng, thị trường chứng khoán, báo chí, truyền thanh, truyền hình, và điện ảnh… Đặc biệt, ngành truyền thông quan trong nhứt là điện ảnh Hollywood, nằm trong tay thế lực Do Thái. Họ biết rõ rằng nắm được truyền thông trong tay là hướng dẫn được dư luận quần chúng trong mục tiêu phục vụ quyền lợi cho nguời Do Thái. Họ còn điều khiển một phần lớn các viện nghiên cứu chiến lược nhằm đưa ra những đề nghị cho chính sách tương lai cho chánh phủ Mỹ và dĩ nhiên phải phù hợp với quyền lợi của người Do Thái.
Thế lực Do Thái này bao gồm Cộng Đồng Người Mỹ gốc Do Thái và sắc dân Do Thái trải dài trên khắp thế giới và được điều khiển hữu hiệu từ Tel Aviv với 2 bộ phận đắc lực gồm cơ quan tình báo Mossad và Nghị Viện Do Thái Thế Giới (World Jewish Congress – từ năm 2007 đứng đầu là nhà tỷ phú nổi tiếng Ronald Stephen Lauder người Mỹ gốc Do Thái).
Tất cả các sự kiện trên cho thấy rõ ràng rằng thế lực Do Thái nắm giữ được các bộ phận huyết mạch tại Mỹ nên chính sách của Hoa Kỳ phải luôn luôn không được đi trái ngược lại với quyền lợi của quốc gia Do Thái.
Kế họach của Do Thái thúc đẩy Hoa Kỳ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam:

Sau khi tổng thống John Kennedy bi ám sát, phó thổng thống Johnson lên kế nhiệm. Từ khi nhậm chức, Tổng Thống Johnson (dân Texas!) cùng ban tham mưu luôn cứng rắn chủ chiến và không muốn Hoa Kỳ bị thua trận đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình. Thế lực Do Thái lúc đó không có ảnh hưởng nhiều trong chánh phủ của Tổng Thống Johnson để có thể xoay đổi từ bên trong chính sách can thiệp quân sự của Tổng Thống Johnson vào Việt Nam, cho nên họ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện để tấn công từ bên ngoài dư luận quần chúng.

Cơ hội thuận tiện đó là lúc cuộc chiến Việt Nam bùng nổ lớn bắt đầu từ cuối năm 1964 trở đi với các trận đánh dữ dội tại Bình Giã, Đồng Xoài, Đức Cơ… bắt đầu gây tử thương nhiều quân nhân Mỹ. Những hình ảnh quan tài phủ quốc kỳ kèm theo sau hình ảnh dã man và bất lợi (thổi phồng vụ thảm sát tại Mỹ Lai & vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn một tên cộng sản tại Sàigon) của chiến tranh được hệ thống truyền thông Hoa Kỳ – đa số gốc Do Thái quản trị – khai thác triệt để ngày đêm tạo một phong trào phản chiến lớn mạnh chưa từng thấy trên thế giới, không những tại Hoa Kỳ mà còn lan rộng khắp nơi trên nhiều quốc gia khác.
Tướng độc nhởn Moshe Dayan -Bộ trưởng Quốc phòng của Do Thái- đột ngột tự qua Việt Nam 3 ngày (từ 25 tới 27 tháng 7 năm 1966) và cho báo chí chụp bức hình biểu diễn đang đi hành quân với lực lượng Hải Quân Mỹ. Sau chuyến “hành quân” chớp nhoáng đó, Tướng độc nhởn Moshe Dayan viết ngay đề nghị Mỹ nên rút quân ra khỏi Việt Nam vì không thể thắng cuộc chiến này được (rất là vô lý vì thực sự hiện diện xem xét chiến trường VN chỉ có 1 ngày, mà dám đưa ngay đề nghị khủng khiếp như vậy!).
Dĩ nhiên lời đề nghị chủ bại này càng được thổi phồng bởi phong trào phản chiến và làm mất uy tín Tổng Thống Johnson. Phong trào phản chiến càng lên cao và đã khiến Tổng Thống Johnson vào tháng 3 năm 1968 phải quyết định không ra tái ứng cử. Sự xáo trộn tranh chấp kịch liệt trong đảng Dân Chủ đã tạo cơ hội hiếm có để cho ứng cử viên của đảng Cộng Hòa nắm chắc cơ hội thắng cử. Vì vậy thế lực Do Thái đã gài được Kissinger từ năm 1957 làm cố vấn cho Nelson A. Rockefeller (Thống đốc New York) đang vận động ra tranh cử làm ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa. Nhưng không ngờ Nixon thành công hơn và cuối cùng đắc cử Tổng Thống. Thấy vậy, Kissinger bèn trở cờ đầu quân theo Nixon và được trọng dụng làm Cố vấn An ninh quốc gia.

Thế lực Do Thái còn đưa được thêm nhân sự gốc Do Thái vào trong guồng máy cầm quyền Mỹ. Đáng kể nhứt là Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger, và Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann (1925 – 1999). Với những chức vụ then chốt này, họ đã thành công bày mưu cho Nixon bỏ rơi miền Nam. Bắt đầu với chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 để từng bước giảm con số lính Mỹ tử vong và bớt dần sự hiện diện của Hoa Kỳ tại miền Nam.
Đến năm 1971, Kissinger bí mật qua Trung Hoa tìm cách tái bang giao với chính quyền Bắc Kinh và đưa đến thỏa hiệp Thượng Hải 1972 giữa Mao Trạch Đông và Nixon. Trên bề mặt, thỏa hiệp này chỉ công nhận một nước Trung Hoa cho thấy Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan trên chính trường thế giới, nhưng bên trong thực tế Kissinger nhằm sửa soạn sự rút lui an toàn cho quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam với sự bảo đảm của Trung Cộng.

Quả nhiên, chỉ sau đó chưa đầy một năm, Kissinger đã dùng đủ mọi mánh khóe, kể cả đe dọa tánh mạng các cấp lãnh đạo VNCH, thành công trong việc ép buộc VNCH ký kết Hiệp Định Paris vào ngày 27.1.1973 để quân đội Hoa Kỳ được an toàn rời khỏi miền Nam. Phía dư luận báo chí quốc tế đã sớm thấy rõ âm mưu của Kissinger và đã ví bản hiệp định này giống như tờ khai tử cho miền Nam Việt Nam.
Chính ngay Kissinger cũng đã tiết lộ bề trái của bản hiệp định cho Cố vấn đặc trách Nội vụ John Ehrlichmann của T.T Nixon như sau: “Tôi nghĩ rằng nếu họ (chánh phủ VNCH) may mắn thì được 1 năm rưỡi mới mất”.

Tương tự, Kissinger đã trấn an T.T Nixon là: “Hoa Kỳ phải tìm ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó thì …chẳng ai cần đếch gì nữa. Vì lúc ấy, Việt nam sẽ chỉ còn là một bãi hoang”.
Bởi vậy thảm họa 30.4.1975 xảy ra là điều tất nhiên đúng như tính toán dự trù của Kissinger và thế lực Do Thái.
Chỉ sau Hiệp Định Paris khoảng 9 tháng, cuộc chiến Jom Kippur vào ngày 6.10.1973 giữa Do Thái và các quốc gia Ả Rập láng giềng xảy ra. Lần đầu tiên trong lịch sử tái lập quốc, Do Thái bị thua trận và mất một số lớn phần đất chiếm đóng trước đây. Đáng lẽ Do Thái còn có thể bị thua nặng nề hơn nữa, nhưng giờ chót nhờ có Kissinger thuyết phục được Nixon nỗ lực can thiệp giúp Do Thái nên tình thế không còn bi đát nhiều. Tuy nhiên, sau đó Tướng độc nhỡn Moshe Dayan phải từ chức Bộ trưởng Quốc phòng vì chịu trách nhiệm bị thua trận.

Biến cố thua trận lần đầu tiên Jom Kippur năm 1973 cho thấy thế lực Do Thái nhìn rất xa và rất có lý với nỗi lo sợ Hoa Kỳ vì bị sa lầy ở chiến trường Việt Nam nên không còn có thể chuyên tâm giúp cho Do Thái thắng trận như trước đây. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi thế lực Do Thái phải vận dụng toàn diện từ trong lẫn ngoài để thúc đẩy và buộc giới lãnh đạo Hoa Kỳ phải bỏ rơi miền Nam. (9B).

Hậu quả tai hại khôn lường của chiến tranh Việt Nam:

Tội ác ghê gớm nhất của chế độ cộng sản ở Việt Nam
Nếu:
– Chưa phải là chuyện bán những nhà cách mạng khả kính để kiếm tiền.
– Chưa phải là chuyện ám sát hàng loạt những nhà yêu nước không theo cộng sản.
– Chưa phải là chuyện đấu tố và giết oan hàng chục vạn người.
– Chưa phải là chuyện lừa gạt cả dân tộc vì “cách mạng” và những thứ hoang tưởng, rỗng tuếch.
– Chưa phải là chuyện nướng hàng chục vạn đến hàng triệu binh lính trong những trận đánh vô nghĩa.
– Chưa phải là chuyện đặt mìn, ném lựu đạn, pháo kích vào thành phố, bệnh viện, trường học với danh nghĩa “giải phóng miền nam”.
– Chưa phải là chuyện làm tan nát cả miền nam, ở nơi đã từng đầy văn hoá, nhân bản, trù phú và bình yên.
– Chưa phải là bắt hàng chục vạn người “làm việc cho chế độ cũ” phải “học tập cải tạo” và vùi xác ở đồi hoang núi lạnh.
– Chưa phải là “đánh tư sản” để cưỡng đoạt nhà cửa, tài sản và đẩy hàng triệu người dân “chế độ cũ” lên những vùng ma thiêng nước độc.
– Chưa phải là việc dồn hàng triệu người dân đi đến chỗ đường cùng phải bỏ quê hương ra đi.
– Chưa phải là chuyện biến những người dân Việt trở nên lưu vong với số lượng khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại (và chưa hề có trong lịch sử Việt Nam).
– Chưa phải là chuyện tạo nên một mảng đen khủng khiếp trong lịch sử.
Mà là chuyện :
– Biến những con người Việt Nam thành những con người không còn biết tử tế, không còn biết liêm sỉ, càng lúc càng tham lam, tàn bạo, thủ đoạn.
– Biến người Việt thành một loại người cực kỳ xấu xa trong con mắt của thế giới loài người, chỉ chuyên trộm cắp, cướp giật và làm những chuyện xấu xa mà không có một dân tộc nào sánh bằng.
– Biến xã hội Việt Nam thành xã hội suy đồi và giả dối đến mức chưa từng có từ trước tới nay trong văn hoá Việt.
– Biến nước Việt thành một nơi chất độc huỷ hoại không những đến thứ để ăn, để uống, để hít thở mà còn huỷ hoại đến tận ý chí, tinh thần và đạo làm người; một nơi không còn một chút nội lực, một nơi con người thờ ơ với hiểm hoạ diệt vong ngay trước mắt. (10).

Tổng thống Ronald Reagan đã bình luận về hậu quả của việc Mỹ rút quân, chấm dứt chiến tranh Việt Nam như sau:

“Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho lọai ‘hòa bình’ đó là ngàn năm tối tăm cho các thế hệ sinh ra tại Việt Nam” (11).

Bài học lịch sử từ Vietnam War:

– Nước Việt Nam: Thân phận nhược tiểu, thiếu lãnh đạo sáng suốt nên bị mất dần chính nghĩa quốc gia, lại bị CS lũng đọan từ bên trong, nên cuối cùng chế độ VNCH ở Miền Nam bị sụp đổ và Miền Nam Tự Do bị Cộng Sản Việt Nam thôn tính.

Thân phận nhược tiểu: Nước Việt Nam ta có vị trí chiến lược trong vùng Đông Nam Á, là bao lơn trông ra Thái Bình Dương. Nên trong lịch sử hơn 4000 năm, nước ta hết bị Tầu đô hộ hơn 1000 năm, rồi lại bị thực dân Pháp cai  trị ngót 100 năm. Sau trận Điện Biên Phủ 1953, quân Pháp thua trận và ký kết với Việt Minh hiệp định đình chiến Genève ngày 20-7-1954 chia đôi nước ta tại vĩ tuyến 17: Miền Bắc thuộc quyền cai trị của Việt Minh, còn Miền Nam thuộc phe quốc gia. Hơn một triệu người từ Miền Bắc di cư vào Miền Nam tìm tự do. Hòa bình chưa được bao lâu thì từ cuối năm 1959, Cộng Sản Miền Bắc lại tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam theo lệnh của quan thầy Trung Cộng và Nga Sô trong kế họach nhuộm đỏ cả vùng Đông Nam Á Châu. Trước mưu đồ xâm lược của khối Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế, Hoa Kỳ là một cường quốc đứng đầu khối Thế Giới Tự Do, đã viện trợ cho chính quyền non trẻ của tổng thống Ngô Đình Diệm chống lại Cộng Sản xâm lược. Lúc đầu TT Diệm chỉ yêu cầu Mỹ viện trợ kinh tế và vũ khí để quân dân Miền Nam tự lực chiến đấu. Nhưng với đà leo thang của cuộc chiến từ du kích chiến sang trận địa chiến, chính quyền Mỹ e sợ quân đội non trẻ của VNCH không đử sức chống lại lực lượng Cộng Sản Bắc Việt với sung đạn tối tân do Nga Sô, Tiệp Khắc và Trung Cộng cung cấp, nên Mỹ làm áp lực với TT Diệm để đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến. TT Diệm không chịu vì sợ một khi quân đội Mỹ tham chiến, CSBV sẽ lợi dụng cơ hội tuyên truyền cho cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, và như vậy cuộc chiến tự vệ của VNCH sẽ mất chính nghĩa quốc gia. Chính vì không chịu cho quân Mỹ tham chiến, TT Diệm bị giết chết trong một cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963. Sau đó, các tướng lãnh lên cầm quyền trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa đã để cho Mỹ trực tiếp đưa quân vào tham chiến ở Miền Nam. Cuộc chiến Việt Nam mất dần chính nghĩa quốc gia và bị Cộng Sản lợi dụng để tuyên truyền cho một cuốc chiến “Chống Mỹ cứu nước”. Thế là Việt Nam trở thành chiến trường trong cuộc đối đầu đọ sức của hai khối Cộng Sản và Thế Giới Tự Do trong cuộc chiến tranh lạnh sau Đệ Nhị Thế Chiến: Miền Bắc là tiền đồn của khối Cộng Sản và Miền Nam là tiền đồn của Thế Giới Tự Do. Cuối cùng chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc chiến huyết nhục tương tàn, đầy tang thương và chết chóc, đổ nát trên lãnh thổ Việt Nam.

Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ cho VNCH: Cuộc chiến leo thang từ cuối năm 1964 gây nhiều thương vong cho lính Mỹ và chiến phí khổng lồ đã gây ra làn sóng phản chiến khắp nơi ở Hoa Kỳ đến nỗi tổng thống Lyndon Johnson của đảng Dân Chủ ở Hoa Kỳ đã không còn muốn tái tranh cử năm 1968. Kết qủa, ứng cử viên Richard Nixon của đảng Cộng Hòa đắc cử tổng thống với lời hứa sẽ rút quân về nước và chấm dứt chiến tranh Việt Nam trong danh dự. Để thực hiện lời hứa này, Mỹ đã thực hiện chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh từ năm 1970 bằng cách trao trách nhiệm tác chiến cho quân đội VNCH, và Mỹ chỉ còn yểm trợ hỏa lực mà thôi. Đến đẩu năm 1972, qua sự dàn xếp của Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia, TT Nixon đã qua Thượng Hải gặp gỡ Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai để dàn xếp cuộc rút quân Mỹ an tòan với sự bảo đảm của Trung Cộng. Từ đó, Mỹ từ từ rút quân khỏi Việt Nam đồng thời cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế cho VNCH và ép buộc TT Nguyễn Văn Thiệu phải ký Hiệp Định Hòa Bình Paris (Paris Peace Accord) ngày 27-1-1973 như một văn kiện đình chiến và vãn hồi hòa bình cho Việt Nam (The Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam), nhưng trên thực tế lại là văn kiện bỏ rơi VNCH cho Cộng Sản xâm lăng vì Mỹ rút quân và giảm viện trợ cho VNCH nhưng lại không đòi hỏi bộ đội Cộng Sản Bắc Việt phải rút quân về miền Bắc vì “chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô” (11B). Thế là chỉ hơn 2 năm sau, quân đội Cộng Sản với sự viện trợ vũ khí của Nga Sô và Trung Cộng đã tiến chiếm trọn Miền Nam ngày 30-4-1975.

Sự lũng đọan của Cộng Sản Việt Nam từ bên trong chính quyền VNCH:

Sự sụp đổ mau lẹ của chế độ VNCH ở Miền Nam còn do một nguyên nhân khác. Đó là sự lũng đọan của Cộng Sản Việt Nam từ bên trong chính quyền VNCH. Cộng Sản đã gài người vào nằm vùng trong các cơ quan chính quyền từ Quốc Hội (các dân biểu Lý Quý Chung, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Lê Tấn Bửu, Ngô Bá Thành v.v.) đến chính phủ (Trần Văn Trọng, cố vấn chính trị cho TT Nguyễn Văn Thiệu là tên Cộng Sản nằm vùng; Trung tướng Nguyễn Hữu Có cũng là tên CS nằm vùng trong quân đội VNCH) và cả các hạ tầng cơ sở nữa. Hơn nữa, CS còn xúi dục phe Phật Giáo Ấn Quang của thượng tọa Thích Trí Quang và phe sinh viên khuynh tả (Hùynh Tấn Mẫm) xuống đường biểu tình phản chiến chống chế độ VNCH, gây xáo trộn chính trị và làm suy giảm tiềm lực chiến đấu của quân dân Miền Nam. Chính sự xáo trộn chính trị này đã làm mất uy tín của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, và làm chính quyền Hoa Kỳ nản chí, không còn muốn tiếp tục viện trợ cho chính phủ Nguyễn Văn Thiệu mà giới báo chí, truyền thanh và truyền hình Mỹ (đa số do thế lực Do Thái kiểm sóat) cho là bất lực, tham nhũng, mua quan bán chức.

– Thế hệ cha anh phải lưu truyền cho thế hệ con em: niềm tự hào về nòi giống Lạc Hồng, tinh thần đấu tranh bất khuất và tự cường của dân tộc Việt, chính nghĩa quốc gia dân tộc, để phục hưng một nước Việt Nam tự do, dân chủ và phú cường ở Đông Nam Á.

Trong mỗi gia đình, chúng ta phải dạy cho con em biết về thực chất của cuộc chiến Việt Nam (Vietnam War) là một cuộc chiến đấu tranh cho chính nghĩa quốc gia, bảo về Miền Nam tự do, chống lại sự lâm lược của Cộng Sản Bắc Việt; chúng ta dạy cho con em về lịch sự dựng nước và giữ nước kiên cường của nòi giống Lạc Hổng trong hơn 4000 năm qua. Có hiểu như thế, con em chúng ta mới có thể tự hào về nguồn gốc dân tộc, mới hãnh diện mình là người Việt Nam. Ngòai ra, chúng ta còn phải dạy cho con em nói và viết tiếng Việt vì “tiếng Việt còn thì nước Việt mới còn”.

Trong phạm vi cộng đồng, chúng ta khuyến khích con em tham gia vào các sinh họat cộng đồng cả Việt lẫn Mỹ để tạo sức mạnh và ảnh hưởng của người Việt trong các sinh họat xã hội và chính trị của quốc gia Hoa Kỳ từ cấp địa phương, tiểu bang và liên bang. Chúng ta khuyến khích con em đi bầu và nếu có thể tham gia vào các sinh họat chính trị các cấp. Chúng ta khuyến khích con em đóng góp yểm trợ cho các nhà đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền trong nước.

– Làm sao để phục hưng đất nước và tránh họa Hán thuộc: 3 quyết tâm sau đây:

Quyết tâm thứ nhất là cộng đồng hải ngoại cần đoàn kết nên một để chống Cộng, bỏ qua những tranh cãi nhỏ nhen và tỵ hiềm nhỏ nhặt, biết hiệp nhất trong đa diện, xem cái “chúng ta” quan trọng hơn cái “tôi”, tôn trọng sự khác biệt trong phương cách đấu tranh miễn là có sự đồng nhất trong mục tiêu tranh đấu, trân quý những nỗ lực và thành tựu của nhau dù nhỏ đến đâu chăng nữa.

Quyết tâm thứ hai là cộng đồng quốc nội cũng cần đoàn kết nên một để chống Cộng: đoàn kết bên trong các giới nông dân, công nhân, trí thức, tín đồ, các nhóm đối kháng dân chủ và các tổ chức xã hội dân sự. Các giới này cũng cần đoàn kết với nhau: thành phần quần chúng đông đảo thì thành lực lượng, thành phần ít ỏi nhưng có tri thức và tổ chức thì thành người hướng dẫn, hai bên giúp nhau thực thi quyền lực của nhân dân.

Quyết tâm thứ ba là trong ngoài liên kết với nhau thành một, làm thành một Liên minh Dân tộc rộng rãi, để đương đầu với hai kẻ thù chung là đảng Việt cộng và đảng Tàu cộng vốn đang dựa lưng vào nhau để bảo vệ nhau. Đừng bao giờ nghe những giọng điệu hòa hợp hòa giải của Hà Nội. Hãy nhìn những sai lầm, tội ác và thất bại mà cả Việt Cộng lẫn Tàu Cộng đã gây ra cho đất nước 40 năm qua (12).

– Hướng về tương lai: Hy vọng đã vươn lên …

Niềm hy vọng của một ký gỉa ngọai quốc cho một nước Việt Nam tự do:

Trong ĐOAN KẾT cuả một quyễn sách nói về Việt Nam, “A reporter’s love for a wounded people”, tác giả Uwe Siemon-Netto là một phóng viên người Đức, đã sống tại  Nam VN  5 năm trong thời  chiến tranh trước 1975, đã ca tụng quân lực VNCH:

” . . . .Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. . . .”

Tác giả đã nói lên ước muốn, cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa, dân tộc Việt Nam sẽ tìm ra một giải pháp gỉai thể chế độ Cộng Sản bạo tàn:

“Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra” (13).

Lời tố cáo của một cựu đảng viên cộng sản trong nước:

Nhạc sĩ Tô Hải là một đảng viện Cộng Sản nhưng nay đã phản tỉnh, bỏ đảng và từ trong nước tố cáo đảng Cộng Sản Việt Nam bán nước hại dân trong bài “Nhân 30 tháng 4, tôi tuyên bố”:

“Ôi! 30 tháng 4, mình là một trong những kẻ đau nhất vì MẤT nhiều nhất!

Mỗi lần nó đến lại như khoét sâu vào những nỗi đau của cả triệu triệu con người, vì nó mà con mất cha, vợ mất chồng, dân mất nước để cho một lũ chẳng một ngày xung phong cầm súng, chẳng một ngày đánh Pháp, đuổi Nhật, thậm chí cả chẳng một ngày “chống Mỹ xâm lược” bỗng dưng ăn trên ngồi chốc, làm vua hiểu dụ thần dân những điều vô lý, vô lẽ, vô luân… mà vẫn dám vỗ ngực là cộng sản là “chủ tập thể” của đất đai, là không có tam tứ quyền phân lập, phân liệt gì xất …, nào là “tao có quyền lãnh đạo tuyệt đối muôn năm đất nước này, là quân đội do tao dựng lập ra nên phải phục vụ tao! rằng tao nhất định sẽ lên…thiên đường ! Kẻ nào phản đối, tao cho vô tù hết!

Rõ ràng, những kẻ kiêu binh ăn mày dĩ vãng tanh mùi máu và đẫm mặn nước mắt đang ngày càng gây thêm thù, thêm oán …!!!

Rõ ràng 30 tháng 4 không hề làm cho họ phải giật mình soi lại xem vì sao từ những giới trẻ như nhóm sinh viên luật đến lớp già như những trí thức, đảng viên lão thành lại ngày càng đông người ra mặt công khai lên tiếng phản đối mọi chủ trương đường lối phản nước hại dân của những đàn sâu phá hoại đất nước cực kỳ …!” (14)

Lời phân tích của một giáo sư ở Mỹ về sự tàn rụi của chế độ Cộng Sản VN:

Trong bài diễn văn bằng English của Giáo sư Vũ Quý Kỳ, phát biểu tại Thư Viện Spokane Public Library ngày 19.4.2015, Washington State USA, vắn tắt trình bày về Chiến Tranh Việt Nam và tiên đóan về sự tàn rụi của chế độ Cộng Sản VN:

Chủ quyền quốc gia bị đe dọa: Việt Nam đang bị đe dọa bởi Trung cộng, y như Crimea đối với Nga. Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra trung thành với Bắc Kinh, nhằm bảo vệ quyền lực, đặc quyền đặc lợi riêng tư cho họ, rút tỉa tài sản của quốc gia và của người dân Việt Nam. Hàng ngàn và hàng ngàn lính Trung cộng ăn mặc giả dạng thường dân lao động, được phép cư trú tại nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam với ưu đãi đặc biệt. Họ đang sinh sống trong các đặc khu, các thành phố dành riêng cho người Tàu.  Khi có chiến tranh, họ có thể lập tức trở thành các binh lính sẵn sàng chiến đấu. Nhà cầm quyền Hà Nội và các lực lượng an ninh chẳng có quyền gì đối với những khách đặc biệt này.

Những yếu kém nội tại:  có khoảng cách rất lớn giữa tầng lớp Đảng Viên và Nhân Dân về quyền lực và lợi tức.  Có khoảng cách rất lớn giữa người giàu và người nghèo. Quyền lực tuyệt đối của guồng máy cai trị tạo ra bất công, tham nhũng, tệ nạn xã hội, chưa hề thấy trong Việt Sử. Sự đàn áp nặng nề mang lại quá nhiều đau khổ cho dân chúng. Xã hội Việt Nam bị tàn phá tận cùng trong lãnh vực văn hóa, đạo đức, xã hội. Thật là đáng buồn.

Cơ hội: Người dân đang gia tăng hiểu biết, nhờ tiếp xúc với thực tại của thế giới: cách nào nền dân chủ tự do giúp phát triển xã hội và kinh tế, và giải phóng con người.  Người dân càng ngày càng bớt sợ hãi giới cầm quyền. Sự đau khổ vì bị thường trực đàn áp hung dữ không còn đe dọa được người dân. Giới trẻ không còn khiếp sợ. Số người phản kháng đang gia tăng. Mầm móng một cuộc nổi dậy đang dần dần phát triển và lan rộng.

Sức phản kháng sẽ đạt tới mức nguy hiểm cho chế độ. Chế độ hà khắc này biết nó nuôi mầm mống sẽ tự hủy hoại chính nó. Các đảng viên cộng sản đang cố tháo chạy ra nước ngoài, tìm đường tỵ nạn chính trị. (15)

Lời Kết: Những nhận định trên của những người ngọai quốc, của người Việt trong nước và của ngừơi Việt hải ngọai đã nhen nhúm niềm hy vọng cho một nước Việt Nam tự do dân chủ, không còn chế độ cộng sản độc tài, tàn bạo và phi nhân. Kinh nghiệm cho thấy rằng Cộng Sản không thể tự sửa đổi mà chúng ta, những người con dân Việt Nam, phải đào thải nó bằng sự liên kết của các lực lượng trong và ngòai nước để đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ thực sự.

Cựu tổng thống Nga Boris Yeltsin: “Cộng Sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.

Muốn thoát khỏi họa Hán thuộc phương Bắc và giành lại trọn vẹn chủ quyền quốc gia, Việt Nam không có lựa chọn nào khác hơn là dân chủ hóa đất nước để phát huy được tinh thần tinh thần Hội nghị Diên Hồng:

“Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến? Quyết chiến!

Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh? Hy sinh!”

Chính nhờ tinh thần quyết chiến ấy của tòan dân mà ông cha ta đã đánh đuổi được quân xâm lược nhà Nguyên ba lần ở thế kỷ 13. Ngày nay cũng vậy, các con dân Nước Việt trong và ngòai nước phải liên kết thành một lực lượng dân tộc, thống nhất ý chí, lật đổ ách thống trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tay sai của Trung Cộng. Ý chí của tòan dân là sức mạnh vạn năng như câu nói bất hủ của Tuân Tử: “Quân giả chu giả, thứ dân giả, thủy giả, thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu.” (Người cầm quyền là thuyền, người dân là nước, nước nâng thuyền lên mà nước cũng làm thuyền chìm).

Tài liệu tham khảo:

(1): “Cuốc chiến Việt Nam – Tại sao phải đánh?” (Email của Hòan Ngô gửi cho ds16group ngày 23-4-3015).

(2): Bài “Ai giải phóng ai?” của Huy Vũ, do Fong Le tnlp@yahoo.com gửi cho ds16group.

(3): Bài “Ai giải phóng ai?” của Huy Vũ, do Fong Le tnlp@yahoo.com gửi cho ds16group.

(4): “30.4 qua cái nhìn của một người lính bên thắng cuộc” (email của liennguyen10052 gửi cho ds16group).

(5): Bài “Ai giải phóng ai?” của Huy Vũ, do Fong Le tnlp@yahoo.com gửi cho ds16group.

(6): Black April 1975 – A History Lesson (on the Vietnam War 1954-1975) by Professor Vũ Quý Kỳ, posted on website: http://www.freevietnews.com/audio2/index.php?subaction=showfull&id=1429931260&archive=&start_from=&ucat=&

Đây là bài diễn văn English của Giáo sư Vũ Quý Kỳ, phát biểu tại Thư Viện Spokane Public Library ngày 19.4.2015, Washington State USA — vắn tắt trình bày về Chiến Tranh Việt Nam và Tháng Tư Đen 1975.

(7): “THÁNG TƯ ĐEN: Cần gọi đúng tên cuộc chiến này” của Phạm Đình Trọng, đăng trên danlambaovn.blogspot.com

(8): “Vietnam lesson endures, 40 years later” by Carol J. Williams, posted on LA Times

http://www.latimes.com/world/asia/la-fg-saigon-fall-20150430-story.html

(8B): Frank Scotton, book “Uphill Battle – Reflections on Viet Nam Counterinsurgency”, Texas Tech University Press, 2014, p 323.

(9): Bài “Sự tàn ác của Tập Đòan Do Thái đối với Việt Nam Cộng Hòa” của BS Đặng Vũ Ái, Paris (do Kiều Tiên gửi cho ds16group).

(9B): “Bí Ẩn 30-4-1975?” – Tài liệu khảo cứu bởi Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy & Linh Mục Cao văn Luận, 2010. Người ghi lại: Phạm Trần Hoàng Việt – Admin sưu lục và hiệu chỉnh. Nguồn: http://pham-v-thanh.blogspot.ca/2014/04/bi-3041975.html

(10): “Tội ác ghê gớm nhất của chế độ cộng sản ở Việt Nam” (do KieuTien Nguyen gửi cho ds16group@yahoogroups.com)

(11): YouTube: “The Fall of Saigon, The rise of evil”

http://vietnamsaigon.multiply.com/journal/item/517/517

(11B): Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979.
Phạm Thị Hoài dịch. (Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten“, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)

(12): Lm Phan Văn Lợi Nghĩ gì về 30-4-2015?

Lm Phan Văn Lợi phát biểu trên đài OMV4TV ngày 30-04-2015

http://www.freevietnews.com/audio2/index.php?subaction=showfull&id=1430430589&archive=&start_from=&ucat=&

(13): Sách mới “A reporter’s love for a wounded people”, tác giả Uwe Siemon-Netto là một phóng viên người Đức, đã sống tại Nam VN 5 năm trong thời chiến tranh trước 1975.

Nguồn: lienthicao@yahoo.com gửi cho ds16group ngày May 4, 2015

(14): Bài “Nhạc sĩ Tô Hải: Nhân 30 tháng 4, tôi tuyên bố” (Nguồn: email của thunguyen020845@yahoo.com.au gửi cho ds16group ngày May 4, 2015.

(15): Black April 1975 – A History Lesson (on the Vietnam War 1954-1975) by Professor Vũ Quý Kỳ, posted on website: http://www.freevietnews.com/audio2/index.php?subaction=showfull&id=1429931260&archive=&start_from=&ucat=&

Tôi Đi Dự Hội Ngộ 40 Năm ĐS 16

07 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, ĐS16

≈ Leave a comment

Tags

hội ngộ

Tôi đi dự Hội Ngộ 40 Năm ĐS16

Về Nguồn

07 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Chính Trị, Lộc Vũ

≈ Leave a comment

Tags

Bonjour Vietnam, về nguồn

Về Nguồn

* Vũ Ngọc Lộc / ĐS16

Trong dịp đầu năm Bính Tuất (2006), ca khúc “Bonjour Vietnam” (Thương Chào Việt Nam) được gửi đến địa chỉ điện thư (email address) của tôi, kèm theo địa chỉ trang nhà của bài hát http://www.visualgui.com/motion/BonjourVietnam.html

với lời lẽ như sau: “Mến gởi những hình ảnh đẹp về quê hương cùng với ca khúc Bonjour Vietnam do ca sĩ Phạm Quỳnh Anh trình bầy, một ca sĩ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Bỉ. Bài hát thật ý nghĩa”.

Bài hát tiếng Pháp, nỗi lòng người Việt:

Đây là một bài hát bằng tiếng Pháp của ca nhạc sĩ nổi tiếng ngườI Pháp Marc Lavoine, nhưng lại do một giọng ca nữ ngườI Việt mới 19 tuổi trình bầy. Nghe xong bài hát và xem các hình ảnh đẹp về quê hương kèm theo để minh họa cho nội dung của bài hát, tôi xúc động đến ứa lệ vì thổn thức với nỗi lòng hoài vọng cố hương của người hát, một giọng ca tươi trẻ, thanh thoát nhưng rất trầm ấm và truyền cảm. Tuy giọng ca không mang sắc thái và âm hưởng của giọng nói Việt Nam, nhưng khi cô hát lên tiếng “Vietnam” trong lời ca “Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam” (Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam), tôi nhận được ngay đó là giọng nói của người Việt thuần túy với giọng ca trìu mến về quê hương của mình.

Nỗi Niềm Hoài Vọng Cố Hương:

Bài hát diễn tả tâm trạng hoài vọng cố hương Việt Nam của một người trẻ mang trong huyết quản dòng máu Việt Nam (… mà tôi đã đeo mang tự thưở chào đời … đã cưu mang tôi tự thuở chào đời …). Vì được sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc, nên cô chỉ biết về quê hương VN qua hình ảnh chiến tranh trên phim ảnh. Vì thế người trẻ này muốn tìm hiểu về quê hương mà cô đọc được trong sách báo về những hình ảnh thân thương như làn da, mái tóc và đôi mắt xếch của mình, cũng như cuộc sống lam lủ của người dân trên cánh đồng ruộng, những phiên chợ nổi trên sông với những chiếc thuyền tam bản bằng gỗ, những chùa chiền, tượng Phật, những đền đài, lăng tẩm, những căn nhà và con đường quê hương hoang tàn dổ nát trong chiến tranh … NgườI trẻ này mong muốn và hứa sẽ trở về Việt Nam: “Về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha”, để chào hỏi Viêt Nam, chào hỏi hồn Việt mà cô coi là “hồn tôi” tức hồn mình.

Ước Nguyện Về Nguồn:

Vì niềm xúc cảm do bài hát gây ra trong tâm tưởng tôi, tôi đã chuyển gửi bài hát này tới các con cháu, anh chị em tôi và cả bạn bè quen biết. Tôi cũng thu vào đĩa để nghe đi nghe lại trên đường  lái xe đi làm và từ sở về nhà. Càng nghe tôi càng cảm thấy thấm thía tình tự dân tộc và cảm thông sâu xa với nỗi lòng nhớ nhung quê cha đất tổ của những con dân Việt đang tha hương trên toàn thế giới. Họ cũng như tôi đều mong có dịp về thăm quê nhà để nhìn lại tận mắt những di tích còn sót lại sau cuộc chiến, để biết cuộc sống hiện nay của con dân Việt ở lại quê nhà sau 30 năm chấm dứt chiến tranh. Hơn thế nữa, họ muốn về nguồn để tìm lại nguồn gốc của mình, tìm lại hồn Việt mà cũng chính là hồn mình mà cô gái Việt đã cảm nhận qua bài hát Bonjour Vietnam nói trên.

Nào chúng ta hãy về nguồn để sống lại những đặc tính của dân tộc đã được hun đúc và lưu truyền hơn bống ngàn năm văn hiến.

  • Về với truyền thống tương thân kết đoàn của dân tộc mà Lạc Long Quân đã nhắn nhủ Âu Cơ khi chia tay: “Dù lên rừng, xuống biển nhưng khi có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau”. Đó chính là Hiến Chương Lập Quốc đã giữ cho dòng giống Lạc Hồng trường tồn trong dòng lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dù bị nô lệ phương Bắc hơn một ngàn năm và ngót một trăm nô lệ phương Tây.
  • Về với đạo nghĩa dân tộc: thể hiện bằng luân thường đạo lý qua lối cư xử đầy tình ngườI và tôn tri trật tự: Nghĩa, hiếu, lễ, đễ, tín.

Nghĩa giữa vợ chồng,

Hiếu với cha mẹ,

Lễ với ngườI trên,

Đễ (nhường nhịn) giữa anh em,

Tín với bạn bè.

(Theo Kinh Điển Việt Nam của triết gia Kim Định)

Đạo nghĩa dân tộc còn biểu lộ qua lòng nhân ái và hiếu sinh ngay cả với quân thù:

Lấy chí nhân mà thay cường bạo,

Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn.

(Trích bài Bình Ngô ĐạI Cáo của Nguyễn TrảI)

  • Về với tinh thần Hội Nghị Diên Hồng mà toàn dân hội nghị, nhất trí một lòng đánh đuổi quân Mông Cổ ba lần ra khỏi bờ cõi đất Việt dướI thờI nhà Trần. Tinh thần Diên Hồng

là tinh thần dân chủ, với ý dân là ý Trời, và “thuận thiên gỉa tồn, nghịch thiên giả vong”.

  • Về với hiếu đạo của dân tộc thể hiện trong ca dao tục ngữ dân gian:

Con ngườI có tổ có tông,

Như cây có cội như sông có nguồn.

hoặc:

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu

Người ta nguồn gốc từ đâu

Có cha có mẹ rồi sau có mình.

Hiếu với ông bà tổ tiên không những là tưởng nhớ, cúng giỗ gia tiên và quốc tổ mà còn

tiếp tục duy trì và phát triển các di sản do tổ tiên để lại như bảo tồn gian san gấm vóc, phát huy nền Việt Đạo. Việt Đạo là đạo sống của Việt tộc đã được hun đúc và tôi luyện trong dòng sinh mệnh của dân tộc, và đã chứng tỏ khả năng mang lại an vui thái hòa cho con dân Việt. Nền Việt Đạo này được lưu lạI bằng những hình vẽ trên các trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ, và tiềm ẩn trong huyền sử và các truyện huyền thọai dân tộc được ghi lại trong các sách như Lĩnh Nam Trích Quái và Việt Điện U Linh. Trống đồng và huyền sử, huyền thọai dân tộc tiềm ẩn triết lý Tam Tài và triết lý Thái Hòa của Việt tộc.

Tam Tài là Thiên-Địa-Nhân. Đó là triết lý diễn tả mối tương quan giữa con người vớI TrờI và Đất. Con ngườI là kết tinh của Trời với Đất; con ngườI đứng giữa Trời Đất, đầu đội Trời, chân đạp đất; con người được trờI che và đất chở. Triết lý Tam Tài bao hàm nhân chủ tính vì đặt trọng tâm vào con ngườI, và được thể hiện rõ nét trong bài vịnh “Tam Tài” của nhà cách mạng Trần Cao Vân:

Trời Đất sinh Ta có ý không?

Chưa sinh Trời Đất có Ta trong

Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh

Trời Đất in Ta một chữ đồng

Đất nứt, Ta ra, Trời chuyển động

Ta thay Trời mở Đất mênh mông

Trời che, Đất chở, Ta thong thả

Trời, Đất, Ta đây đủ hóa công.

Triết lý Tam Tài dẫn tới triết lý Thái Hòa: con người do Trời Đất sinh ra, nên được TrờI che và Đất chở để sống an vui thái hòa vì rằng con ngườI tự bản chất có tự do và bình đẳng vì là đồng bào (cùng một bọc trăm trứng), và sống hòa hợp với thiên nhiên (Đất), sống thuận theo đạo lý của Trời (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong), và sống hài hòa với nhau trong tình người (xem sách “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” và “Văn Lang Vũ Bộ” của triết gia Kim Định).

  • Về với tình tự dân tộc: thắm đượm lòng bao dung và hòa hợp giữa người với người.

Có đi nhiều nơi, sống ở nhiều nước, sau bao năm xa quê hương, con dân Việt ở hải ngoại mới cảm thấy nỗi niềm hoài vọng cố hương:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

(Ca dao)

Đến nay đếm lại thời gian

Tha hương lưu lạc đã ngoài ba mươi

Ba mươi năm ở xứ người

Mà sao lòng vẫn nhớ hoài cố hương

Thắp hương khẩn nguyện Ơn Trời

Cho quê hương sớn an vui thái hòa

Cho tôi sớm được trở về

Về thăm Quê Mẹ, thăm nhà Việt Nam.

(Trích bài thơ “Việt Nam – Quê Hương Tôi” của Hồng Ân)

Về nhà vì không đâu bằng nhà:

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Trâu ta ăn cỏ đồng ta,

Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ quê.

(Ca dao)

Về nhà để sống tình yêu thương đùm bọc của người trong một nước:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

(Ca dao)

            –   Về với truyền thống xã thôn:

Truyền thống văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa đã được xuất phát và bảo tồn trong thôn xã. Tiêu biểu cho xã thôn là cái đình làng. Đình làng là nơi dân làng hội họp bầu ra các hương chức cai quản việc làng, là nơi bàn công việc làng nước, nơi cấp phát công điền công thổ cho dân làng, là nơi cúng Thần Hoàng, nơi tổ chức các hội hè đình đám. Xem thế, đình làng là trung tâm sinh hoạt của xã thôn. Xã thôn là một cộng đồng tương thân tương trợ, gắn bó với nhau bằng tình làng xóm. Làng xã xét như cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, bao bọc dân làng trong tình nghĩa đồng bào trên căn bản tự do, bình đẳng và bình sản. Vì vậy, làng xã Viêt Nam xưa là chế độ tạo được nhiều hạnh phúc cho con ngườI hơn cả (xem “Triết lý Cái Đình” và “Văn Lang Vũ Bộ” của Kim Định).

Ca dao dân gian đã diễn tả trọn vẹn tâm tình người Việt đối với xóm làng:

Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ

Đất nước người, dù có: như không!

Có ai về tới Đàng Trong

Nhắn nhe bố đỏ liệu trông đường về.

Vui là vui gượng qua thì

Xóm làng xa vắng, vui gì mà vui.

Nhà quê: có họ, có hàng

Có làng, có xóm, lỡ làng có nhau.

(Ca dao)

Về nguồn để cùng nhau múa điệu Văn Lang Vũ Bộ mà tổ tiên Lạc Việt đã khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ xa xưa, để sống đời an vi bên đồng ruộng, và ngủ yên trong chiếc nôi Lạc Việt:

Em sẽ múa điệu Văn Lang Vũ Bộ

Nhịp trống đồng gọi màu nắng ca dao

Đời an vi bên ruộng lúa rì rào

Ru em ngủ trong lòng nôi Lạc Việt.

(trích bài thơ “Cõi Bình An” của Ngọc Danh)

Về để nối lại nhịp cầu Nam-Bắc, để nối lại lòng người:

Để tôi nối lại bờ sông Bến Hải

Nối lòng ngườI vời vợi các xa nhau.

(Trích bài thơ “Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi” của Trần Trung Đạo)

Về để tìm lại nguồn gốc của mình, để sống trọn vẹn là ngườI Việt Nam thuần túy:

Nay về thăm lại quê tôi

Cố tìm cho được mảnh đời đã qua

Cuối cùng tôi đã nhận ra

Tự hào hãnh diện mình là Việt Nam.

(Trích bài thơ “Về Lại Quê Nhà” của Hồng Ân)

Về để xây dựng một nước Việt Nam phú cường ở vùng Đông Nam Á:

Việt Nam, dòng giống Tiên Rồng

Việt Nam, truyền thống oai hùng đấu tranh

Việt Nam, tài trí giỏi giang

Việt Nam, mãi mãi trường tồn vinh quang

Việt Nam, nước VIỆT phương NAM

Việt Nam, siêu VIỆT trong vùng Đông NAM.

(Trích bài thơ “Việt Nam – Con Rồng Cháu Tiên“ của Hồng Ân)

Về Nguồn: Từ Ươc Mơ Đến Hiện Thực:

Người Việt Nam xa quê hương ai mà chẳng mong ước được về quê để sống lại những tình tự dân tộc và để xây dựng một nước Việt Nam phú cường. Nhưng trên thực tế, con dân Việt ở hải ngoại về bằng cách nào đây?

Nghìn trùng xa cách:

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nước nhà thống nhất, nhưng hơn một triệu người lại bỏ nước ra đi, lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Thế giớI biết đến ngườI Việt qua hình ảnh can trường của những người tỵ nạn vượt biển mà họ gọi là “Boat people”. Người Việt Nam hải ngoại nay được coi là một loại “Do Thái da vàng”. Sau 30 năm lưu vong, một thế hệ trẻ Việt Nam đã lớn lên ở hải ngoại. Họ cũng thắc mắc về quê hương, về nguồn gốc của cha ông mình. Họ cũng ước nguyện về nguồn. Nhưng về như thế nào khi lòng người Việt bị phân cách, không phải bởI con sông Bến Hải, cũng không phải bởi đại dương ngàn trùng xa cách, mà chính bởi đại dương ý thức hệ đối nghịch Quốc – Cộng.

Về nguồn trên căn bản hồn Việt:

Làm sao bắc được nhịp cầu cảm thông qua một đại dương cách biệt về ý thức hệ bao la như vậy. Chắc chỉ còn cách là về nguồn dân tộc. NgườI Việt trong nước và Việt kiều hải ngoại, cả hai cùng “về nguồn”: về cội nguồn dân tộc để thực sự thống nhất lòng ngườI, thống nhất dân tộc Việt trong tâm trí. Ước nguyện này có thể thực hiện được không? Hẳn là được vì con dân Việt tộc có cùng một mẫu số chung là hồn Việt, không những thể hiện qua làn da, màu tóc, vóc dáng Việt Nam, dòng máu Lạc Hồng, mà sâu xa hơn nữa là tâm hồn Việt Nam mà chúng ta gọi là hồn nước, hồn thiêng sông núi, là “hồn nhất trí siêu tuyệt đã từng bao phen phất cờ chống Bắc xâm, mở đường Nam Tiến, đoàn tụ tâm trí muôn con dân trong nước như một linh hồn, nhờ đó mà nước tồn tại đến ngày nay” (trích cuốn “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” của Kim Định, Saigon, 1967).

Về nguồn vì tương lại của Việt tộc:

Hiện nay vì hoàn cảnh đất nước, vì vận nước đổi thay mà con dân Việt phảI chia ly cách biệt, kẻ ở người đi. Nhưng vì vận mệnh của dân tộc, vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau, ngườI Việt trong và ngoài nước cùng về nguồn dân tộc để thống nhất dân tộc Việt, để chấn hưng đất nước còn quá nghèn nàn lạc hậu so với đà tiến bột vượt bực về kinh tế và kỹ thuật của các nước láng giềng trong vùng Đông Nam Á, để hàn gắn những vết thương do cuộc chiến để lại về các mặt giáo dục, văn hóa và xã hội: để không còn thấy cảnh những thiếu nữ Việt Nam hiền lành chất phác bị đem bán như nô lệ sang các nước lân bang dưới hình thức cô dâu, công nhân; để phục hồi tinh thần và lẽ sống cho giới trẻ Viêt Nam đang lạc hướng trong các tệ nạn nghiện ngập ma túy, phóng đãng tình dục gây ra bệnh Aids tràn lan; để tránh cảnh đầu tư ngoại quốc bóc lột sức lao động của công nhân Việt Nam; để tạo cho mỗi con dân Việt có cơ hôi học hành và làm việc theo khả năng và sở nguyện; để phục hồi phẩm giá con người trong nền văn hóa nhân bản tâm linh với luân thường đạo lý và hiếu đạo của dân tộc Việt. Về nguồn để đừng bao giờ tái diễn cảnh vượt biên hãi hùng trên biển cả: con dân Việt bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, quẳng xuống biển, và đốt phá tầu để phi tang. Chúng ta hãy nghe những vần thơ nghẹn ngào, đau thương, tủi nhục và uất ức của hai em gái Việt mất cha mẹ và anh chị em trên đường vượt biển tìm tự do:

Bé Thùy Linh 9 tuổi kể lại rằng:

….

Chúng phá nát chiếc ghe bé nhỏ

rồi bỏ đi sau khi đắc thắng cười

Mẹ khóc, ôm xác ba nóng hổi

Em rẩy run, nức nở, kinh hoàng

Sao ba lại bỏ em với mẹ.

….

Từ đó,

Em không còn cả ba và mẹ

Nhìn bạn bè mà thèm lắm thầy ơi!

Có nhiều đêm em hỏi ông trời

Mẹ trên đó có nhớ em không hở??

Thầy cho em tạm dừng, dang dở

Nhớ mẹ rồI, em đang khóc thầy ơi!

từ hôm nay và suốt cuộc đời

em sẽ chẵng còn ba mẹ nữa …!

(Trích bài thơ “Bài Văn Về Mẹ” của Thùy Linh & Vi Kha

từ trang nhà http://www.nolaviet.com/me/thotlvk.htm )

Bé gái Việt Nam mới chừng lên sáu lên năm kể lại rằng:

….

Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết

Cha mẹ em đã chết đói trên tầu

chị của em hải tặc bắt đi

Sóng cuốn mất ngườI em trai một tuổI

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Ðã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại
….

Nơi cha chết không tiếng kèn đưa tiễn

Nơi tiếng chị rên

Nghe buốt cả thịt da

Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua

Nơi em trai ở lại

Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.

(Trích bài thơ “Em Bé Việt Nam và Viên Sỏi” của Trần Trung Đạo

từ gia trang http://www.trantrungdao.com/me/ttdthome30.htm)

Về Nguồn: Niềm Tin và Hy Vọng

Về nguồn để chấn hưng đất nước như trên là cả một công trình vá biển lấp trời mà chỉ cả hai bên hợp tâm hợp lực trên nền tảng tình dân tộc mới mong có thể thực hiện được. Chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng như vậy vì “khi nguồn sức mạnh của ý chí quật cường và lương tri tổng hợp của dân tộc được khơi dậy sẽ không có một thế lực chính trị nào dù bạo ngược tới đâu có thể cưỡng lại được.” (trích bút ký “Tôi Phải Sống”, trang 602, của Lm. Nguyễn Hữu Lễ).

Môt bằng chứng lịch sử là dân tộc Do Thái, sau bao ngàn năm lưu lạc mất nước, thế mà họ vẫn tái lập được quốc gia Do Thái từ năm 1948 nhờ tinh thần quốc gia được gợI lên trong cuốn sách “Quốc Gia Do Thái” của một người Do Thái lưu vong. Về nguồn là con đường dài đầy chông gai mạo hiểm, nhưng Nguyễn Bá Học đã nhắc nhở con dân Việt đừng ngại khổ sợ khó vì “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại nhúi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc không ai làm nổi, đó là nhờ có gan mạo hiễm”.

Nếu con dân Việt chúng ta không ngại núi e sông, không sợ mạo hiểm, chúng ta có thể về nguồn dân tộc được vì hiện nay chúng ta có sẵn những điều kiện thuận lợi cơ bản sau đây.

  • Việt Nam ta có sẵn di sản tinh thần của tổ tiên để lại. Đó là cơ sở cho việc thống nhất dân tộc. Nhưng di sản đó hầu hết lại là sách không lời, là kinh vô tự, đã có quá lâu đời và bị vùi lấp trong các làn sóng phế hưng của lịch sử chống ngoại xâm. Nên rất ít người nhận thức được và đa số tưởng như không có. Như vậy thì nay chỉ còn vấn đề là khai quật di sản đó lên và dùng những khoa học nghiên cứu tân tiến như khảo cổ, uyên tâm (tâm lý miền sâu) và cơ cấu luận để “đọc ra” được nội dung của các kinh vô tự đó, và làm cho hợp với cảm quan con ngườI thời đại về nội dung cũng như cách diễn đạt nền đạo lý của tổ tiên dựa trên nhân chủ tâm linh này. (xem cuốn “Hưng Việt” của Kim Định)
  • May mắn thay, triết gia Kim Định đã tiên phong khai phá con đường về nguồn dân tộc từ hơn năm chục năm nay, ngay từ khi còn ở quê nhà, bằng công trình khảo cứu và biện tập các bộ sách về nguồn như Việt Nho, Việt Triết và triết lý An Vi, tổng cộng gồm 34 quyền. Triết gia tin tưởng là con đường phục hưng Việt Đạo này sẽ “đặt nền tảng sâu xa cho sự thống nhất của dân tộc và có khả thể đem lại hạnh phúc đích thực cho con người”

(Phần kết luận trong cuốn sách “Hưng Việt” của Kim Định).

  • Ngoài bộ sách về nguồn trên, triết gia Kim định cũng đã cổ xúy và thành lập phong trào nghiên cứu và phổ biến Việt Nho, Việt Triết và triết lý An Vi tại nhiều nơi có đông người Việt định cư như tại Mỹ, Canada, Úc Châu, Anh, Pháp, Đức v.v.
  • Ngoài công trình đóng góp trên của triết gia Kim Định, trên mạng lưới điện toán toàn cầu (Internet), người ta cũng tìm thấy nhiều bài nghiên cứu về triết lý, tư tưởng, văn hóa, lịch sử, văn chương và nghệ thuật Việt Nam trên các gia trang (websites) như Mạng Lưới Dũng Lạc (dunglac.net), Tư Tưởng Việt (www.dunglac.net/tutuongviet), VietCatholic.net, Vietnam4all.net, Viện Triết Đạo (http://members.cox.net/vientrietdao),

Viện Việt Học (www.viethoc.net), Việt Nam Net (www.vn.net), Du Ca Việt Nam (www.ducavn.com), Thư Viện Việt Nam (www.thuvienvietnam.com), Việt Nam Thư Quán (http://vnthuquan.net), Việt Nam Style (http://vn-style.com), v.v.

  • Vấn đề còn lại là chúng ta tiếp tục công trình phục hưng nền Việt Đạo bằng cách thu thập và hệ thống hóa di sản tinh thần của tổ tiên thành bộ kinh điển Việt tộc mà triết gia Kim Định đề nghị đặt tên là Ngũ Kinh Việt Tộc: Kinh Hùng, Kinh Ước, Kinh Ngữ, Kinh Nghĩa và Kinh Lạc.

Kinh Hùng: gồm 15 truyện đầu trong quyển “Lĩnh Nam Trích Quái” do Trần Thế Pháp thâu thập vào thế kỷ 15 và sau đó Vũ Quỳnh hiệu đính vào năm 1492. Các truyện huyền thoạI này nói về bản chất nước Văn Lang vào giai đoạn nguyên sơ của nước nhà.

Kinh Ước: sẽ mô thức hóa những nét đặc trưng của văn hóa Việt tộc là nét song trùng hay là lưỡng hợp tính (dual unit), và được biểu hiện bằng vật biểu “Tiên Rồng” mà sau này Nho Giáo gọi là “âm dương” làm nên kinh dịch. Đó là nền tảng của văn hóa Việt Nho. Huyền thoại nói Hùng Vương có “sách ước” thì chính là chỉ kinh dịch đặt nền tảng trên âm dương mà khởi đầu là nét song trùng hay lưỡng hợp. Vì vậy toàn thể Kinh Ước có thể tóm vào ba chữ Tiên-Rồng-Hùng, còn kinh dịch gọi là âm-dương-hòa.

Kinh Ngữ: là bản thâu tóm các lời tự phát của dân gian gồm ca dao, tục ngữ, đồng giao, phương ngôn. Đó là văn hóa của dân Việt.

Kinh Nghĩa: bao gồm đạo lý chung của Việt tộc về cách đối xử giữa người với người trên căn bản tình người, và được thể hiện qua ngũ thường là nghĩa, hiếu, lễ, đễ, tín và các lễ nghĩa khác như quan, hôn, tang, tế.

Kinh Lạc: bao gồm nền ca vũ nhạc phong phú của dân Lạc Việt để diễn ta những mốI cảm xúc như vui, thương, mừng mà trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ chỉ ghi lại được một phần nếp sống an lạc của dân Việt xưa.

(xem bài “Kinh Điển Việt Nam” của triết gia Kim Định).

  • Song song với công trình biên khảo lâu dài này, chúng ta cần truyền bá truyền thống văn hóa dân tộc cho thế hệ con em từ trong gia đình cho đến các trung tâm Việt Ngữ, các trung tâm sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, các phong trào và đoàn thể trẻ như Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể, hướng đạo Việt Nam trên toàn thế giới. Càng nhiều người Việt tìm hiểu và đóng góp vào bộ kinh Việt tộc này, ý thức về nguồn càng gia tăng và chúng ta càng có triển vọng về nguồn để phục hưng Việt Đạo, đem lại thống nhất dân tộc, và mưu cầu hạnh phúc đích thực cho con dân Việt.

Giờ đây chúng ta hãy lắng nghe lời Mẹ Việt Nam tha thiết mời gọi con dân Việt trở về với cội nguồn của Việt tộc để yêu Mẹ, thương nhau:

“Lũ con lạc lối đường xa

Có con nào nhớ mẹ ta thì về”

….

“Về đây xây đắp mối tình

Mối tình Việt Nam

Yêu mẹ già

Thương mẹ ta

Đàn con nhỏ

Nhớ yêu nhau

Đàn con nhỏ

Nhớ thương nhau.”

(trích trường ca “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy”)

Để đáp lại lời Mẹ gọi về, mời các bạn cùng với tôi vào trang nhà của ca khúc Bonjour Vietnam

http://www.visualgui.com/motion/BonjourVietnam.html để cùng với người con gái Việt, Phạm Quỳnh Anh, cất tiếng hát về nguồn: “Về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha”, và để chào hỏi hồn Việt Nam.

Bonjour Vietnam

Sáng tác: Marc Lavoine

Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née.
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je ne sais de toi que des images de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère …
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam .
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui me portent depuis que je suis née.
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les marchés flottants et les sampans de bois.
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère …
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher mon âme, mes racines, ma terre…
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).

 

 

Thương Chào Việt Nam

Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi
mà tôi đã đeo mang tự thuở chào đời.
Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi,
Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thốt.
Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola (*), [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người.
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam.
Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang tôi tự thuở chào đời.

Hãy kể tôi nghe về căn nhà, con đường, hãy kể tôi nghe những điều chưa biết,
Về những phiên chợ nổi trên sông và những con thuyền tam bản bằng gỗ.
Tôi chỉ biết quê hương qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi.
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam.
Chào hỏi giùm những người cha của tôi, những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá,
Chào hỏi giùm những bà mẹ của tôi, những phụ nữ đang cong lưng trên ruộng lúa,
Trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh,
tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam (2 lần)

(Bản dịch của anh Đào Hùng – Pháp – trên diễn đàn của Silicon Band)

(*) Francis Ford Coppola là đạo diễn Mỹ thực hiện bộ phim kinh điển về chiến tranh Việt Nam Apocalypse Now (Ngày Tận Thế).

 

Làm Sao Để Tạo Hạnh Phúc Gia Đình

07 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Gia Đình, Lộc Vũ

≈ Leave a comment

Tags

gia đình, hạnh phúc

Làm sao để tạo hạnh phúc gia đình

Hạnh phúc gia đình được tạo lập trên các nền tảng sau:

  1. Tình yêu chân thật: yêu thương nhau bằng cách chấp nhận cả ưu lẫn khuyết điểm của nhau và hiến dâng tất cả cho nhau, để hai trở nên một.
  1. Các đặc tính của tình yêu chân thật:

(1) – Hiến mình cho người mình yêu, như Chúa Kitô đã hiến mình cho nhân loại (x. Ephesians 5:25).

(2) – Hy sinh cho người mình yêu, vì tình yêu mà không có hy sinh là tình yêu giả dối và hy sinh mà không có tình yêu là hy sinh thừa thãi.

(3) – Cảm thông và nhường nhịn nhau khi tính tình và cách cư xử khác nhau, vì      “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, trông cậy tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).

(4) – Nhẫn nại, kiên nhẫn và ngay cả chấp nhận nhẫn nhục để tạo hòa khí trong

gia đình (đây là ý nghĩa của chiếc nhẫn cưới mà hai người trao cho nhau).

(5) – Tương kính và phục tùng nhau: người chồng phải yêu vợ như yêu chính bản

thân mình; còn vợ phải phục tùng và kính nể chồng (Ephesians 5:28,33).

(6) – Can đảm nhận lỗi và xin tha thứ lỗi lầm cũng như có lòng bao dung tha thứ                cho người phối ngẫu, như Thánh Phaolô đã tha thiết mời gọi: “Anh em hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”.(Col 3,13).

(7) – Biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhau mà không gạt bỏ ý kiến người

kia một cách độc đóan và bắt người phối ngẫu phải theo ý kiến riêng của mình.

(8) – Sống đúng cương vị của mình trong gia đình: là con, là cháu, là anh chị em.

(9) – Sống hòa hợp với cả hai bên nội ngọai.

(10) – Coi gia đình của vợ cũng như gia đình mình.

  1. Hiệp nhất: điều kiện tất yếu để gia đình hòa hợp và đầm ấm

– Hiệp nhất không nhất thiết cả hai vợ chồng phải đồng ý với nhau về mọi vấn đề

trong cuộc sống hôn nhân.

– Hiệp nhất chủ yếu là sự đồng thuận của cả hai vợ chồng về các vấn đề quan

trọng trong cuộc sống lứa đôi như tổ chức các sinh họat trong gia đình, ngân sách

chi tiêu, giáo dục con cái, công ăn việc làm v.v.

– Đông và Tây đều nhất trí về vấn đề đồng thuận tuy cách diễn tả khác nhau:

Đông phương: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn.”

            “Those couples (husband and wife), who are in harmony, can completely

             drain the whole Pacific Ocean.”

Tây phương: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà nhìn chung một hướng”.

            “Love does not consist of gazing at each other, but in looking outward

             together in the same direction.”

Nhưng muốn đồng thuận, vợ chồng phải cùng nhau thảo luận các ý kiến

dị biệt và thành tâm chấp nhận ý kiến nào hợp lý hơn cho một vấn đề khúc mắc

gây tranh cãi.

Sọan: Lộc Vũ

Đặc San Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang

06 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang

≈ Leave a comment

Tags

tưởng nhớ, vinh quang, đặc san

DacSan TuongNho (email)

Con Người Sống Để Chết và Chết Để Sống

05 Thursday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chết để sống, con người, sống để chết

Con Người Sống Để Chết và Chết Để Sống

* Bài suy niệm của Lộc Vũ

Trong Thánh Lễ Đưa Chân cho ông Antôn Vinh Quang Trịnh Văn Cả lúc 7 giờ tối ngày 10-4-2013 tại nhà thờ St. Barbara, cha giám quản Vũ Ngọc Long đã giảng một bài về sự sống và sự chết rất đáng cho chúng ta suy gẫm. Cha nói rằng “Con người sống để chết và chết để sống” và viện dẫn các câu kinh thánh để minh chứng cho câu nói trên. Bài giảng của cha đã làm tôi suy gẫm rất nhiều về sự sống và sự chết của con người, và cũng làm cho tang gia cảm thấy được an ủi và hy vọng vào lòng thương xót của Chúa. Vì thế, trong bài suy niệm này, người viết cố nhớ lại ý chính trong bài giảng của cha để chia sẻ với anh chị em và đồng thời suy niệm thêm về sự sống và sự chết của con người.

Con người sống để chết:

Theo luật tuần hòan của kiếp nhân sinh, không ai tránh được định luật của Tạo Hóa: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Con người được sinh ra, dù có sống đến 100 tuổi rồi cũng phải chết. Người ta thường nói “Sinh ký, tử quy” hay “sống gửi, thác về”, có nghĩa là sống chỉ là tạm bợ và chết là về với Đấng đã tạo dựng nên mình. Đời sống của mỗi người là một cuộc hành trình về Nhà Cha trên Trời. Nên điểm đến cuối cùng của hành trình cuộc sống này là cái chết. Chết là một mất mát nhưng là một mất mát cần thiết. Nếu con người không chết đi thì làm sao có thể về đời sau, về hưởng cõi phúc thật được. Do đó, chết là một điều kiện cần thiết để được về Nhà Cha trên Trời.

Cái chết, nếu nhìn bằng con mắt thế gian, là sự mất mát và đau buồn cho tang gia vì người thân đã vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại . Nhưng nếu nhìn bằng con mắt đức tin, cái chết là việc làm của Thiên Chúa; mà đã là do ý Chúa thì chúng ta phải xin vâng mà thôi. Theo đức tin Công Giáo, Thiên Chúa quan phòng và an bài mọi sự, kể cả sự sống và sự chết. Ngài cho ai phải chết lúc nào, cách nào là do quyền năng và theo ý của Ngài. Chúng ta không thể biết trước, cũng không cưỡng lại được điều mà Thiên Chúa đã an bài (x. Lc 12:35-40). Vì thế, chúng ta không nên đau buồn, than trách mà chỉ biết xin vâng theo thánh ý Chúa mà thôi vì theo sách Giảng Viên, “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: một thời để chào đời, một thời để lỉa đời” (Gv 3:1-11).

Vấn đề đặt ra ở đây là thế nào rồi chúng ta cũng phải chết, vậy chúng ta phải sống thế nào để khi chết sẽ được chết lành, để được về Nhà Cha trên Trời. Khi còn sống, hãy nghĩ đến cái chết để sống tốt đẹp hơn. Chuẩn bị cho cái chết của mình bằng cách sống một đời sống tốt đẹp, ăn ngay ở lành, mến Chúa yêu người là một việc đầu tư khôn ngoan vào Nước Trời.

Như vậy, con người sống để chết, nhưng con người cũng chết để sống.

Con người chết để sống:

Khi đọc Kinh Tin Kính, mỗi người tín hữu đều xác tín rằng xác người ta ngày sau sẽ sống lại và tin vào sự sống đời sau. Tín điều này nhắc nhở chúng ta rằng đến ngày phán xét chung, Chúa Kitô sẽ quang lâm lần nữa và phán xét kẻ sống và kẻ chết, kẻ lành lên Thiên Đàng, kẻ dữ sa hỏa ngục đời đời. Ngòai ra, sau khi chết, mỗi người cũng phải chịu cuộc phán xét riêng. Họ sẽ đến tòa phán xét trước mặt Chúa, để tùy theo công hoặc tội mà họ đã làm khi còn tại thế, họ sẽ được Chúa thưởng công hoặc bị luận phạt (x. Rm 14:7-9,10b-12). Vây để đuợc sống đời đời trên thiên đàng với Chúa, chúng ta phải được chết lành, tức là chết trong ân sủng của Chúa. Để được chết lành, chúng ta phải sống đẹp lòng Thiên Chúa khi còn ở trần gian (x. 2 Cr 5:1,6-7,9-10). Trong phúc âm theo thánh Gioan, Chúa phán “Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12:23-28). Vậy những kẻ phục vụ Chúa Kitô và theo Chúa Kitô là những người được Chúa Cha quý trọng và sẽ cho hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời vậy.

Cho đi là nhận lãnh:

Trong đọan cuối của bài giảng, cha Long đã nhắc đến câu nói: “Hạnh phúc không phải là những gì mình có, nhưng chính là những gì mình cho đi” để nhắc đến các việc làm vị tha bác ái của ông Antôn khi còn tại thế. Ông Antôn mặc dầu phải vất vả với cuộc sống, phải lo cho gia đình, thế mà ông đã hy sinh đóng góp rất nhiều mồ hôi nước mắt và của cải vật chất cho công đòan và cho cộng đồng. Xin cho những hy sinh, những việc lành, bác ái của ông trở thành những bặc thang đưa ông về thiên đàng hưởng phúc đời đời.

Đời sống vị tha và bác ái của ông Antôn khiến tôi liên tưởng tới lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Saviê: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Nguyện xin Thiên Chúa từ nhân thương ban cho ông Antôn và những ai lòng đầy thiện chí: ơn an bình ở đời này và được vui sống muôn đời ở đời sau. Amen.

← Older posts
Newer posts →

Categories

  • Ẩm Thực
  • Chính Trị
  • Gia Đình
  • Giáo Dục
  • Giáo Huấn GHCG
  • Giải Trí
  • Hôn Nhân
  • HBT/TNTTW
  • Hiểu và Sống Tin Mừng
  • Kỹ Thuật
  • Lộc Vũ
  • Linh Tinh
  • Nhạc
  • PT Cursillo-BTU
  • QGHC
  • Sống Khỏe
  • Suy Niệm
  • Tâm Linh
  • Tôn Giáo
  • Thần Học
  • Thơ
  • Tranh Ảnh
  • Triết Lý
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • Uncategorized
  • Văn Hóa
  • Điều Cần Biết
  • ĐS16

Blog at WordPress.com.

  • Subscribe Subscribed
    • locnvu.blog
    • Already have a WordPress.com account? Log in now.
    • locnvu.blog
    • Subscribe Subscribed
    • Sign up
    • Log in
    • Report this content
    • View site in Reader
    • Manage subscriptions
    • Collapse this bar