• About
  • Tâm Linh
    • Suy Niệm
    • Hiểu và Sống Tin Mừng
    • Giáo Huấn GHCG
    • Thần Học
  • Hôn Nhân & Gia Đình
    • Hôn Nhân
    • Gia Đình
  • Sống Khỏe
  • Giải Trí
  • Thơ
  • Nhạc
  • Tranh Ảnh
  • Điều Cần Biết
  • Xã Hội
    • Tôn Giáo
    • Chính Trị
    • Văn Hóa
    • Giáo Dục
    • Kinh Tế
    • Kỹ Thuật
    • Triết Lý
    • Ẩm Thực
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • ĐS16
  • QGHC
  • HBT/TNTTW
  • Linh Tinh

locnvu.blog

~ This site is belonged to Loc Vu

locnvu.blog

Category Archives: Suy Niệm

Did Pope Francis just predict the END OF THE WORLD?

01 Tuesday Dec 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

end of the world, ISIS, Keywords: Pope Francis, prophecy, end of the world, dark days, Mark 13, ISIS, Pope Francis

‘I HAVE GIVEN YOU FULL WARNING.’ Dark Days – Did Pope Francis just predict the END OF THE WORLD?

 

Pope Francis has invoked Mark, Chapter 13 as a warning that we may be approaching the end times. He suggested that what he has seen appears to fit the end times as described by Jesus.

 'I have given you full warning.'

“I have given you full warning.”

Highlights

By Marshall Connolly, Catholic Online (CALIFORNIA NETWORK)

Catholic Online (www.catholic.org) 11/30/2015

Published in Living Faith

Keywords: Pope Francis, prophecy, end of the world, dark days, Mark 13, ISIS


LOS ANGELES, CA (Catholic Online) – Pope Francis has warned that we could be in the end times as described in Mark, chapter 13. In the Book of Mark, Jesus told His disciples about the destruction that would presage the end of the world. On Nov. 15, Pope Francis invoked Mark 13 to illustrate the times we are living in. He also made specific references to ISIS and terrorism and the Paris attacks.
7 When you hear of wars and rumours of wars, do not be alarmed; this is something that must happen, but the end will not be yet.

8 For nation will fight against nation, and kingdom against kingdom. There will be earthquakes in various places; there will be famines. This is the beginning of the birth-pangs. (Mark 13:7-8)

We certainly live in a time where there are wars and rumors of wars to come. There can be no question that the world has gone to war in the Middle East with more countries joining as the threat from ISIS looms. But then, there’s the rumor of a larger war between the East and West, as Russia takes the opposite side from the USA. Will the conflict in Iraq and Syria expand into a fully-global war?

"The Resurrection" sculpture at the Vatican, depicts Jesus rising out of the crater of a nuclear blast, taking souls up to heaven. “The Resurrection” sculpture at the Vatican, depicts Jesus rising out of the crater of a nuclear blast, taking souls up to heaven.

 

Pope Francis has already said that World War III has begun in “piecemeal” fashion.

9 ‘Be on your guard: you will be handed over to sanhedrins; you will be beaten in synagogues; and you will be brought before governors and kings for my sake, as evidence to them,

10 since the gospel must first be proclaimed to all nations.

11 ‘And when you are taken to be handed over, do not worry beforehand about what to say; no, say whatever is given to you when the time comes, because it is not you who will be speaking; it is the Holy Spirit.

12 Brother will betray brother to death, and a father his child; children will come forward against their parents and have them put to death.

13 You will be universally hated on account of my name; but anyone who stands firm to the end will be saved. (Mark 13:9-13)

Christian persecution is on the rise. By even the most conservative estimates, about 8,000 Christians die each year for their faith. That’s about one person per hour is martyred somewhere in the world for Christ.

Certainly we have witnessed a new wave of Christian persecution. ISIS has beheaded Christians, driven them from their ancient homes in the Middle East and forced them to choose between conversion or death.

23 You, therefore, must be on your guard. I have given you full warning.

24 ‘But in those days, after that time of distress, the sun will be darkened, the moon will not give its light,

25 the stars will come falling out of the sky and the powers in the heavens will be shaken. (Mark 13:23-25)

The last sign will come from the heavens.

While Pope Francis mentioned that dark times do pass, he also told the crowd to be ready.

Does Pope Francis know the end of days is coming soon? Pope Francis is not known for hyperbole. His references to a Global World War III and the end times should be taken seriously. Even of the Second Coming of Christ is not at hand, it is wise for each person to be ready to go at a moment’s notice, for illness or accident still overtake thousands of souls per day.

This reinforces the calls of Our Lady, who asks for the conversion of our hearts. We must confess our sins, perform penance, receive Jesus Christ with a clean heart, and pray. We must serve as the light of Christ to others. When they see our light, they will be drawn towards us and their hearts will be converted too. The Holy Spirit is so powerful in the heart of a faithful Christian, that it will be irresistible. There will be no need to preach or to debate or fight, for the Holy Spirit will suffice. Let it be done according to thy will.

The Year of Great Jubilee is upon us. Let us use this extraordinary occasion of mercy to prepare ourselves for the end of day, whether they come for us alone or the world entire, may our witness never falter; may we be ready to meet our Lord, Jesus Christ.

 

Source: Catholic Online (www.catholic.org) 11/30/2015

 

 

Chứng Nhân Tình Yêu

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chứng nhân, tình yêu

CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU

Điều răn thứ 4 Chúa dạy: hãy thảo kính cha mẹ, ông bà tổ tiên. Yêu mến ông bà tổ tiên là yêu mến quê hương đất nước. Yêu mến đồng bào anh chị em trong quốc gia của mình.

Chúa Giêsu xuống thế làm người, Ngài cũng có một quê hương, một tổ quốc đó là đất nước Do Thái, Ngài rất yêu mến quê hương dân tộc của Ngài cho dù những người lãnh đạo đã lên án và giết Ngài.

Hôm nay chúng ta hãy nhìn vào gương sống của các thánh Tử Đạo Việt Nam và của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận để có một thái độ sống thích hợp trước hiện tình của quê hương đất nước Việt Nam hiện nay.

I-CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM: CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU

 

          Hiến tế đầu tiên của Giáo hội là Chúa Giêsu, Đấng đã tự hiến mạng sống mình vì yêu nhân loại. Các vị tử đạo đã theo sát mẫu gương của ngài trong cuộc khổ nạn, từ vườn Cây Dầu cho đến đỉnh đổi Canvê.

Các ngài đã hết lòng yêu mến Chúa và vì phần rỗi của các linh hồn nên đã dám anh dũng hi sinh mạng sống mình chị đựng bao nhiêu cực hình. Đồng thời các ngài cũng rất yêu mến quê hương Việt Nam nữa.

 

          Trong số 117 vị thánh tử đạo Việt Nam, có thánh Micae Hồ Ðình Hy làm quan Thái Bộc đời vua Tự Đức.  Khi vua Tự Ðức mời ông giả vờ bước qua thánh giá. Ông là người thanh liêm, được nhà vua hết sức tín cẩn, cho phụ trách ngành dệt trong cả nước. Nhưng ông cũng là một Kitô hữu xông xáo làm việc tông đồ. Ông không thấy có gì xung khắc giữa việc phục vụ đất nước với việc phục vụ Giáo Hội. Khi quân Pháp bắn phá cảng Ðà Nẵng thì ông bị bắt, bị kết án là khinh luật nước, chống lại triều đình. Ông Hy đã chấp nhận cái chết một cách bình thản. Trước khi chịu chém, ông còn xin hút một điếu thuốc, hương vị cuối cùng của trần gian mà ông muốn nếm trước khi nếm hương vị của thiên đàng vĩnh cửu. Hút xong điếu thuốc ông nói: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Ðức Kitô.”

Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, nguyên tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công giáo, để rồi lại bắt họ phải đạp lên Thánh Giá.

Dù bị bắt bớ, nhưng giới Công giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Alonso Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí giới đánh giặc bách hại “chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái”.

II–ĐỨC HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN: CHỨNG NHÂN CỦA TÌNH YÊU    

–Tin cậy bất khuất vào tình yêu của Chúa:

Ngày mùng 6/9/2002, Chân Phước Gioan Phaolô II đã chủ tế tang lễ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận. Ngài nhắc đến ĐHY như là một “gương sáng của lòng trung tín Kitô hữu cho đến tử đạo”. Được như vậy là vì ĐHY đã đặt tất cả cuộc đời mình dưới dấu hiệu HY VỌNG. Chân Phước Gioan Phaolô II đã nói:

“Bí quyết của ngài là sự tin cậy bất khuất vào Chúa, được nuôi dưỡng bằng kinh nguyện và đau khổ chấp nhận vì yêu” Chúng ta hãy nghe chính ĐHY Thuận tâm sự: Video Clip Thánh Giá và Cầu Nguyện với Bí Tích Thánh Thể.

-Yêu mến mọi người, ngay cả kẻ thù:

Chúa dạy chúng ta yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai. Ngày 1/12 năm 1976, vào khoảng 10 giờ tối, ĐHY Thuận bị đưa xuống tàu ra Bắc cùng với 1,500 tù nhân khác. Trong thời gian bị biệt giam có lúc họ cho ĐHY Thuận đồ ăn với lượng muối quá độ để ngài khát nước. Rồi họ lại đem nhiều nước đến cho ngài uống. Nhưng mục đích của sự việc này là để tra tấn ngài, để hạ nhục nhân phẩm của ngài. Bởi sau khi uống nhiều nước, họ không mở cửa nhà tù cho ngài đi tiểu tiện mấy ngày liên tiếp. Ngài cố gắng chịu đựng với sức con người có thể, và chịu không nổi thì phải tiểu ra sàn nhà. Khi cán bộ đến rửa sàn ngục, họ mắng rủa ngài: “Ông tự coi mình là giám mục mà ông làm việc này ư? Ông không thấy nhục nhã sao?” Một lần, ngài ngẩng đầu lên đáp lời người cai ngục: “Tôi cám ơn anh đã đến rửa sàn ngục cho tôi, tôi xin lỗi khi ở trong tình trạng này!”

Ngài thú nhận kể từ giây phút nói lên câu “xin lỗi” đó, sự tự do đã đến với ngài, và ngài đã có thể bắt đầu yêu thương trở lại. Dần dần khả năng yêu thương “kẻ thù” của ngài thêm lớn mạnh. Chúng ta hãy nghe ngài tâm sự: Video Clip yêu kẻ thù.

-Yêu mến quê hương:

Nhận xét về con người ĐHY Thuận, đã có một tác giả tóm lược về ngài như sau:

“Một người có tướng cao ráo, gương mặt rộng đẹp sang cả, nét quý phái.

Một người có giọng nói mỏng, từ tốn, nhẹ nhàng, dí dỏm.

Một người thông minh và có trí nhớ dai mọi tình tiết.

Một người khôn ngoan, bình tĩnh, hiền hòa, đức độ bao dung.

Một người tự nhiên, dễ dàng thu hút cảm tình người đối thoại.

Một nhà giảng thuyết “ăn khách” đủ mọi giới.

Một bộ óc có tầm nhìn rất xa, rất rộng.

Một nhân vật có óc tổ chức, có tài lãnh đạo rõ nét.

Một cuộc đời để lại nhiều dấu ấn quan phòng gợi suy nghĩ.”

Là người Việt Nam và nhất là người Công Giáo Việt Nam, ai cũng hãnh diện vì có một Đức Hồng Y với những đức tính và tài năng hiếm có như vậy. Ngài là một người Việt Nam yêu nước, là một người Công Giáo trổi vượt, là một linh mục tận tụy làm việc tông đồ, là một ngôi sao sáng chói trong hàng Giám Mục Việt Nam, là một Hồng Y vang danh hoàn vũ. Ngài chính là vinh quang của Giáo Hội Việt Nam và làm rạng danh dân tộc Việt Nam.

Hôm nay, Ngài cũng mời gọi tất cả chúng ta, những người Việt Nam hãy thiết tha yêu mến quê hương dân tộc Việt Nam chúng ta: “Là người Công Giáo Việt Nam, Con phải yêu Tổ Quốc gấp bội. Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con. Cha mong giòng máu ái quốc. Sôi trào trong huyết quản con.”

Trong giờ phút cùng cực, khổ đau, hoạn nạn tại Cây Vông, Phú Khánh, ngày 8/12/1975, ngài đã dặn dò nhắn nhủ các thế hệ mai sau trong bài thơ “Con Có Một Tổ Quốc” hùng hồn như trang sử sau đây: video bài hát.

Tiếng chuông ngân trầm, Việt Nam nguyện cầu.

Tiếng chuông não nùng, Việt Nam buồn thảm.

Tiếng chuông vang lừng, Việt Nam khải hoàn.

Tiếng chuông thanh thoát, Việt Nam hy vọng.

Con có một tổ quốc Việt Nam. Quê hương yêu quý ngàn đời.

Con hãnh diện, con vui sướng. Con yêu non sống, gấm vóc.

Con yêu lịch sử vẻ vang. Con yêu đồng bào cần mẫn. Con yêu chiến sĩ hào hùng.

Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn. Núi cao, xương chất cao hơn.

Đất tuy hẹp, nhưng chí lớn. Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.

Con phục vụ hết tâm hồn. Con trung thành hết nhiệt huyết.

Con bảo vệ bằng xương máu. Con xây dựng bằng tim óc.

Vui niềm vui của đồng bào. Buốn nỗi buồn của Dân Tộc.

Một Nước Việt Nam. Một Dân Tộc Việt Nam.

Một Tâm Hồn Việt Nam. Một Truyền Thống Việt Nam.

Là người Công Giáo Việt Nam, Con phải yêu tổ quốc gấp bội.

Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con. Cha mong giòng máu ái quốc, sôi trào trong huyết quản con.

III–ĐẠI HỌA MẤT NƯỚC: SỰ BÀNH TRƯỚNG VÀ XÂM CHIẾM CỦA TRUNG CỘNG.

 

Bản đồ hình lưỡi bò Trung Cộng muốn xâm chiếm.

Dàn khoan khủng “Dầu Khí Hải Dương 981” của Trung Quốc.

Tiếng khóc xé lòng của những người vợ, người mẹ ở Lý Sơn có chồng, con bặt âm vô tín ở Hoàng Sa.

Công trình bauxite-Alumin tại Nhân Cơ (Đắk Nông)

KHÁCH SẠN ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ 4 SAO

Một khu phố dành riêng cho Hoa kiều đang được xây dựng tại Bình Dương mang tên ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ.

IV- THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO YÊU MẾN QUÊ HƯƠNG

Đứng trước hiểm họa mất nước của dân tộc Việt Nam hiện nay, người Công Giáo Việt Nam chúng ta phải làm gì để cứu nguy đất nước. Xin thưa rằng:

-Theo lời khuyên dạy của các thánh Tử Đạo Việt Nam: “Chẳng phải là súng ống gươm giáo, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái.”

-Chúng ta hãy yêu thương và đoàn kết với nhau như lời ĐHY Thuận đã nhắn nhủ, để có “Một Nước Việt Nam, Một Dân Tộc Việt Nam, Một Tâm Hồn Việt Nam, Một Truyền Thống Việt Nam.”

       KẾT LUẬN:

 -Lời mời gọi: trong năm nay, cả cộng đồng hãy gia tăng hãm mình, hy sinh, lần chuỗi Mân Côi, và đọc kinh Các thánh Tử Đạo Việt Nam để cầu nguyện cho quê hương dân tộc Việt Nam.

-Đặc biệt trong ngày lễ kính các thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, qua lời bầu cử của Đức Mẹ La-Vang và các thánh Tử Đạo Việt Nam.

Xin Chúa ban cho quê hương được bình an, nhân quyền được tôn trọng, dân chúng được sống trong công lý, tự do, và dân chủ. Sự thật được tôn trọng.

Xin ban cho các vị lãnh đạo trên quê hương có tinh thần trách nhiệm, phục vụ, biết lo lắng và mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào và dân tộc.

Xin cho mọi người dân Việt Nam có lòng yêu mến quê hương đất nước biết làm tròn nghĩa vụ công dân bảo vệ tố quốc.

KINH CẦU NGUYỆN CHO VIỆC PHONG CHÂN PHƯỚC

Lạy Thiên Chúa tình yêu,

Chúa đã gọi và chọn Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận làm người mục tử nhân ái và tràn đầy tình yêu thương trong cuộc Lữ Hành đầy niềm Hy Vọng.

Chúng con cầu xin Chúa Thánh Thần và Ðức Mẹ La Vang, Mẹ chúng con, ban nhiều ơn phước và soi sáng trong tiến trình xét tuyên phong chân phước cho ngài.

Xin cho chúng con biết noi gương nhân đức và chứng nhân Tin Mừng đích thực của Ðức Hồng Y, mà canh tân sâu đậm đời sống Kitô hữu của chúng con và tôn vinh Thiên Chúa trong đời sống của anh chị em chung quanh. Chúng con cầu xin những ơn ấy nhờ Chúa Kitô là Chúa chúng con. Amen.

 

KINH CẦU CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Kính lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xưa đã biết dùng ơn Chúa, mà lướt thắng mọi khó khăn khổ cực, để gieo rắc hạt giống Phúc Âm, và xây dựng Hội Thánh Chúa trên đất nước Việt Nam. Các Thánh đã can đảm tuyên xưng đức tin, đến hy sinh mạng sống mình vì lòng yêu mến Chúa, và phần rỗi các linh hồn, nên đáng được hưởng hạnh phúc trên trời.

Chúng con xin hợp ý cùng các Thánh, mà tạ ơn Thiên Chúa, và Mẹ Maria, nữ vương các Thánh Tử Đạo, đã ban cho các Thánh được hồng phúc như vậy. Chúng con hoan hỷ ca tụng các Thánh, là những hoa tươi đầu mùa cao quý của Hội Thánh Việt Nam.

Xin các Thánh cầu bầu cho chúng con là con cháu, biết noi gương mà sống đạo Phúc Âm, thi hành bác ái, trung thành với Hội Thánh, và yêu mến quê hương; và khi chúng con gặp khó khăn nguy hiểm, xin các Thánh giúp đỡ ủi an, để chúng con đủ sức vâng theo ý Chúa, cộng tác vào mầu nhiệm Thập Giá cứu độ của Chúa Giêsu, tiếp tục con đường các Thánh đã đi, hầu đạt tới hạnh phúc muôn đời. Amen.
Lm. Joseph Nguyễn Thái

Đừng Sợ Chính Trị

14 Saturday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chính trị

Đừng Sợ Chính Trị

* Hồng Ân

Hiểm họa mất nước:

Trong vài tháng gần đây, dư luận trong và ngòai nước bàn tán xôn xao trên báo chí và các phương tiện truyền thông về hiểm họa mất nước do thái độ ngang ngược và bá quyền của Trung Cộng ngang nhiên công bố chủ quyền trên các đảo Hòang Sa và Hòang Sa của Việt Nam vì cho rằng 2 quần đảo này nằm trong vùng Lưỡi Bò mà Trung cộng đã tự ý khoanh vùng trên Biển Đông. Trung Cộng còn cấm các ngư phủ Việt Nam không được đánh cá gần các đảo này và lên tiếng đe dọa các nước ký hợp đồng với Việt Nam khai khác dầu khí ở vùng hải đảo này. Trên đất liền, chính quyền Cộng Sản Việt Nam để cho Trung cộng đang khai thác mỏ bô-xít ở Tây Nguyên và đưa 1.300.000 nhân công qua làm việc tại Việt Nam và xây dựng cả một thành phố Tầu ở tỉnh Bình Dương nữa. Trước hiểm họa mất nước này, dân chúng trong nước đã nhiều lần xuống đường biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng dù bị cảnh sát đàn áp và bắt bớ. Còn dân Việt tỵ nạn ở hải ngọai đã phản ứng ra sao? Tại nhiều quốc gia trên thế giới, đông đảo Việt kiều cũng đã xuống đường biểu tình chống Trung Cộng và lên án nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam nhu nhược, bán nước cầu vinh.

Trong buổi sinh họat Đại Ultreya vào Chúa Nhật 16 tháng 10 năm 2011 vừa qua tại Trung Tâm Công Giáo, cha Nguyễn Thái, Phụ Tá Linh Hướng của Phong Trào Cursillo, trong phần đúc kết và trong bài giảng đã kêu gọi các anh chị cursillista hãy cầu chuyện cách riêng cho đất nước Việt Nam trước hiễm họa mất nước do mưu đồ xâm lược của Trung cộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa. Trong hai lá thư mục vụ đặng trên tờ Hiệp Thông ngày 2 và 9 tháng 10 năm nay, Đức Cha Mai Thanh Lương, Giám Mục Phụ Tá Giáo Phận Orange, cũng nhắc nhở mọi giáo dân trong tháng Mân Côi này hãy cầu nguyện xin Đức Mẹ Mân Côi ban hòa bình và tòan vẹn lãnh thổ cho Nước Việt Nam trước ý đồ của Trung Cộng đang hăm he xâm chiếm lãnh thổ và các hải đảo của Việt Nam.

Hai vị lãnh đạo tinh thần đã gíong lên tiếng chuông báo động về hiểm họa mất nước và khẩn thiết kêu gọi các giáo dân cầu nguyện cho quê hương dân tộc. Trước đó một tháng, ngày 14 tháng 9, cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Nam Cali cũng đã tổ chức một đêm thắp nến cầu nguyện cho quê hương tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster nhân ngày kỷ niệm 43 năm thủ tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng đã ký công hàm nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng trên đảo Hòang Sa và Trường Sa. Theo Ban Tổ Chức, số đồng bào tham dự đã lên tới ngót 5 ngàn người dù tổ chức vào ngày thứ tư trong tuần. Trên đường đi làm về, tôi cũng ghé tham dự đêm  cầu nguyện này, và nhận thấy các hội đòan cả đạo lẫn đời tham dự đều mang theo biểu ngữ đề tên đòan thể mình. Tôi đi vòng quanh tượng đài để quan sát và thấy phía Công Giáo chỉ có một biểu ngữ mang tên Cộng Đòan Huntington Beach mà thôi. Tôi cũng gặp một số các bạn bè quen biết trong các đòan thể công giáo và họ thắc mắc tại sao Công Giáo có 14 cộng đòan mà sao chỉ có một cộng đòan tham dự dù người được ủy thác làm Trưởng Ban Tổ Chức là ông Nguyễn Văn Liêm, Chủ Tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange. Tôi nghĩ thầm cũng may là có cha Nguyễn Thái, Linh Hướng và Điều Hành Trung Tâm Công Giáo, đã đến tham dự và được mời lên phát biểu và dâng lời cầu nguyện cho quê hương dân tộc bên cạnh các vị lãnh đạo của các tôn giáo bạn.

Ngừơi Công Giáo thờ ơ với chính trị?

Người giáo dân Công Giáo Việt Nam ở đây thường bị mang tiếng là chỉ siêng năng đi lễ và cầu nguyện thôi. Ngòai ra, họ thừơng thờ ơ với các sinh họat chính trị dù có liên quan tới đấu tranh cho tự do tôn gíao và nhân quyền của đồng bào và đồng đạo ở quê nhà.

Đó là những người có thái độ tiêu cực về chính trị. Họ viện cớ rằng kẻ làm chính trị thường dùng các thủ đọan bất chính để nắm quyền bính với bất cứ giá nào với chủ trương “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” theo kiểu Macchiavelli, không quan tâm gì tới công ích và phúc lợi của dân chúng.

Thực ra, theo nguyên ngữ từ chữ “Polis” của Hy Lạp, chính trị là những phương thức tổ chức và điều hành quốc gia sao cho hữu hiệu nhằm mưu ích cho mỗi cá nhân và đồng thời mang lại ích lợi chung cho cuộc sống cộng đồng. Theo như ý nghĩa nguyên thủy cao đẹp này của chính trị,  mỗi công dân đều có bổn phận phải tham gia vào sinh họat chính trị để đi bầu các vị đại biểu nói lên tiếng nói của dân chúng, ứng cử vào các chức vụ dân cử, hoặc tham gia vào các tổ chức, đảng phái chính trị hoặc ra tranh cử vào các chức vụ điều hành quốc gia từ cấp địa phương đến cấp trung ương, ngõ hầu có cơ hội dùng tài năng và đức độ của mình để mưu ích lợi cho dân chúng. Một học giả người Ý, giáo sư Giovanni Sartori, đã cảnh cáo các người có thái độ thờ ơ và lãnh đạp với chính trị như sau:

– ” Giả sử anh có tư tưởng chính trị đúng đắn, chính đáng và có khả năng đem lại lợi ích cho dân tộc, hoặc có khả năng có thể đảm nhận những vai trò quản trị Đất Nước, nhưng vì ‘ an phận thủ thường, mặc kệ ‘, có thể kẻ khác có suy nghĩ lệch lạc, vô tài thất đức vì danh vọng, lợi nhuận ‘ nhào ra’” hoạt động chính trị, các hậu quả tai hại đổ nát sẽ đổ xuống trên đầu đồng bào, thân nhân của anh và cả trên đầu anh. Ráng chịu ! ” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III Zanichelli Bologna 1996, 133) (1)

Giáo Hội Công Giáo có ngăn cấm giáo dân sinh họat hoặc tham gia vào các họat động chính trị không?

Theo các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, cũng như những Thông Điệp sau đây của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không cấm đóan mà còn khuyến khích giáo dân tham gia sinh họat chính trị với lương tâm trách nhiệm của một công dân đối với quốc gia của mình.

Sau đây là một số trích đọan từ các văn kiện trên:

– “Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích…”.

– “ Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…”. 

 

– “ Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những nười khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn”.         

Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về đức bác ái chính trị:

– “ Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người” . 

 

Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân dấn thân vào chính trị:

– “ …việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác…”.

Đức Cố Giáo Hòang Gioan Phaolô II nói về tôn giáo và chính  trị:

Năm 1991, sau khi thể chế Cộng Sản ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết sụp đổ do sự vận động và can thiệp tích cực của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II với  Tổng Thống Nga Sô, Michael  Gorbaciov, và Tổng Thống Mỹ Reagan và bà Thủ Tuớng Thatcher của Anh Quốc, Ezio Mauro và Paolo Mieli, hai đặc phái viên của tờ La Stampa, một trong những tờ báo lớn nhứt ở Ý xin phép được phỏng vấn Đức Giáo Hoàng gioan Phaolô II: (2)

– “Kính thưa Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha làm chính trị, Đức Thánh Cha nghĩ sao?”.

   – ” Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là nhân quyền, sự tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Đức Giáo Hoàng có làm chính trị. Nhưng Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người” ( Ezio Mauro e Paolo Mieli, ” Giovanni Paolo II “, La Stampa 04.03.91, p.2).

Ý thức về sứ mạng của mình trong cuộc sống trần thế của  con người, Giáo Hội cũng cần can thiệp  vào các lãnh vực trần thế:

– ” Giáo Hội có quyền và bổn phận không những bảo vệ các nguyên tắc liên quan đến lãnh vực luân lý và tôn giáo, mà còn phải can thiệp vào các lãnh vực trần thế, mỗi khi cần phán đoán việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thiết thực” ( ĐGH Gioan XXIII, Mater et Magistra, 239).

Qua các dẫn chứng nêu trên về lập trường của Giáo Hội đối với chính trị, tôi cảm thấy mạnh dạn dấn thân vào các sinh họat chính trị, nhất là các họat động chính trị mang lại hy vọng cho các đống bào và đồng đạo của tôi ở quê nhà đang mong chờ được tụ do thờ phượng và được sống xứng đáng với phẩm giá con người mà Thiên Chúa đã tạo dưng nên theo hình ảnh của Ngừơi. Tôi thiết nghĩ chính trị là môi trường sinh họat chung của các cursilista ngòai các môi trường riêng của từng người trong Ngày Thứ Tư.

Tham khảo:

(1): Nguyễn Học Tập, “Tham Vọng Chính Trị”, vn-online@googlegroups.com

(2): Nguyễn Học Tập, “Tôn Giáo và Chính Trị”, vn-nline@googlegroups.com

Đức tin của chúng ta là đức tin chiến đấu và không hề sợ hãi

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

chiến đấu, sợ hãi, đức tin

Đức Cha Daniel R. Jenky: Đức Tin Của Chúng Ta Là Một Đức Tin Chiến Đấu và Không Hề Sợ Hãi

§ Phaolô Phạm Xuân Khôi
Dưới đây là bản dịch bài giảng của Đức Cha Daniel R. Jenky, C.S.C., Giám Mục Peoria, Illinois, vào Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh 2012. Ngài nhấn mạnh: “làm một Kitô hữu không bao giờ dễ dàng và nó không giả thiết là dễ dàng! Thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ luôn luôn yêu những gì thuộc về chúng, và sẽ luôn luôn ghét chúng ta. Như Chúa Giêsu đã từng bảo trước, chúng đã ghét Thầy, thì chúng chắc chắn sẽ ghét các con. Nhưng đức tin của chúng ta, khi được sống cách trọn vẹn, là một đức tin chiến đấu
và một đức tin không hề sợ hãi.”
Chỉ có một lý do cơ bản tại sao Kitô giáo tồn tại và lý do đó là sự kiện Đức Chúa Giêsu Kitô thật sự đã sống lại từ nấm mồ.
Các môn đệ không bao giờ mong chờ sự Phục Sinh. Các chứng từ nhất trí của tất cả bốn sách Tin Mừng là cái chết khủng khiếp của Chúa Giêsu trên thập giá đã hoàn toàn làm tiêu tan tất cả hy vọng của các ông về Chúa Giêsu và về sứ điệp của Người. Người đã chết, và thế là hết. Các ông không còn tìm kiếm gì nữa, và cũng không còn mong đợi gì nữa.
Các ông đã yêu Người quá nhiều, trong cái nhỉn cùa các ông, Chúa Giêsu là một Đấng Thiên Sai thất bại. Cái chết của Người dường như hoàn toàn cướp đi bất cứ ý nghĩa lâu dài nào không những của giáo huấn mà ngay cả những phép lạ của Người.
Và rõ ràng là các ông đã run sợ về số phận khủng khiếp của Người, dưới bàn tay Công Nghị và người Rôma, có thể dễ dàng trở thành số phận khủng khiếp của các ông. Vì vậy, các ông trốn tránh, run rẩy khiếp sợ, nấp đằng sau những cửa sổ đóng kín và những cánh cửa khóa khóa chặt.
Khi Đức Kitô Phục Sinh bất ngờ hiện ra giữa các ông, phản ứng của các ông là sửng sốt nghi ngờ. Các ông đơn thuần không thể tin ở mắt mình.
Thực tại chỉ rất từ từ bắt đầu thâm nhập ý thức của các ông khi Chúa Giêsu đưa ra bằng chứng về sự Phục Sinh của Người. Người đã cho thấy những vết thương trên tay, chân, và cạnh sườn Người. Chúa Giêsu còn cho các ông chạm vào Người. Người bẻ bánh và ăn với các ông. Và chỉ sau đó các ông mới có thể tự mình thừa nhận điều xem ra hoàn toàn không thể được – một người thật sự đã chết đã sống lại thật! Đấng Chịu Đóng Đinh giờ đây đứng trước mặt các ông là Chúa Phục Sinh, vinh hiển và chiến thắng của các ông.
Việc Người trỗi dậy từ nấm mồ hoàn toàn có thật giống như việc Người chết trên thập giá. Sự Sống Lại là bằng chứng biểu hiện quyền năng vô song của Thiên Chúa Toàn Năng. Sự kiện không thể tránh được của việc Phục Sinh xác nhận mọi lời Chúa Giêsu đã từng nói và mọi công việc Chúa Giêsu đã từng làm.
Tin Mừng là sự thật. Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Đấng Cứu Thế đã được hứa của dân Israel. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ thế gian. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
Không có lời giải thích nào khác cho Kitô giáo. Nó đáng lẽ đã chết và hoàn toàn biến mất khi Đức Kitô chết và được mai táng, ngoại trừ cho một sự thực rằng Đức Kitô đã sống lại thật, và rằng trong thời gian 40 ngày trước khi Lên Trời, Người đã tiếp xúc qua lại với các Tông Đồ và các môn đệ, và trong một dịp ngay cả với hàng trăm kẻ đã theo Người.
Bài Đọc Tin Mừng hôm nay cho ngày Thứ Bảy trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh này được lấy từ Chương 16 của Tin Mừng Thánh Marcô. Nó kết thúc với một mệnh lệnh từ môi miệng Chúa Giêsu, được ban cho các môn đệ của Người, cho toàn thể Hội Thánh, cũng được ban cho anh chị em và tôi tụ họp ở đây hôm nay: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”
Chúng ta đã nghe trong Bài Đọc Thứ Hai hôm nay từ sách Tông Đồ Công Vụ rằng cùng một Công Nghị đã lên án Chúa Giêsu đã ngạc nhiên trước sự mạnh dạn của Thánh Phêrô và Thánh Gioan. Trong khi biết rằng các ông là những kẻ thất học và bình thường, họ nhận ra các ông như bạn đồng hành của Chúa Giêsu. Họ cảnh báo các ông không bao giờ bao giờ được nhân danh Chúa Giêsu mà giảng dạy hoặc nói với bất cứ ai nữa.
Tuy nhiên, các kỳ lão và luật sĩ cũng có thể đã cố gắng để xoay ngược triều sóng, hoặc ngăn chặn trận tuyết lở. Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã thấy Đức Kitô Phục Sinh bằng cặp mắt của mình. Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã được đầy Thánh Thần. Các ông hỏi xem có phải là điều đúng “trước mặt Thiên Chúa không khi chúng tôi nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa. Chúng tôi không thể không nói ra những gì chúng tôi đã nghe, và đã thấy.”
Thánh Phêrô vàThánh Gioan cùng tất cả các Tông Đồ, bắt đầu trước hết tại Giêrusalem trong xứ Giuđêa và xứ Galilêa, và sau đó đến tận cùng trái đất, đã công bố sự Phục Sinh và
Tin Mừng cho tất cả mọi người mà các ông đã gặp.
Theo chứng từ rõ ràng của Thánh Kinh, các Tông Đồ đã từng là những người bình thường – như anh chị em và tôi. Đức tin của của các ngài đã không phải luôn luôn mạnh mẽ. Các ngài đã lầm lỗi. Các ngài đã phạm tội. Các ngài thường sợ hãi và bối rối.
Nhưng việc gặp gỡ Chúa Phục Sinh đã thay đổi tất cả mọi sự về các môn đệ đầu tiên này, và biết Chúa Phục Sinh cũng phải thay đổi tất cả mọi sự về chúng ta.
Anh chị em biết, làm một Kitô hữu không bao giờ dễ dàng và nó không giả thiết là dễ dàng! Thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ luôn luôn yêu những gì thuộc về chúng, và sẽ luôn luôn ghét chúng ta. Như Chúa Giêsu đã từng bảo trước, chúng đã ghét Thầy, thì chúng chắc chắn sẽ ghét các con.
Nhưng đức tin của chúng ta, khi được sống cách trọn vẹn, là một đức tin chiến đấu và một đức tin không hề sợ hãi. Căn cứ vào quyền năng của việc Phục Sinh, không có gì trong thế gian này, và không có gì trong hỏa ngục, mà chung cuộc có thể đánh bại một Hội Thánh duy nhất, thật sự, thánh thiện, Công Giáo và Tông Truyền của Thiên Chúa.
Trong hai ngàn năm qua, những kẻ thù của Đức Kitô chắc chắn đã cố gắng hết sức. Nhưng hãy nghĩ về điều ấy. Hội Thánh sống sót và thậm chí phát triển mạnh mẽ trong những thế kỷ bị đàn áp khủng khiếp, trong những ngày của Đế Quốc Rôma.
Hội Thánh thoát khỏi những cuộc xâm lăng của dân man di. Hội Thánh vẫn tồn tại sau nhiều làn sóng Thánh Chiến của Hồi Giáo. Hội Thánh sống sót thời đại cách mạng. Hội Thánh sống sót chủ nghĩa Quốc Xã và Cộng Sản.
Và trong quyền năng của Phục Sinh, Hội Thánh sẽ sống sót sự thù ghét của Hollywood, ác ý của các cơ quan truyền thông, và sự tàn ác gian dối của kỹ nghệ phá thai.
Hội Thánh sẽ sống sót sự tham nhũng cố hữu và bất tài tuyệt đối của chính quyền tiểu bang Illinois của chúng ta, và thậm chí cả thái độ khinh thị có tính toán của Tổng thống Hoa Kỳ, các viên chức được chỉ định trong Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh, cùng đa số hiện nay của Thượng Viện liên bang.
Nguyên xin Chúa thương xót linh hồn của những chính trị gia làm bộ là Công Giáo trong Hội Thánh, nhưng trong cuộc sống công cộng của họ, lại như Giuđa Iscariot, phản bội Chúa Giêsu bằng cách bỏ phiếu và sẵn sàng hợp tác với những điều tự bản chất là ác.
Là Kitô hữu chúng ta phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình, nhưng là Kitô hữu chúng ta cũng phải đứng lên bênh vực những gì chúng ta tin và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cho Đức Tin. Những ngày mà trong đó chúng ta hiện đang sống đòi phải có một đạo Công Giáo anh hùng, không phải Công Giáo ngẫu nhiên. Chúng ta không còn có thể là những người Công Giáo một cách tình cờ, nhưng thay vào đó phải là những người Công Giáo bằng xác tín. Trong gia đình riêng của chúng ta, trong các giáo xứ của chúng ta, nơi chúng ta sống và nơi chúng ta làm việc – giống như thế hệ tông đồ đầu tiên – chúng ta phải là chứng nhân mạnh bạo cho Quyền Làm Chúa của Đức Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta phải là một đạo binh những người Công Giáo không hề biết sợ, sẵn sàng hiến tất cả mọi sự chúng ta có cho Chúa, là Đấng đã hiến tất cả vì phần rỗi chúng ta.
Hãy nhớ rằng trong quá trình lịch sử, các chính quyền khác đã cố gắng buộc các Kitô hữu phải chui rúc và ẩn nấp chỉ trong phạm vi các nhà thờ của họ như các môn đệ đầu tiên bị nhốt trong nhà Tiệc ly.
Vào cuối thế kỷ thứ 19, Bismark đã khai mào “Kultur Kamp,” một cuộc chiến tranh Văn hóa, chống lại Hội Thánh Công Giáo Roma, bằng cách đóng cửa tất cả các trường học và bệnh viện, tu viện và đan viện Công Giáotrong Đế quốc Đức.
Clemenceau, có biệt danh là “kẻ ăn linh mục,” đã cố gắng làm cùng một điều như thế ở Pháp trong thập niên thứ nhất của thế kỷ 20.
Hitler và Stalin, vào những thời điểm nhân đạo hơn của họ, chỉ cho phép một số nhà thờ được mở cửa, nhưng không chấp nhận bất cứ sự cạnh tranh nào với nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, dịch vụ xã hội, và chăm sóc y tế.
Trong việc vi phạm rõ ràng Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, Barack Obama – với chương trình cấp tiến, phò phá thai và thế tục cực đoan của ông, giờ đây xem ra có ý đi theo một con đường tương tự.
Bây giờ sự thể đã xảy ra như thế ở Mỹ đến nỗi đây là một cuộc chiến mà chúng ta có thể thua, nhưng trước tòa phán xét đáng kính sợ của Thiên Chúa Toàn Năng, đây không phải là một cuộc chiến mà bất cứ tín hữu Công Giáo nào vẫn có thể còn đứng trung lập.
Mùa thu này, mọi người Công Giáo giữ đạo phải bỏ phiếu, và phải bỏ phiếu theo lương tâm Công Giáo của mình, hoặc vào mùa thu năm sau các trường Công Giáo, các bệnh viện Công Giáo, các Trung tâm Công Giáo Newman của chúng ta, tất cả các việc thừa tác vụ của chúng ta — chỉ trừ những ngôi nhà thờ của chúng ta– có thể bị đóng cửa dễ dàng. Bởi vì không một cơ sở Công Giáo, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể hợp tác với sự dữ tự bản chất là việc giết chết sự sống của người vô tội trong bụng mẹ.
Không có một cơ sở phục vụ Công Giáo nào – và vâng, thưa Tổng Thống, vì các trường học và bệnh viện Công Giáo của chúng tôi là các cơ sở phục vụ – có thể vẫn còn trung thành với Quyền Làm Chúa của Đức Kitô Phục Sinh và Tin Mừng Sự Sống vinh quang của Người nếu các cơ sở này bị bắt buộc phải trả tiền cho việc phá thai.
Giờ đây hãy nhớ lại cái gì đã là kinh nghiệm đổi đời, là điều hoàn toàn biến đổi các môn đệ đang sợ hãi và run rảy này thành những tông đồ chẳng còn biết sợ hãi và anh hùng. Các ngài đã gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh. Các ngài đã tôn kính vết thương thánh của Người. Các ngài đã ăn uống với Người.
Đó không phải là những gì chúng ta cùng làm ở đây với nhau, sáng hôm nay trong Thánh Lễ diễu hành hàng năm của nam nhân này sao?
Đây là ngày thứ bảy của Bát Nhật Phục Sinh, một Lễ Trọng rất cao cả và trung tâm của đức tin Công Giáo của chúng ta, mả ngày Phục Sinh được cử hành vừa trọn tám ngày, và mùa Phục Sinh được cử hành cách vui mừng như 50 Ngày Đại Lễ Phục Sinh. Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã trỗi dậy từ nấm mồ — đang ở giữa chúng ta. Lời Thánh của Người dạy chúng ta chân lý. Mình và Máu Thánh của Người trở nên lương thực và thức uống của chúng ta.
Đức Kitô Phục Sinh là Chúa Vĩnh Cửu của chúng ta; Đầu của Thân Thể Người, là Hội Thánh; vị Thượng Tế của chúng ta; Thầy của chúng ta; vị Chỉ Huy của chúng ta trong cuộc chiến đáng chiến đấu này.
Chúng ta không có gì để sợ hãi, nhưng chúng ta có một thế giới để chinh phục cho Người.
Chúng ta không có gì để sợ hãi, vì chúng ta có một số phận vĩnh cửu trên thiên đàng.
Chúng tôi không có gì để sợ hãi, dù đất có thể động, vương quốc có thể mọc lên và xụp xuống, ma quỷ có thể dữ tợn, nhưng Thánh Michael Tổng Lãnh Thiên Thần, và tất cả các đạo binh thiên quốc, chiến đấu thay cho chúng ta.
Bất kể điều gì xảy ra trong thời điểm chóng qua này, vào cuối thời gian và lịch sử, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa và Chúa Giêsu là Chúa, đến muôn thủa muôn đời.
Christus vincit! Christus regnat! Christus imperat!
Đức Kitô chiến thắng! Đức Kitô hiển trị! Đức Kitô truyền lệnh!
+ GM Daniel R. Jenky, CSCGiám Mục Peoria, Illinois
Phaolô Phạm Xuân Khôi
Nguồn: phuong ngo <tuyphuongngo56@yahoo.com> posted on VN-Online
Date: 2012/4/19

Did You See God?

13 Friday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

creation, evolution, God

Did You See God?

One day a 6 year old girl was sitting in a classroom. The teacher was going to explain evolution to the children. The teacher asked a little boy:

Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Tommy, do you see the grass outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Go outside and look up and see if you can see the sky.
TOMMY: Okay. (He returned a few minutes later) Yes, I saw the sky.
TEACHER: Did you see God up there?
TOMMY: No.
TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.

A little girl spoke up and wanted to ask the boy some questions.
The teacher agreed and the little girl asked the boy:

Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
LITTLE GIRL: Tommy do you see the grass outside?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Did you see the sky?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Tommy, do you see the teacher?
TOMMY: Yes
LITTLE GIRL: Do you see her brain?
TOMMY: No
LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!

”FOR WE WALK BY FAITH, NOT BY SIGHT” (II CORINTHIANS 5:7)
Don’t forget to pass this on! I love this one. Everyone should
send this to everyone they know, especially today with prayer restricted in schools.

(Source: Email of Rev. Đòan Đình Bảng, Tuyên Úy Ngành Nghĩa Sĩ TNTT)

My own comments on this issue: “Did You See God?”

TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.
(Cô giáo: Đó là điều tôi muốn nói. Chúng ta không thể nhìn thấy Chúa vì ngài không có ở đó. Rất có thể là Chúa không hiện hữu).

Lời bàn #1: Điều gì mà mắt chúng ta không nhìn thấy thì chưa hẳn là điều đó không hiện hữu.

  • Trong câu chuyện trên đây, cô giáo lớp tiểu học đã kết luận là chúng ta không thể nhìn thấy Chúa vì Chúa không hiện hữu (không có thực). Khi kết luận như vậy, cô dựa trên một nguyên tắc của khoa học thực nghiệm: điều gì không thấy thì không có thực.
  • Nhưng trên thực tế, người ta phải nhìn nhận rằng có những điều không nhìn thấy mà vẫn có thực, chỉ vì con người chưa tìm thấy hoặc chưa khám phá ra mà thôi. Chẳng hạn một hòan đảo ngòai đại dương xa xăm mà chưa ai biết đến thì hòn đảo này có thực không? Chắc chắn là nó có thực dù chúng ta chưa có dịp nhìn thấy tận mắt mà thội. Một trường hợp khác là mới đây vào tháng Bẩy năm 2005, ông Michael Brown, một nhà thiên văn học Mỹ thuộc viện nghiên cứu Caltech, đã dùng ống viễn vọng kính cực mạnh (the Hubble Space Telescope) chiếu rọi vào trong không gian bao la và khám phá ra rằng thái dương hệ của chúng ta (our solar system) không phải chỉ có 9 hành tinh (planets) quanh quanh mặt trời mà còn có thêm một hành tinh thứ mười và đặt tên là UB313 với đường kính khỏang 1864 dặm, lớn hơn hành tinh Pluto, và là hành tinh xa nhất trong thái dương hệ (x. The Orange County Register 3, 2006, News 18).

Mặt khác, một tóan thiên văn gia quốc tế thuộc National Science Foundation, trong thập niên qua, đã khám phá ra hơn 160 hành tinh quay quanh các ngôi sao bên ngòai thái dương hệ của chúng ta (beyond our solar system). Nhờ kỹ thuật mới gọi là “gravitational microlensing”, họ khám phá ra một hành tinh “OGLE-20025-BLG-390Lb” cách xa 20000 năm ánh sáng, gần trung tâm của giải ngân hà (the Milky Way) (x. The Orange Register, Jan. 26-2006, News 14).

Một tóan thiên văn gia khác ở Pasadena, California, loan báo ngày Feb. 8, 2006 rằng họ đã tìm thấy dấu vết của hai thái dương hệ cực lớn (two mega solar systems). Đó là những ngôi sao vĩ đại bao quanh bởi các đĩa bụi không gian khổng lồ có hình dáng hành tinh. Các ngôi sao này lớn gấp từ 30 đến 70 lần mặt trời của chúng ta. Kết quả khám phá này sẽ được đăng trên số báo ngày Feb. 10 của tạp chí Astrophysical Journal Letters (x. The Orange county Register, Feb. 9, 2006, News 5).

  • Cũng trong lãnh vực khoa học thiên nhiên, có những sự vật mà con người không thể nhìn thấy bằng mắt trần, nhưng chúng vẫn hiện hữu và con người nhận ra chúng qua tác dụng của chúng. Chẳng hạnh như dòng điện (electricity) chạy trong đường dây điện nối từ cột điện ngòai đường vào trong nhà chúng ta để thắp sáng điện nhà. Chúng ta thực ra không thể nhìn thấy dòng điện, mà chúng ta chỉ biết là có điện nhờ tác dụng của nó, tức là làm sáng nhà chúng ta mà thôi. Chẵng hạn như gío. Chúng ta không nhìn thấy gío nhưng chúng ta nhận ra gío qua tác dụng của các cơn gío bão.
  • Ngòai những định luật tự nhiên chi phối và điều hướng thế giới hữu hình, còn có những định luật khác chi phối và điều hướng đời sống tâm lý, tâm sinh lý và xã hội của con người. Chúng ta không thể dùng con mắt thịt để khám phá ra chúng mà phải dùng một khả năng khác của con người là cảm nghiệm bằng con tim hoặc qua kinh nghiệm sống, nghĩa là chúng ta không nhìn thấy chúng nhưng có thể cảm thấy chúng có thực. Chẳng hạn như “luật nhân quả” mà cha ông chúng ta ở Việt Nam thường hay khuyên dạy con cháu là “Xem quả biết cây”, nghĩa là cây tốt thì sẽ sinh trái tốt và cây xấu thì sẽ sinh trái xấu hoặc “Gieo gió gặt bão”. Các cụ từng trải kinh nghiệm trường đời cũng thường khuyên các bậc làm cha mẹ ăn ngay ở lành để lại phúc đức cho con như: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, hoặc hậu qủa của các đối xử đối với cha mẹ như: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”; hoặc cách đối xử với nhau trong xã hội như Đức Khổng Tử dạy: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Đừng làm cho người khác những điều mình không muốn người khác làm cho mình).
  • Sau cùng, con người còn bị chi phối bởi các luật tâm linh có tính cách siêu nhiên và vượt lên trên các luật tự nhiên và xã hội. Đó là các luật do các tôn giáo dạy bảo như mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Thánh Thể của Kitô-giáo, thuyết luân hồi của Phật Giáo, thuyết vô vi của Lão Giáo v.v. Dĩ nhiên các luật này không thể kiễm chứng bằng khoa học thực nghiệm, mà cũng chẳng có thể hiểu được bằng khoa học nhân văn của con người nhưng chỉ có thể cảm nghiệm được bằng đức tin mà thôi. Vì thế, thánh Phaolô tông đồ đã khuyên các tín hữu Côrintô rằng “Chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (For we walk by faith, not by sight. – II Corintô 5:7).

LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!
(Vậy căn cứ theo điều mà chúng ta đã được dạy ở trường học hôm nay, thì cô giáo có thễ không có bộ óc!)

Lời bàn #2: Qủa là gậy ông đập lưng ông!

Cứ theo diễn tiến của câu chuyện vể thuyết tiến hóa (evolution) nói trên, cô giáo dùng lối quan sát thực nghiệm để hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và Thiên Chúa, để rồi đi đến kết luận là Thiên Chúa có thể không hiện hữu vì trò Tommy đã không nhìn thấy Thiên Chúa trên bầu trời. Để phản ứng lại lối kết luận dựa vào quan sát thực nghiệm này của cô giáo, cô học trò nhỏ 6 tuổi cũng hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và cô giáo, để đi đến kết luận là cô giáo có nhẽ không có óc (brain) vì trò Tommy nhìn thấy cô giáo nhưng đã không nhìn thấy óc của cô giáo.

Thực ra, cô học trò nhỏ biết chắc rằng cô giáo có đầu và có cả óc! Nhưng cô học trò chắc có ý muốn nói rằng cô giáo đã không biết xử dụng trí óc mà Chúa ban cho, để suy luận rằng nếu có cây, cỏ, bầu trời thì phải có Đấng tạo ra các thứ đó. Chứ các thứ đó không thể tự nhiên mà có được như thuyết tiến hóa chủ trương.

Nếu qủa cô học trò nhỏ này có ý muốn nói như vậy thì thâm ý của tác giả câu chuyện này nhằm bài bác thuyết tiến hóa đang được dạy trong các trường học công của Mỹ, và đồng thời chê cô giáo là thiển cận, vì chỉ nhìn biết sự vật bên ngòai mà không nhận biết các sự vật bên trong hoặc bên trên các sự vật hữu hình.

Đây qủa là bài học chua chát và đắng cay cho cô giáo vì bị lâm vào cảnh “gậy ông lại đập lưng ông”. Câu chuyện này cũng là một lời cảnh giác cho các phụ huynh có con em đang theo học các trường học nơi thuyết tiến hóa đang được nhồi nhét vào đầu óc non dại của con em họ như một môn khoa học. Còn đối với độc giả như tôi, đây là một câu chuyện rất thú vị và đầy ý nghĩa: thú vị vì tôi hiểu dụng ý của tác giả khi dùng một cô học trò mới 6 tuổi, cở lớp 1 hoặc lớp 2 tiểu học (the first or second grader) mà biết dùng chính những câu hỏi của cô giáo để bài bác lối kết luận hồ đồ của cô giáo, dù cô học trò nhỏ đó chưa chắc đã hiểu thuyết tiến hóa là gì. Hơn nữa, câu chuyện này rất có ý nghĩa vì câu chuyện cũng khiến tôi phải thận trọng suy nghĩ chín chắn trước khi giải thích cho ngay cả trẻ con về một điều gì, để tránh gặp phải cảnh “gậy ông đập lưng ông” như cô giáo trong câu chuyện này.

Lời bàn #3: Con người được tạo dựng hoặc tự tiến hóa?

(Creation vs. Evolution)

Cuộc tranh luận về việc bằng cách nào lòai người đã xuất hiện trên trái đất này đã xảy ra ngay từ sau khi ông Charles Darwin, một tác giả người Anh cho xuất bản cuốn sách nhan đề “On the Origin of Species by Means of Natural Selection” năm 1859, trong đó ông chủ trương rằng các sinh vật trên trái đất này tăng triển là do sự tiến hóa (evolution). Theo thuyết tiến hóa này, lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, nhưng Thiên Chúa đã không tham dự vào sự tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, but God had no part in this action).

Trước khi thuyết tiến hóa ra đời, những người có tín ngưỡng tin vào thuyết tạo dựng (Creation). Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người với hình dạng hiện nay như đã được diễn tả trong Thánh Kinh (God created human beings in their present forms as described in the Bible).

Giữa hai thuyết tạo dựng và tiến hóa, có một thuyết khác được mệnh danh là “Intelligent Design” (tạm dịch là Bộ Óc Siêu Việt). Thuyết này mới xuất hiện gần đây và chủ trương rằng lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, và Thiên Chúa đã chỉ đạo tiến trình tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, and God guided this process).

Theo kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến vào ngày Sept. 8-11 năm 2005 của CNN/USA Today/Gallup, 58% dân chúng Mỹ tin vào thuyết tạo dựng so với 55% tin vào thuyết tiến hóa và 31% tin vào thuyết Intelligent Design. Ngòai ra, đa số dân chúng Mỹ muốn thuyết tiến hóa (61%) và tạo dựng (54%) nên được dậy trong các trường công lập, trong khi đó chỉ có 43% đồng ý cho thuyết Intelligent Design được dậy.

Tiến trình tranh luận và kiện tụng về thuyết tiến hóa và tạo dựng:

Năm 1925: John Sopes, một giáo sư trung học, bị tố cáo tội vi phạm luật tiểu bang Tennessee về việc trình bầy thuyết tiến hóa của Darwin trong trường công lập.

Năm 1942: Một cuộc thăm dò 3000 giáo sư trung học cho thấy không tới một nửa dậy thuyết tiến hóa cho học sinh.

Năm 1968: Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng luật tiểu bang cấm dậy thuyết tiến hóa nơi nhà trường là vi phạm điều “tự do tôn giáo” của Tu Chính Án Thứ Nhất (the “freedom of religion” clause of the First Amendment).

Năm 1995: Hội Đồng Giáo Dục Tiểu Bang Alabama đòi hỏi các sách giáo khoa đề cập đến thuyết tiến hóa phải kèm theo một câu rằng sự tiến hóa “nên được coi như một giả thuyết, chứ không phải một sự kiện” (evolution “should be considered as theory, not fact”).

Năm 1998: Học Viện Quốc Gia Khoa Học (The National Academy of Science) ban hành một văn kiện kêu gọi thuyết tiến hóa được các nhà khoa học chấp thuận phải được dậy trong các trường công lập.

Năm 2003: Đạo luật “The No Child Left Behind Act” đề nghị rằng các học sinh nên được dậy về các vấn đề tranh cãi liên quan đến sự tiến hóa.

Năm 2004: Hội đồng giáo dục ở Dover, Penn., đòi hỏi các lớp sinh vật học trung học phải dậy intelligent design cùng với thuyết tiến hóa.

Năm 2005: Nhiều hội đồng giáo dục ở Hoa Kỳ đòi hỏi rằng intelligent design phải được dậy kèm theo sự tiến hóa hoặc các sự phê bình về thuyết tiến hóa phải được nêu rõ ra (Nguồn: The Orange County Register, Oct. 18, 2005, News 2).

Lời bàn #4: Ngoài Thánh Kinh, làm sao chúng ta biết có Thiên Chúa? (Other than the Bible, how do we know God exists?)

Thánh Kinh đã mặc khải cho chúng ta biết có Thiên Chúa tòan năng, Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ và con người. Ngài không ngừng mời gọi con người tìm kiếm Ngài để được sống sung mãn và tìm được hạnh phúc thật. Nhưng ngòai Thánh Kinh, làm sao chúng ta nhận biết có Thiên Chúa?

Muốn nhận biết Thiên Chúa, con người phải nỗ lực tìm kiếm bằng trí tuệ, bằng sự ngay thẳng của ý chí, bằng “một tấm lòng thành”, và cũng cần có chứng từ của những người khác để dạy con người biết tìm kiếm Ngài (GLCG đ. 30).

Về chứng từ ngòai Thánh Kinh, một đại giáo phụ của Giáo Hội là thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 (1224-1274) đã nói rằng chỉ dùng lý trí không thôi, con người cũng có thể nhận biết được Thiên Chúa. Trong bộ sách Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica, Part 1, Question 2, Article 3), thánh nhân đã đưa ra 5 luận chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa (Five Ways, Quinque Viae) như sau:

Luận chứng #1: liên quan đến sự chuyển động và thay đổi trong vũ trụ càn khôn. Bất cứ vật gì chuyển động được tức phải có một động lực nào khác làm cho nó chuyển động.

Luận chứng #2: bàn về nguyên nhân và hiệu quả (cause and effect); bởi vì trong thiên nhiên không có có vật nào tự nó cấu tạo thành mà phải có một nguyên lý khởi đầu là Thiên Chúa.

Luận chứng #3: lập luận rằng phải có Thiên Chúa trong mọi sự vật vì mọi sự vật được xuất phát từ Thiên Chúa.

Luận chứng #4: đề cập đến những mức độ hòan hảo hay tốt lành khác nhau của các sự vật. Mọi vật đều tốt lành hoặc hòan hảo ở những mức độ khác nhau nhưng chỉ có một điều tuyệt đối hòan hảo và đúng thực là Thiên Chúa.

Luận chứng #5: liên quan đến mục đích tối hậu và cùng đích của mọi vật; người ta có thể tìm thấy Thiên Chúa qua sự nhìn nhận rằng trong sự trật tự của vũ trụ phải có sự điều hướng hay mục đích, và mục đích hay điều hướng này chính là Thiên Chúa.

Từ 5 luận chứng này, thánh Tôma đi đến kết luận rằng tất phải có một Động Lực Chính (a Prime Mover), một hữu thể hòan hảo (a perfect being), một động lực bất biến (an unmoved mover), đó là nguyên ủy của tất cả tạo vật và là nguyên nhân nhờ đó chúng ta được hiện hữu trên trái đất này. (Nguồn: Matthew Bunson, Enclyclodia of Catholic History, Our sunday Visitor, Inc., Hunting, Indiana, USA, 1995, pp. 700-701).

Thánh Kinh cũng có những đọan ca ngợi Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn như sau:

  • Bởi đó chúng ta nhận biết được Thiên Chúa tự hữu qua vật thụ tạo của Ngài (TV 19:2).
  • Chỉ có một Thiên Chúa tòan năng mới có thể tạo dựng nên vũ trụ, địa cầu, con người và mọi lòai mọi vật một cách hòa điệu nhịp nhàng (Isaia 44:24; Gióp 38:4-39:30).

Lời bàn #5: Hiện hữu, hiện diện và hiện thực

Nhân câu chuyện nêu trên liên quan đến việc Chúa có hiện hữu không, tôi muốn bàn thêm về vấn đề hiện thực: sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong phép Thánh Thể (the real presence of Jesus Christ in the Eucharist). Đây là vấn đề đã được đặt ra từ thời Chúa Giêsu Kitô và vẫn còn tranh luận cho đến ngày nay.

Để có thể hiểu vấn đề hiện thực này, chúng ta cần tìm hiểu và phân biệt các danh từ thường hay được sử dụng liên quan đến vấn đề hiện thực như hiện hữu và hiện diện.

Một hữu thể thì luôn luôn hiện hữu dù không một ai biết đến nó. Sở dĩ người ta không biết đến hữu thể đó vì nó không được nhận diện (vì không ai biết đến nó), và vì nó không được nhận diện nên nó không hiện diện (coi như không có mặt) đối với người ta, và vì nó không hiện diện nên người ta coi như nó không hiện hữu (không có thực). Chẳng hạn một hòan đảo ngòai đại dương xa xăm mà chưa ai biết đến thì hòn đảo này có thực không? Chắc chắn là nó có thực (hiện hữu) mặc dù chúng ta chưa có dịp nhìn thấy tận mắt mà thôi. Cho đến khi người ta tìm ra hòn đảo đó thì hòn đảo đó dù vẫn hiện hữu nhưng nay mới trở thành hiện diện vì đã được người ta nhận diện.

Như vậy, một hữu thể chỉ hiện diện khi nó thiết lập được mối tương quan  đối với các hữu thể khác. Một hòn đảo là một vật thể có thực (hữu thể) nhưng chỉ được người ta coi là có thực (hiện thực) khi người ta tìm ra nó (nhận diện), và do đó hòn đảo này mới hiện diện đối với người ta, mặc dù nó đã hiện diện đối với cỏ cây, mây nước và dã thú trên đảo từ lâu rồi.

Một số nhà thần học công giáo thời nay cố gắng dùng hiện tượng luận (phenomenology) (ý niệm hữu thể, hiện hữu, hiện diện) để giải thích sự hiện diện thực sự (hiện thực) của Chúa Giêsu Kitô trong phép Thánh Thể.

Đối với họ, mối tương quan cá vị và thiêng liêng thì thực hơn là mối tương quan vật lý và thể chất. Vì vậy, họ nhìn bánh và rượu trong phép Thánh Thể trong ánh sáng của mối liên hệ đối với Chúa và đối với con người.

Tự bản chất của một hữu thể là mang ý nghĩa nào đó cho một người nào đó, và vì vậy ý nghĩa nguyên thủy của hữu thể nằm ở trong thực tại của chính hữu thể đó, nên nếu một hữu thể không mang một ý nghĩa nào đó đối với một người nào đó thì nó không phải là nó nữa [In their own being, things have a meaning for someone (God, man), an original meaning which belongs to the reality itself, since, without this “having meaning for,” something is not what it is) (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, pp. 112-113]. Chẳng hạn, hột đậu nành (soybean) trước đây chỉ được dùng làm thực phẩm (sữa đậu nành, đậu phụ) thì nay cũng được dùng làm nhiên liệu chạy xe (biodiesel) thay cho xăng dầu (petroleum diesel). Theo nguồn tin của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, nhiên liệu đậu nành là một lọai nhiên liệu thay thế đang phát triển nhanh nhất ở Mỹ. Số tiêu thụ năm ngóai đã tăng gấp ba tức 75 triệu gallons. Trên thị trường hiện có bán lọai nhiên liệu đậu nành chạy xe hơi với nhãn hiệu “BioWillie” mang tên B20, pha trộn của 80 % xăng dầu và 20 % nhiên liệu chế từ đậu nành (Nguồn tin: The Orange County Register Feb. 9, 2006).

Vậy ý nghĩa của mối tương quan hỗ tương giữa đậu nành và ngừơi sử dụng thay đổi (đậu nành dùng làm thực phẩm hay nhiên liệu) thì bản chất của nó cũng thay đổi (thực phẩm đậu nành hay nhiên liệu đậu nành).

Ngòai mối tương quan do cách sử dụng ấn định, cũng có những mối tương quan do con người có thẩm quyền quyết định; trong những trường hợp này, bản chất thực sự của một hữu thể là do người có thẩm quyền quyết định. Chẳng hạn trường hợp của lá quốc kỳ Việt Nam. Đó chỉ là một mảnh vải màu vàng với ba sọc đỏ do một họa sĩ vẽ ra, và được Vua Bảo Đại quyết định chọn làm lá cờ tượng trưng cho Quốc Gia Việt Nam. Khi đó nó không còn là miếng vải thường nữa mà mang một ý nghĩa hòan tòan khác. Dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi nhưng ý nghĩa mới của nó là biểu tượng cho hồn thiêng sông núi, hồn thiêng dân tộc. Miếng vải có được ý nghĩa mới này là do sự thay đổi về mối tương quan đối với quốc dân Việt Nam. Khi mà mối tương quan thay đổi thì bản chất của miếng vải củng hòan tòan biến đổi.

Trong trường hợp của Thánh Thể cũng vậy. Bánh và rượu khi được truyền phép đã trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Theo quan niệm của thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 dựa trên ý niệm triết học về “bản thể và phó thể” (substance and accident) của triết gia Aristote, bản thể của bánh và rượu đã biến đổi thành bản thể của Mình và Máu Chúa Kitô. Công Đồng Tridentô năm 1551 gọi sự biến đổi này là biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation).

Phần lớn các nhà thần học hiện đại không còn dùng ý niệm bản thể của Aristote để giải thích sự biến thể mà dùng ý niệm tương quan của bánh rượu đối với Thiên Chúa và người tín hữu. Bánh rượu sau khi được truyền phép có một ý nghĩa mới. Ý nghĩa mới này không do con người ấn định, nhưng do Con Thiên Chúa. Mối tương quan do Con Thiên Chúa ấn định mang lại ý nghĩa tuyệt đối và ấn định bản thể là Thánh Thể đối với tín hữu. Còn những ai không tin, và do đó không nhìn theo khía cạnh này, họ tự đặt mình ra ngòai một thực tại hiện diện một cách khách quan [In the case of the Eucharist too, a new meaning is given to the bread and wine, not by any man, but by the Son Of God. The relationship which is brought  about by the Son of God is, because it is divine, binding in the absolute sense and determines the being of the Eucharist for the believer. Anyone who does no believe, and consequently does not see it in this way, places himself outside the reality which is objectively present – he is outside the order of being (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, p. 113].

Xưa kia tại Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ rồi phán bảo các môn đệ: “Này là Mình Thầy, hiến tặng vì các con. Các con hãy cầm lấy mà ăn”. Rồi Người cầm lấy chén rượu, cũng dâng lời cảm tạ rồi phán: “Này là Máu Thầy, máu giao ước mới sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội. Các con hãy cầm lấy mà uống. Các con hãy làm việc này mà nhớ đếnThầy” (Lc 22:19-20).

Bánh rượu là thực phẩm nuôi sống con người về mặt thể chất. Nhưng khi Chúa Giêsu phán “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì bánh rượu không còn là thực phẩm vật chất nữa, mà đã trở nên Mình và Máu của Chúa Giêsu để nuôi linh hồn chúng ta.

Sự thay đổi bản thể của bánh và rượu là do ý muốn và quyền năng của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa tòan năng. Ngài đã phán một lời là có vũ trụ và muôn lòai, nên Ngài cũng có thể phán một lời để biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Ngài (x. GLCG  đ. 1375).

Còn đối với các tín hữu tin vào Chúa Kitô là Ngôi Lời thì cảm nhận rằng khi họ rước bánh và rượu đã được truyền phép thì họ rước chính Mình và Máu Chúa Kitô. Đối với các tín hữu này, bánh và rượu nay có một ý nghĩa hòan toàn khác, dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi, nhưng bản chất đã thay đổi do sự thay đổi trong mối tưởng quan cá vị (inter-personal relationship) giữa bánh rượu và người thụ hưởng. Tương quan ý nghĩa thay đổi thì bản chất của bánh và rượu cũng thay đổi. Sự thay đổi về ý nghĩa của mối tương quan này là cốt lõi (radical) hơn cả sự thay đổi thể lý đơn thuần (purely physical). Sự thay đổi này có thể được gọi là sự thay đổi bản thể (substantial change). Thay đổi bản thể thì sâu xa và tận căn hơn là thay đổi thể chất (E. Schillebeecks, the Eucharist, trang 130-151).

Ngày nay, tuân theo lệnh truyền của Chúa Giêsu là “Các con hãy làm việc ày mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:20), khi linh mục đại diện cho Giáo Hội, cử hành thánh lễ misa, và lập lại lời truyền phép: “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì lập tức bánh và rượu cũng trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu do quyền năng của Lời Chúa và do tác động của Chúa Thánh Thần (GLCG đ. 1375). Đây là sự biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation) mà Công đồng Tridentô đã định tín ngày 11 tháng 10 năm 1551: dù hình dáng và mầu sắc bên ngòai không có gì thay đổi nhưng bản chất của bánh và rượu đã biến thành Mình và Máu Chúa Giêsu sau lời truyền phép.

Tuân theo tín điều biến thể của Công Đồng Tridentô, Giáo Hội ngày nay vẫn còn xác tín sự hiện diện bản thể (substantial presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đđ. 1374, 1376), và khi người tín hữu rước lễ là rước chính Mình và Máu Chúa Giêsu. Mặt khác, Giáo Hội ngày nay cũng nhìn nhận rằng phép Thánh Thể còn là một bí tích, nghĩa là một dấu chỉ bề ngòai (sign) để thể hiện hoặc tiềm ẩn một ý nghĩa hay một ơn ích bên trong (what it signified). Dấu chỉ bề ngòai đó là lời truyền phép trên bánh rượu để biến bánh rượu trở thành tặng phẩm của Chúa Kitô là chính Ngài, nghĩa là quà tặng cũng chính là người tặng. Tặng phẩm đây không phải là tấm bánh mà là chính Chúa Giêsu đã hiến tế vì anh em (Object is not bread but Christ); và khi rước lễ, chúng ta lãnh nhận được ơn ích, đó là chính sự sống thần linh của Chúa Giêsu. Bánh là biểu tượng của sự sống (symbol of life), và rượu là biểu tượng cho niềm vui của cuộc sống (symbol of joy of life). Vậy khi Chúa Kitô cầm lấy bánh mà phán: “Này là mình Ta, hiến tặng vì anh em… Này là máu Ta sẽ đổ ra vì anh em” (1 Cor 11:24) thì lời này cũng đồng nghĩa với “Này là sự sống của Ta hiến tặng vì anh em”. Do đó, khi rước lễ là lãnh nhận chính sự sống của Chúa Kitô. qua và trong hình bánh và rượu, chúa Kitô cũng trao tặng cho Giáo Hội món quà tuyệt vời, đó là chính người tặng, chính Chúa Kitô. Đó là sự hiện diện bí tích (sacramental presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đ. 1380).

Dù Chúa Giêsu hiện diện bản thể hay hiện diện bí tích, phép Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin, và vì vậy chúng ta chỉ có thể cảm nhận được bằng đức tin mà thôi dưới sự soi sáng và linh ứng của Chúa Thánh Thần (GLCG Đ. 1381).

Lộc Vũ

Đầy Tớ Vô Dụng

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

vô dụng, đầy tớ

Đầy Tớ Vô Dụng

  • Lộc Vũ

Trong buổi họp hàng tháng vào Chúa Nhật đầu tháng tại phòng tập hát cạnh văn phòng giáo xứ, Nhóm Nhỏ Kitô-hữu Inê Thành chúng tôi học hỏi và chia sẻ lời Chúa về bài phúc âm của thánh Luca 17:5-10 đăng trên tờ Hiệp Nhất hôm đó. Khi các tông đồ xin Chúa Giêsu ban thêm lòng tin cho họ, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp là có ban cho họ hay không, nhưng Ngài lại kể một câu chuyện về cách đối xử của ông chủ nhà đối với người đầy tớ vừa mới cầy bừa ngoài đồng trở về. Một là mời người đầy tớ vào bàn ăn, hai là bảo người ấy dọn bữa tối cho chủ ăn xong rồi mới được ăn. Rồi Ngài hỏi ngược lại các tông đồ rằng, “Chớ thì chủ nhà có phải mang ơn người đầy tớ, vì nó đã làm theo lệnh ông dạy không?” Rồi Ngài tự trả lời là không, và khuyên các môn đệ rằng, “Khi các con làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.” (Lc 17:10).

Bài phúc âm này có vẻ khó hiểu vì các môn đệ xin một đàng thì Chúa Giêsu lại cho một nẻo. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực mà Chúa muốn dạy các môn đệ qua đoạn phúc âm này?

Để dẫn giải ý nghĩa của bài phúc âm này, Lm. Xuân Nguyên kể chuyện về một ngôi thánh đường mới khánh thành do tiền đóng góp của mọi giáo dân trong một cộng đoàn nọ, và ngài nhận định như sau:

“Điều làm cho ngôi nhà thờ vật chất có giá trị là do bởi lòng quảng đại dâng cúng đóng góp xuất phát từ sự hy sinh thật tình như của lễ chung góp vào lễ hy sinh thánh giá của con người. Lúc đó, mọi cá nhân sẽ hòa hợp nên một như của lễ duy nhất, và tự nhiên họ được hòa tan trong sự hiện diện của Chúa Kitô thập giá ở đó.  Chúa Kitô dạy chúng ta về sự hy sinh này: ‘Phần các con, khi làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.’ (Lc 17:10). Phải, bởi vì Chúa thích tấm lòng hy sinh chứ không phải của lễ” (trích Hiệp Thông số 83).

Qua lời giải thích trên đây của cha Xuân Nguyên, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ bài học hy sinh. Rồi cha ngưng lại ở đó mà không giải thích thêm. Còn đối với bản thân tôi là một người giáo dân bình thường, tôi nghĩ rằng Chúa muốn tôi phải có thái độ khiêm hạ khi làm công việc Chúa giao phó.  Khi làm bất cứ công việc gì mà Chúa muốn tôi phải làm, tôi làm công việc đó như một bổn phận. Dù không muốn làm, tôi  cũng phải hy sinh mà làm, không được phép từ chối hay thoái thác vì bất cứ lý do gì,  vì đó là bổn phận hay nghĩa vụ của một người tin theo Chúa. Và khi làm xong, tôi phải có lòng khiêm hạ mà nhìn nhận rằng mình chỉ là người đầy tớ vô dụng vì chỉ biết làm điều mình phải làm. Quả vậy, trong cuộc sống của một người Kitô-hữu, tôi phải giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời, 6 điều răn của Hội Thánh, 14 mối thương người và cố gắng sống theo 8 mối phúc thật mà Chúa đã truyền dạy. Tôi chưa có một sáng kiến hay tự ý làm hơn những điều Chúa muốn nơi tôi cả. Vì thế dù tôi có thành công lớn lao trong công việc Chúa muốn tôi làm, tôi không thể tự hào về bổn phận phải làm; tôi càng không được phép kể công với Chúa hay với bất cứ ai; nhất là tôi không có quyền đòi hỏi Chúa phải cám ơn hoặc trả ơn cho tôi qua các lời tôi cầu xin nơi Chúa, vì Chúa đã trả lời rõ ràng là chủ nhà KHÔNG phải mang ơn người đầy tớ khi nó đã làm theo lệnh của chủ (x. Lc 17:9). Đến đây tôi tự nhủ rằng không biết có công việc nào Chúa muốn tôi làm mà lại thưởng công cho tôi không? Chẳng hạn như việc truyền giáo? Một giáo dân tầm thường như tôi không đi tu mà lại tự nguyện làm công việc rao giảng Tin Mừng của các cha và các sơ thì có được Chúa thưởng công cho chăng?

Vì Nhóm Nhỏ không có cha linh hướng và không biết hỏi ai, nên tôi tự mò mẫm tìm hiểu qua Thánh Kinh, các giáo huấn của Giáo Hôi và các sách báo công giáo. Cuối cùng tôi tìm thấy các giáo huấn về tông đồ giáo dân dưới đây.

Truyền Giáo: Tự Nguyện hay Nhiệm Vụ?

“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy truyền cho các con” (Mt 28, 19- 20). Chúa Kitô, trước khi về trời đã để lại cho Hội Thánh lệnh truyền ấy như là lời di chúc đặc biệt mà Giáo Hội vẫn tiếp tục thực thi cho đến thời đại ngày nay. Tôi là một chi thể của Giáo Hội nên tôi cũng phải chia sẻ sứ mệnh truyền giáo trong bậc sống của tôi.

Thánh Phaolô tông đồ đã tự thú rằng:  “Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! Tôi mà tự ý làm việc ấy, thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công; còn nếu không tự ý, thì đó là một nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó” (1 Cor 9, 16-17).

Công Đồng Vaticanô II qua hiến chế Tín Lý Về Giáo HộI (GH) và sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân (TĐGD) công bố từ năm 1965 đã nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dân là phải truyền bá Phúc Âm cho thế giới và làm chứng nhân cho Chúa Kitô (GH số 35 & 36), và canh tân các trật tự trần thế trong bậc sống của mình (TĐGD số 7).

Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm 2002 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: “Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa, điều có thể khiến cho muôn người của các chủng tộc và văn hóa khác nhau nên anh chị em với nhau, mới có thể chữa lành những chia rẽ đau đớn: tranh chấp ý thức hệ, mất quân bình kinh tế và bạo lực là những gì đang đè nặng lên nhân loại” (Sứ điệp Truyền giáo, số 2).

“Vâng, chúng ta không bao giờ xấu hổ vì Tin Mừng và không bao giờ sợ hãi tuyên bố rằng chúng ta là Kitô Hữu, không bao giờ che dấu đức tin chúng ta. Thay vì vậy, chúng ta phải tiếp tục nói để mở rộng những không gian cho việc công bố ơn cứu độ, vì Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mãi mãi và Ngài luôn luôn ở giữa các môn đệ Ngài” (Sứ điệp Truyền giáo 2002, số 6).

Truyền Giáo: bằng rao giảng hay bằng chứng nhân?

Là một phần tử của Giáo Hôi với sứ mệnh được sai đi đem tin mừng Phúc Âm cho mọi người, mỗi người gíao dân bắt buộc phải làm việc tông đồ vì “việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô-giáo” (Jn 4:14). Nhiệm vụ đó không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích chung của mọi người. Vì vậy, mỗi giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào công cuộc tông đồ và truyền giáo của giáo hội địa phương bằng việc tông đồ cá nhân hoặc tông đồ tập thể trong các đoàn thể, hiệp hội, phong trào giáo dân (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân của ĐGH Gioan Phaolô II, số 28).

Các vị chủ chăn trong Giáo Hội nhấn mạnh về vai trò chứng nhân cho Tin Mừng của người công giáo trong thế giới hôm nay như sau:

ĐGH Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ trong dịp mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2000 rằng: “Chỉ có những người tín hữu đang thực sự sống những gì mình tuyên giảng trên môi, mới được người khác đón nghe mà thôi” (Hiệp Thông 18-6-2000).

ĐGH Phaolô VI: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì vì những vị thầy nầy đã là những chứng nhân”.

Giám Mục Gerard Huyghe, cựu Giám mục giáo phận Arras, Pháp: “Giá trị của một Giáo Hội không dựa vào con số người nhập đạo, nhưng ở tại chứng tá Tin Mừng mà các cộng đoàn kết hợp nên Giáo Hội thực hiện” (trích trong cuốn Le Chrétien au seuil des temps nouveaux của Hồng Y Suenens, Ed. Fiat, 1997, tr. 51).

Gần đây nhất, tôi đọc được một quan niệm truyền giáo thực tiễn sau đây của Tập San Dấn Thân số mới nhất, đăng trên tuần báo điện tử Công giáo Maranatha số 24 ngày 23-10-2004:

             “Chúng tôi quan niệm truyền giáo không phải chỉ là đứng rao giảng giữa nhà thờ, xây cất, sửa sang những đền thờ lộng lẫy để Chúa có chỗ ngự, nhưng quan trọng hơn, là đi, là sống thật những điều rao giảng, mở rộng cửa nhà Chúa cho mọi người trong đạo cũng như ngoại đạo, là phá đổ những hàng rào ngăn cách, đi tìm những con chiên lạc mang về, là phục vụ không phải được phục vụ… Hơn ai hết, những môn đệ theo chân Chúa phải là những người sống thật, sống đúng tinh thần khó nghèo, phục vụ, yêu thương của Đức Kitô khi Người còn ở dương thế. Chúng tôi cũng quan niệm theo đạo, giữ đạo, chuẩn bị cho cuộc sống đời sau không phải chỉ là đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện, xin lễ, quà tặng hậu hỉ cho chủ chiên, rộng rãi góp tiền xây cất thánh đường nguy nga là đủ…, nhưng quan trọng hơn, làm muối mặn men nồng, mang tình yêu thương đến những người bất hạnh, kém may mắn hơn mình; sống đức tin không phải chỉ mến Chúa mà còn phải yêu người vì như Chúa dạy “Ai cho người đói ăn, người khát uống, người rách mặc… là đã làm cho chính Thầy đó.” Đạo Chúa không phải để “giữ” mà để “truyền”. Tin Mừng không phải để giấu kín, dành riêng cho bổn đạo mà phải được mọi thành phần dân Chúa làm loa phát đi, không rao phát bằng lời nói mà rao phát bằng đời sống, bằng hành động dấn thân phục vụ tha nhân”.

 Tin Đạo, Giữ Đạo và Sống Đạo

Qua các tài liệu trên tôi hiểu ra rằng tôi có bổn phận làm tông đồ giáo dân để rao giảng những điều mình tin và sống những điều mình giảng. Tôi phải sống đạo chứ không chỉ giữ đạo. Mà sống đạo tức là phải thể hiện đức tin của mình qua lối sống công bình vị tha bác ái, biết cho đi hơn là nhận lãnh, và phải làm chứng cho Tin Mừng bằng hành động hơn là chỉ rao giảng xuông. Nhất là không được tự hào về những thành quả đạt được vì như thánh Phaolô đã từng nói, không phải tôi cải hóa người khác mà chính là nhờ quyền năng của Lời Chúa. Tôi cũng không được đòi hỏi Chúa phải trả công cho tôi; không được phàn nàn vì công tác tông đồ quá vất vả mà còn bị người khác hiểu lầm, ganh ghét hoặc chê bai này nọ.

Hiểu như vậy, tôi cảm thấy hổ thẹn về đức tin nông cạn của mình vì biết bao lần tôi đã tự hào rằng tôi tham gia vào nhiều đoàn thể công giáo tiến hành hơn các người khác; rằng Nhóm Nhỏ Kitô-hữu của tôi là nhóm duy nhất còn sinh hoạt trong khi các nhóm khác đã tan hàng sau Năm Thánh 2000; rằng tôi đọc nhiều sách và hiểu lẽ đạo thâm sâu hơn nhiều người khác; rằng một hội đoàn mà tôi đang tham gia tích cực nhất là hội đoàn hăng say nhất cộng đoàn, đóng góp nhiều nhất cho cộng đoàn và làm việc có phương pháp nhất cộng đoàn. Còn nhiều tự hào khác tôi vấp phải mà không đủ chỗ để kể ra cho hết.

Sau khi đã tìm hiểu, học hỏi và suy gẫm, tôi chợt hiểu ra ý Chúa khi các môn đệ xin ban thêm đức tin thì Chúa lại khuyên họ phải có thái độ khiêm hạ của một người đầy tớ vô dụng khi làm xong công việc chủ giao phó. Chính thái độ khiêm hạ xuất phát từ nhận thức được thân phận “đầy tớ vô dụng” của họ đã thể hiện đức tin đích thực của một người tin theo Chúa. Vì một khi đã nhận biết mình là “tôi đòi” của Chúa thì không có lý do gì để tự hào cả; còn việc có được khen thưởng hay không là do lòng khoan dung và nhân hậu của Chúa.

Lạy Chúa xin ban thêm đức tin cho con để con luôn luôn nhận thức được rằng con là “đầy tớ vô duyên bất tài, nhưng con luôn luôn trung tín chân thành” như lời của cha cố Phêrô Vũ Đình Trác đã ghi trong bản nhạc “Tình Chúa Yêu Tôi”. Và xin Chúa cũng ban thêm đức tin cho cả những anh chị em đang làm công tác tông đồ với con trong cộng đoàn của con nữa. Amen.

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

cuộc đời, thánh lễ

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời (The Mass in your Life)

  • Hồng Ân

  Thánh Lễ và Đời Sống

Thánh Lễ là trung tâm thờ phượng của đạo Công Giáo vì trong thánh lễ, chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng Mình Máu Chúa Kitô, bằng sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau trong cộng đồng dân Chúa. Hơn nữa, phép Thánh Thể trong thánh lễ bao gồm trọn vẹn kho tàng của Giáo Hội tức là chính Chúa Kitô, Bánh Vượt Qua và hằng sống của chúng ta (Euch. Myst., #6). Vì thế, Giáo Hội đòi buộc chúng ta phải đi tham dự thánh lễ ít nhất một lần mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật, và phải xưng tội rước lễ ít ra một lần trong Mùa Phục Sinh.

Thánh Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả Thánh Lễ trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, điều 47 như sau: “Vào Bữa Tiệc Ly, trong đêm bị nộp, Chúa Cứu Thế của chúng ta đã lập Phép Thánh Thể để vĩnh cửu hóa hy tế trên thập giá qua nhiều thế kỷ cho tới khi Người lại đến. Bằng phương thế này, Người muốn lưu truyền cho Hiền Thê yêu dấu của Người là Giáo Hội, việc tưởng niệm về cuộc tử nạn và phục sinh của Người: đó là một bí tích của tình yêu, một dấu chỉ hiệp nhất, một sợi giây ràng buộc bác ái, một bữa tiệc vượt qua  ‘trong đó chúng ta rước lấy chính Chúa Kitô, hầu tâm hồn được tràn đầy ân phúc, và được bảo chứng cho vinh quang mai sau'”.

Vì những lợi ích thiêng liêng của thánh lễ, nên người Công Giáo chúng ta đi lễ hàng ngày hoặc ít nhất cũng đi lễ Chúa Nhật hàng tuần, để rước Mình Máu Chúa Kitô vào lòng rồi lãnh phép lành bình an cuối lễ và trở về với cuộc sống mưu sinh hàng ngày. Vấn đề được đặt ra là để được hưởng ân phúc do thánh lễ đem lại, chúng ta phải thể hiện tinh thần thánh lễ trong cuộc sống hàng ngày bằng việc rao giảng Tin Mừng và thực thi bác ái đối với người khác. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, giống như những người khác, chúng ta cũng phải vật lộn với cuộc sống đầy bon chen, cạnh tranh ráo riết ở xã hội Mỹ này để nuôi gia đình, để có nhà có xe, có tiền đầu tư sinh lợi, có tiền đi giải trí, đi nghỉ hè hoặc phải dành dụm tiền để về hưu nữa. Bận rộn như vậy thì làm sao chúng ta có thì giờ để chia sẻ đức tin với người khác, và làm sao có đủ tiền bạc để giúp đỡ những người khác đang thiếu thốn hoặc gặp hoạn nạn. Nếu chúng ta chỉ đi dự thánh lễ, rước lễ rồi về tiếp tục cuộc sống thế tục mà thiếu tình bác ái đối với người khác thì liệu thánh lễ có ơn ích gì cho chúng ta không?

Để tìm giải đáp cho vấn đề này, chúng ta hãy thử tìm hiểu ý nghĩa của thánh lễ và đối chiếu thánh lễ trên bàn thờ với thánh lễ trong cuộc đời.

Thánh Lễ Trên Bàn Thờ

Thánh Lễ là một hy lễ tưởng niệm (memorial sacrifice), một hy lễ tạ ơn (thanksgiving sacrifice), và là hy lễ thánh vì thánh lễ hiện tại hóa một cách bí tich lễ hy tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô (sacramental actualization of Christ’s sacrifice) xưa trên đồi Golgotha một cách không đổ máu trên bàn thờ ngày nay để sinh ơn cứu độ cho cả nhân lọai (Hiến Chế về Giáo Hội, #28)(1).

Trong thánh lễ, khi cử hành phụng vụ Thánh Thể theo lệnh truyền của Chúa Kitô: ” Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, vị linh mục chủ tế lúc đó là hiện thân của Chúa Kitô, cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ ngợi khen Chúa Cha, rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn. Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy vào cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con cầm lấy mà uống. Nầy là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cữu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Website VietCatholic: Nghi Thức Thánh Lễ).

Trong phần cuối của thánh lễ trên bàn thờ, vị linh mục chủ tế ban phép lành cho chúng ta và chúc chúng ta ra về bình an. Khi trở về với cuộc sống hàng ngày, chúng ta phải mang theo sứ mệnh sống Lời Chúa nhắn nhủ trong bài Phúc Âm vừa nghe, và thực thi tinh thần Thánh Thể mà chúng ta vừa cử hành.

Trong thánh lễ, chúng ta hiệp dâng đời sống của chúng ta cùng với hy tế của Chúa Kitô lên Chúa Cha để xin ơn cứu độ. Nhưng của lễ chúng ta dâng chỉ đẹp lòng Thiên Chúa khi chúng ta sống theo thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày bằng cách chấp nhận những thử thách gian nan của đời sống Kitô-hữu, dấn thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi người, và thực thi bác ái để phục vụ tha nhân. Đó chính là thánh lễ trong cuộc đời của mỗi người Kitô-hữu chúng ta. (2).

Thánh Lễ Trong Cuộc Đời

 Thánh lễ còn được gọi là Lễ Misa, do từ Latin “Missio” nghĩa là “Sai đi”. Thánh lễ kết thúc với lời Hội Thánh sai các tín hữu đi vào đời để họ thực thi thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày (x. GLCG, đ. 1332). Đó là thánh lễ trong cuộc đòi của mỗi tín hữu chúng ta.

 Cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ:

Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta rằng mọi tín hữu vì là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô,  đều được tham dự vào cuộc sống của Chúa Kitô, nên họ đều mang trong mình lễ hiến tế của Người trong từng giây phút của cuộc đời “ngõ hầu sự sống của Người cũng được tỏ hiện nơi mình chúng tôi” (2Cor. 4:10). Vì thế cuộc đời của mỗi tín hữu phải là một một thánh lễ. Cũng như trong mỗi thánh lễ đều có phần công bố Lời Chúa, trong thánh lễ cuộc đời, Lời Chúa và Nhan Thánh Ngài cũng phải được công bố và biểu lộ ra qua mọi biến cố hàng ngày của người tín hữu. Trong mỗi thánh lễ đều có phần Truyền Phép để biến bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Kitô hầu làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, thì trong thánh lễ cuộc đời cũng phải có phần thánh hiến để biến bánh của mọi hoạt động và chén của những niềm vui nỗi buồn cùng mọi lao nhọc đau khổ để trở thành “thánh thể”, tức lời chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Đức Kitô. (3).

Cử hành thánh lễ trong đời sống hàng ngày

So chiếu với thánh lễ trên bàn thờ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng dâng lời ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa trong mọi công việc chúng ta làm; chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về mọi ơn lành chúng ta lãnh nhận; và chúng ta cũng phải “bẻ bánh” ra và trao cho những người khác bằng hành động chia sẻ đức tin và ân sủng Chúa ban cho người khác nữa.

Chúng ta chia sẻ ân sủng bằng việc thực thi bác ái đối với những người nghèo khó, phục vụ những người bệnh tật, họan nạn. Chúng ta chia sẻ đức tin bằng việc loan báo Tin Mừng cho người khác qua công tác tông đồ truyền giáo (4). Khi làm như vậy là chính chúng ta cũng đang cử hành thánh lễ trong cuộc đời để dâng lên Thiên Chúa mọi hành động và việc làm của chúng ta như của lễ tòan thiêu làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Thánh lễ trong cuộc đời là thể hiện tình huynh đệ để được ơn cứu độ

Phép Thánh Thể là nguyên lý hiệp nhất các Kitô-hữu thành nhiệm thể Chúa Kitô như Công Đồng Vaticanô đã qủa quyết: “Nhờ Bí Tích Thánh Thể, họ được tạo thành một thân thể liên kết chặt chẽ với nhau trong tình bác ái duy nhất của Chúa Kitô” (Sắc lệnh về Giám Mục, #15). Vì sự hiệp nhất trong tình bác ái duy nhất này, khi chúng ta tham dự vào Thánh Thể tức là chúng ta vừa tham dự vào đức bác ái, vừa phải thể hiện đức bác ái với tha nhân.

“Do đó, một cộng đồng cử hành Thánh Thể mà dửng dưng đối với những người khác, đặc biệt là các anh chị em trong cùng một cộng đồng, thì cuộc cử hành Thánh Thể chỉ là giả dối và vô nghĩa mà thôi. Nếu Mình Thánh Chúa được chứa đầy trong Nhà Tạm mà tâm hồn ta trống rỗng tình bác ái, điều đó có ích lợi gì cho ai. Khi ta đến rước Mình Thánh Chúa nơi cùng một bàn thờ, tham dự vào cùng một tấm bánh trong khi thiếu tình bác ái đối với nhau, không quan tâm gì đến nhau, thì quả ta đã làm cho Diện Mạo Chúa Kitô biến dạng đi và bôi nhọ Thánh Nhan Người. Thờ lạy và yêu mến Chúa hiện diện thực sự trong Nhà Tạm dễ hơn gấp bội thờ lạy và yêu mến Người hiện diện nơi tâm hồn tha nhân. Tóm lại, vì Phép Thánh Thể là ‘Bữa tiệc hiệp thông tình huynh đệ’ (Hiến Chế về Giáo Hội, #38), nên Bí Tích này luôn mời gọi và thôi thúc ta không những đi tới sự hiệp nhất trong tình bác ái huynh đệ, mà còn phải thể hiện tinh thần ấy nơi cuộc sống hàng ngày nữa.” (5).

Trong đời sống thường nhật đầy bon chen và thụ hưởng vật chất ngày nay, mỗi người chúng ta thường gặp những trạng huống đầy thử thách và cám dỗ, khiến chúng ta khó lòng thể hiện tình huynh đệ và thực thi bác ái với người khác, nhưng chúng ta phải kiên trì trong mọi thử thách và tuyệt đối trung thành với Chúa đến cùng thì mới được hưởng ơn cứu độ muôn đời. (6).

Thánh lễ trong cuộc đời tôi: Chứng từ của một giáo dân

Qua các phần trình bầy trên, người ta cảm thấy rằng cách hữu hiệu nhất để được ơn cứu độ là kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày của mình. Nhưng ngoài một số ít các vị thánh ra, người ta tự hỏi không biết có ai trong đại đa số các giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Chúa như thánh Phaolô tông đồ đã cảm nhận: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal. 2:20).

Để trả lời cho câu hỏi này, mời quý anh chị cursillista lắng nghe tâm tình dưới đây của một giáo dân đã cảm nghiệm được nên một với Người qua việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống ơn gọi gia đình. (7).

Ông là một giáo dân đã từng thao thức tự hỏi mình là làm sao cảm nhận được nên một với Chúa khi rước Mình Máu Chúa vào lòng mỗi khi tham dự thánh lễ? Ông đã từng siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch trước khi rước lễ, chầu Thánh Thể hằng giờ nữa. Nhưng ông vẩn không sao cảm nhận được nên một với Chúa. Ông suy nghĩ liên lỉ mà vẫn không tìm ra câu trả lời.

Cho đến khi ông tham dự buổi lễ kết thúc Năm Thánh Thể 2005 của giáo phận Worcester, nơi ông cư ngụ, ông vô tình đọc được một hàng chữ quen thuộc in trên tập sách nhỏ phát ra trong buổi lễ như sau: “Do this in memory of me” (Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy). Đột nhiên ông nghẹn ngào và bật khóc nức nở chỉ vì một hàng chữ quá đỗi quen thuộc mà ông coi thường không để ý đến. Tâm hồn ông xao động mạnh suốt ngày hôm ấy và niềm vui dâng trào không sao diễn đạt nổi. Ông cảm nhận rằng ông đã được gặp gỡ Chúa qua câu quen thuoäc này, và chính Chúa đã trả lời cho câu hỏi mà ông hằng thắc mắc lâu nay. Ông cảm tạ Chúa đã cho ông hiểu được ý nghĩa của lời Chúa mời gọi mọi người cử hành bí tích Thánh Thể qua câu nói đó, và ông cảm thấy có bổn phận phải mang Tin Mừng này cho tất cả mọi người dân Chúa.

Ông kể lại những điều Chúa nói với ông rằng: muốn nên một với Chúa qua mầu nhiệm Thánh Thể là phải làm và sống giống như Chúa: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” (Lc. 22:19). Câu này có nghĩa là phải cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong cuộc sống hàng ngày của mình, nghĩa là phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình mà chia sẻ cho tha nhân với lòng yêu thương chân thành như Chúa đã yêu ta đến nỗi chết vì ta vậy.

Chúa nói với ông rằng: “Để được nên một với Ta, con hãy làm giống như Ta với lòng yêu thương chân thành nhất mà chính Ta đã dạy và làm cho con từ cái chết đau thương trên Thánh Giá. Để được nên một với Ta, không chỉ là tham dự Thánh Lễ mỗi ngày, xưng tội giữ tâm hồn trong sạch rước mình máu Ta vào trong lòng con hay chầu Thánh Thể hằng giờ là đủ đâu, mà chính là con phải bẻ đôi tấm bánh cuộc đời mình ra mà chia sẻ cho tha nhân. Mà đã yêu thì phải yêu cho đến chết.”

…

Ông chia sẻ tiếp: “Nếu chúng ta cử hành Bí Tích Tình Yêu này trong đời sống hằng ngày như thế, Chúa sẽ hiện diện và đồng hành với mình cũng như khi rước Mình Máu Chúa vào trong lòng mỗi khi đến tham dự Thánh Lễ, chúng ta sẽ cảm nhận được nên một với Chúa qua Bí Tích Cực Thánh này, và nếu mọi người Kitô cùng làm như thế là chúng ta đang hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất với chính Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh trong một tình yêu duy nhất…”

Vì đã cảm nghiệm được ý nghĩa linh thiêng của việc cử hành bí tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày, ông ước mong rằng tất cả mọi người dân Chúa gồm mọi giáo dân và kể cả các linh mục “nên cử hành Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày để cùng được nên một với Chúa Kitô trong một tình yêu vĩnh cửu và đó cũng là con đường dẫn chúng ta về quê trời, có như vậy tất cả chúng ta mới có thể nếm được Bí Tích Thánh Thể trong cuộc sống hằng ngày với Chúa và với nhau.”

Cuối cùng ông đề nghị các việc cần làm để cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hàng ngày.

“Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ chén cơm manh áo hằng ngày trên bàn ăn trong gia đình của tôi cho người anh chị em kém phần may mắn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ sức lực mà Thiên Chúa ban cho tôi, vì họ là vợ, là chồng, là con cái và là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là chia sẻ trí thông minh để góp phần xây dựng cho Giáo Hội và cho tha nhân nhằm vô điều kiện mà chính Thiên Chúa đã ban tặng, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết quan tâm đến cha mẹ, ông bà, anh chị em, vợ chồng, con cái, biết xót thương những người gìa đơn chiếc, những người bệnh tật và những người khôn khồ trong xã hội hôm nay, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết khiêm nhường, biết tha thứ, biết nhận lỗi sửa sai và biết cảm thông đến những người xung quanh khi họ gặp khó khăn, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết nhịn nhục, kiên nhẫn khi gặp phải gian nan khốn khó trong cuộc sống cũng như khi bị người đời xúc phạm đến mình, biết vui với người vui, biết khóc với kẻ khóc, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là cầu nguyện cho những người đã khuất, cầu nguyện cho Giáo Hội hiệp nhất nên một tình yêu mà Chúa hằng mơ ước, vì họ là anh chị em tôi.

Cử hành Bí Tích Thánh Thể là biết chu toàn bổn phận mỗi ngày, vì tất cả mọi sự dẫn đến cho tôi đều nằm trong chương trình của Chúa giúp tôi nên Thánh.”

Lạy Chúa,

Cảm tạ Chúa đã cho con hiểu được làm sao để được nên một với Chúa.

Xin cho con biết rộng lượng bẻ đôi tấm bánh đời mình mà không cần do dự.

Xin cho con biết cảm nhiệm được Chúa trong mọi sự khi Chúa cần đến con.

Xin cho con biết lắng nghe những gì Chúa đang mời gọi con trong cuộc đời.

Xin cho con biết thực hành những gì Chúa dạy bảo con qua lời của Chúa.

Xin cho con biết thương anh em như chính Chúa đã thương con.

Xin cho con biết yêu mến hai chữ phục vụ là quà tặng mà Chúa dành cho con.

Xin cho con biết cử hành Bí Tích Thánh Thể trong đời sống hằng ngày.

Vì đó là con đường dẫn con nên một với Chúa.  Amen.

Ghi chú:

  1. Sách Giáo Lý Công Giáo mới năm 1997, đđ. 1328-1341, 1360-1361, 1362-1372.
  2. Sách “Thánh Thể: Mầu Nhiệm Vượt Qua” của Lm. Dominic Nguyễn Phúc Thuần, SSS – nxb: Dân Chúa, Louisiana, 1993. tr. 141-144.
  3. Sđd. tr. 145-146.
  4. Tông Thư của Đức Cố Gíaùo Hoàng Gioan Phaolô II về Năm Thánh Thể 2004-2005: “Xin Thầy ở lại với chúng con”: đ.đ. 28, 24, 31.
  5. Sách “Thánh Thể: Mầu Nhiệm Vượt Qua” của Lm. Dominic Nguyễn Phúc Thuần, SSS – nxb: Dân Chúa, Louisiana, 1993. tr. 172-173.
  6. Sđd. tr. 143.
  7. Trích từ bài “Hãy Làm Việc Này Mà Nhớ Đến Ta” của Giuse Bùi Huy Minh, đăng trên tuần báo điện tử Công Giáo Maranatha, số 87, ngày 24-9-2006)

Thánh Lễ Là Thiên Đàng Nơi Hạ Giới

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Lộc Vũ, Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

hạ giới, thánh lễ, thiên đàng

Thánh Lễ Là Thiên Đàng Nơi Hạ Giới

Tác giả: TTTH

Trong cuốn sách nổi tiếng “The Lamb’s Supper: the Mass As Heaven  On Earth” (Bữa Ăn Tối của Con Chiên: Thánh Lễ Như Thiên Đàng Nơi Hạ Giới), Tiến sĩ Scott Hahn, một mục sư Tin Lành trở lại Công Giáo, đã diễn tả cảm nghiệm của ông về thánh lễ misa như Thiên Đàng nơi hạ giới.

Thánh lễ Misa chính là Tiệc Cưới của Con Chiên trong sách Khải Huyeàn

Sau 20 năm nghiên cứu sách Khải Huyền (Revelation) để cố tìm ra ẩn ý mà thánh sử Gioan viết về mạc khải của ông khi được chiêm ngưỡng cảnh thiên đàng, tiến sĩ Scott Haln đã hòai công vô ích. Nhưng từ khi ông tham dự thánh lễ misa của đạo Công giáo vì tò mò muốn tìm hiểu nghi lễ phụng vụ này mà ông đọc thấy trong các tài liệu về Giáo Hội Tiên Khởi cũng như trong các sách của các gíao phụ truyền lại, ông liền nhận ra sự liên hệ sâu xa và mật thiết giữa các nghi thức phụng vụ trên thiên đàng với thánh lễ misa, nghi thức phụng vụ chính yếu của Giáo Hội Công Giáo. Sau hai tuần tham dự thánh lễ misa hàng ngày, ông từ từ nhận ra rằng thánh lễ misa chính là việc thờ phượng trên Thiên Đàng đã được thánh Gioan diễn tả trong sách Khải Huyền.

1Sau đó, tôi nghe như có tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên:
“Ha-lê-lui-a! Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ, Đấng vinh hiển uy quyền!
2Những lời Người phán quyết đều chân thật công minh!
Vì Người đã xét xử Con Điếm khét tiếng từng dùng chuyện gian dâm mà làm cho mặt đất ra hư hỏng, và Người đã bắt nó phải đền nợ máu các tôi tớ của NgườI mà chính tay nó đã giết.”
3Lần thứ hai họ lại hô: “Ha-lê-lui-a! Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp! “4Bấy giờ, hai mươi bốn vị Kỳ Mục và bốn Con Vật phủ phục xuống thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai, mà tung hô: “A-men! Ha-lê-lui-a! ” 5Rồi từ ngai có tiếng phát ra:
“Nào ca ngợi Thiên Chúa chúng ta, hỡi tất cả tôi trung của Chúa, hỡi những ai lớn nhỏ hằng kính sợ Người! ” 6Tôi lại nghe như có tiếng hô của đoàn người đông đảo, nghe như tiếng nước lũ, như tiếng sấm vang dữ dội:
“Ha-lê-lui-a! Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng đã lên ngôi hiển trị.
7Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ dâng Chúa lời tôn vinh,
8vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên,
và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,
nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền.”
9Thiên thần bảo tôi: “Hãy viết: Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên! ” Người lại bảo tôi: “Đó là những lời chân thật của chính Thiên Chúa.”10Tôi phủ phục xuống dưới chân người mà thờ lạy, nhưng người nói: “Đừng, đừng! Tôi cũng là một tôi tớ như ông và như các anh em của ông, những người giữ lời chứng của Đức Giê-su. Hãy thờ lạy Thiên Chúa.” Lời chứng của Đức Giê-su, là thần khí linh hứng cho ngôn sứ. (Kh 19:1-10)

Theo cảm nghiệm của ông, thánh lễ nơi hạ giới chính là việc diễn tả lại Tiệc Cưới của Con Chiên đã được mô tả trong sách Khải Huyền nêu trên. Khi chúng ta cử hành phụng vụ thánh lễ, Chúa Kitô hiện diện ở đó và huyền diệu thay, ngay giây phú đó, chúng ta được tham dự vào Bữa Ăn Tối Vĩnh Cửu của Con Chiên.

Thánh lễ Misa là Thiên Đàng nơi hạ giới

Khi nghiên cứu về nghi lễ phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, tác giả cũng còn khám phá ra rằng Giáo Hội Công Giáo từ lâu đã nhìn nhận thánh lễ chính là bữa tiệc cưới của Con Chiên, là thiên đàng nơi hạ giới này:

  • ĐGH Gioan Phaolô II: “Thánh lễ chính là một cung điện thiên đàng nơi trần thế, nghĩa là khi chúng ta cử hành nghi lễ phụng vụ, chúng ta được tham dự một cách huyền diệu nghi lễ phụng vụ trên thiên đàng”.
  • Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh: “Trong phụng vụ nơi trần thế này, chúng ta được nếm hương vị của phụng vụ trên thiên đàng được cử hành nơi thành thánh Giêrusalem, nơi đây chúng ta như những khách hành hương đang trên đường tiến về. Nơi đây Đấng Cứu Thế đang ngồi bên hữu Thiên Chúa, đấng Chủ Sự thánh điện và lều thánh đích thực. Cùng với tất cả các chiến binh của đòan binh thiên quốc, chúng ta hát bài ca vinh quang chúc tụng Thiên Chúa; trong khi kính nhớ các thánh, chúng ta hy vọng được thông phần và kết nghĩa với các ngài; chúng ta hăm hở chờ đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, chính là cuộc sống của chúng ta, cho tới ngày Ngài sẽ tái ngự đến và chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài “.
  • Sách Giáo Lý Công giáo, điều 1326: Nhờ cử hành bí tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hợp với phụng vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu ‘khi Thiên Chúa có tòan quyền trên mọi sự’ (1 Cor 15,28).
  • “Bí tích Thánh Thể được gọi là Bữa Ăn tối của Chúa (The Lord’s Supper) vì Hội Thánh tưởng niệm bữa Tiệc Ly Chúa cùng ăn với các môn đệ tối hôm trước ngày chịu nạn. Bữa ăn tối này cũng nói lên sự tiền dự vào Bũa Tiệc Cưới Con Chiên tại Giêrusalem trên trời” (GLCG, đ. 1329).

Tham dự thánh lễ là dâng đời sống của chúng ta cùng với hy tế của Chúa Kitô

Trọng tâm của thánh lễ là hình ảnh Con Chiên trở thành hy lễ. Con chiên chính là Chúa Kitô, Chiên Thiên Chúa đã tự hy tế để xóa tội trần gian. Trong thánh lễ, Chúa Kitô vừa là vị tư tế vừa là vật hiến tế:

“Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em”

“Máu này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22:19-20).

Chúa Giêsu hiến tế chính mình để tiêu diệt tội lỗi (Dt 9:26) vì Ngài là một hy tế hòan hảo nhất, không tì vết để đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa tòan hảo, thánh thiện và nhân hậu. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa Giêsu, chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử hành thánh lễ.

Sau khi đối chiếu những hy tế của dân Do Thái trong Cựu Ước với hy tế của Chúa Giêsu trong Tân Ước, tác giả kết luận rằng những hy tế trong Cựu Ước mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa. Và giờ đây chúng ta cũng được dâng hiến cùng một lễ hy tế này với Chúa Giêsu trong thánh lễ (x. Kinh Nguyện Thánh Thể IV, III).

Cử hành thánh lễ Misa để được ơn cứu độ

Chúa Giêsu đã dâng hiến chính mình làm lễ hy tế đền tội thay cho chúng ta và cứu độ chúng ta. Nhưng để đáng được ơn cứu độ đó, chúng ta phải làm gì?

Theo ý tác giả, chúng ta phải làm ba việc sau đây:

  1. Chúng ta phải phụng thờ Thiên Chúa bằng việc cử hành thánh lễ: chúng ta cùng nhau ngợi khen, chúc tụng, đền tạ, tạ ơn Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta. Chúng ta nâng chén cứu độ và ca ngợi danh Ngài trong thánh lễ là cách thức chúng ta đền đáp Ngài xứng hợp nhất. “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa “(TV 116:13).
  1. Chúng ta phaûi ăn thịt Con Chiên tức là rước Mình Máu Chúa Kitô vào lòng để được sống sung mãn, vì “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6:53).
  1. Việc phụng thờ Thiên Chúa qua thánh lễ còn mang ý nghĩa quy hướng đời sống của chúng ta về Chúa để chúng ta được biến đổi từ bên trong, và chia sẻ ơn Chúa với người khác nữa.

Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa

Từ cảm nghiệm được ý nghĩa tuyệt vời rằng thánh lễ là thiên đàng nơi trần thế, tác giả mời gọi chúng ta tham dự thánh lễ với một nhận thức mới, cử hành thánh lễ với một trái tim mới, và cảm nghiệm thánh lễ một cách thâm sâu hơn, rung động hơn, tràn đầy hơn và thần diệu hơn. Tác gỉa còn hối thúc chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không đi vào cảm nghiệm này ngay đi, vì “Thiên Đàng không thể chờ đợi nữa” (Heaven can’t wait).

Tài liệu tham khảo:

*  Sách: “The Lamb’s Supper: The Mass As Heaven On Earth” by Scott Haln, nxb: Double Day, New York, 1999.

*  Bài “Những Nhận Thức Mới Về Thánh Lễ” – đăng trên tuần báo điện tử Maranatha, do Hòang Quý viết theo tiến sĩ Scott Haln.

Chúa Giêsu Chữa Người Vừa Điếc Vừa Ngọng

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

vừa ngọng, vừa điếc

HIỂU & SỐNG

TIN MỪNG

 

Chúa Nhật
thứ 23 Thường Niên
(Năm B − ngày 06-09-2015)

ĐỌC LỜI CHÚA

  • Is 35,4-7a: (4) Hãy nói với những kẻ nhát gan: «Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày Thiên Chúa báo phục, ngày thưởng công, phạt tội. Người sẽ đến cứu anh em». (5) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được.
  • Gc 2,1-5: (3) Nếu anh em kính cẩn nhìn người ăn mặc lộng lẫy và nói: «Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này», còn với người nghèo, anh em lại nói: «Đứng đó!» hoặc: «Ngồi dưới bệ chân tôi đây!», (4) thì anh em đã chẳng tỏ ra kỳ thị và trở thành những thẩm phán đầy tà tâm đó sao?
  • TIN MỪNG: Mc 7,31-37

Đức Giêsu chữa người
vừa điếc vừa ngọng

 (31) Đức Giêsu lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xiđôn, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. (32) Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh. (33) Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. (34) Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: «Épphatha», nghĩa là: hãy mở ra! (35) Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. (36) Đức Giêsu truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. (37) Họ hết sức kinh ngạc, và nói: «Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được».

Câu hỏi gợi ý:

  1. Chúng ta vẫn gặp được những người điếc, ngọng, câm thể chất, họ chiếm một tỉ lệ thấp trong xã hội. Thế còn những người điếc, ngọng, câm tinh thần và tâm linh thì sao? tỉ lệ của họ cao hay thấp trong xã hội và Giáo Hội? Bản thân ta có bị bệnh điếc, ngọng, câm tinh thần hay tâm linh này không?
  2. Điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh nghĩa là gì? Đó là bệnh cá nhân hay xã hội? một xã hội hay giáo hội có thể bị điếc và ngọng không?
  3. Có ai bị điếc và ngọng đối với chân lý không? Tại sao họ lại bị điếc và ngọng trong lãnh vực này?

Suy tư gợi ý:

  1. Các thứ bệnh điếc và ngọng:
    thể chất, tinh thần, tâm linh,
    nơi cá nhân, xã hội và giáo hội

Trong xã hội con người, có rất nhiều người bị bệnh: bệnh thể chất, bệnh tinh thần, và bệnh tâm linh. Đó là nói về bệnh cá nhân. Ngoài ra, một xã hội cũng có thể có nhiều chứng bệnh: bệnh thể lý như dịch tễ, bệnh tinh thần như sự bất công, áp bức, các tệ nạn xã hội (đĩ điếm, ma túy), bệnh tâm linh như vô tín, đạo đức xuống dốc, tình trạng tội lỗi… Một cộng đoàn tôn giáo có thể bị những bệnh như: cơ cấu làm tê liệt thần khí, hình thức bên ngoài làm mất đi tinh thần bên trong, quyền bính bị lạm dụng, chia rẽ không hiệp nhất, trên dưới không nghe nhau, khô khan nguội lạnh, thỏa hiệp với kẻ ác…

Đức Giêsu đến trần gian để chữa chủ yếu những bệnh tinh thần và tâm linh của con người, của xã hội và giáo hội, nhưng Ngài cũng chữa cả những bệnh thể lý như dấu chỉ khả năng chữa lành tinh thần và tâm linh. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Ngài chữa lành «một người vừa điếc vừa ngọng» thể lý, là dấu chỉ của loại bệnh «vừa điếc vừa ngọng» tinh thần hay tâm linh. Điếc là không nghe được, hoặc không nghe rõ. Ngọng là không nói được, hoặc nói không rõ, khó nghe. Số người điếc, ngọng, câm thể lý chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ trong xã hội. Nhưng số người điếc, ngọng, câm về tinh thần và tâm linh chiếm một tỉ lệ rất cao. Thậm chí có cả bệnh «câm điếc xã hội», nghĩa là có những xã hội bị điếc, ngọng và câm nữa. Nếu Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay có thể chữa lành bệnh điếc và ngọng thể lý, thì Ngài còn có thể chữa lành một cách hữu hiệu hơn nữa bệnh điếc và ngọng về tinh thần, tâm linh, nơi cá nhân cũng như trong xã hội và giáo hội. Người ta sẽ được chữa lành, miễn là người ta để cho Ngài chữa bằng cách cộng tác với Ngài, tương tự như anh chàng điếc và ngọng kia đã chấp nhận để cho Ngài «kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh» (Mc 7,33).

  1. Điếc, ngọng về tinh thần và tâm linh

Điếc và ngọng về thể chất thì ai cũng biết, thiết tưởng chúng ta không cần đề cập tới trong khuôn khổ nhỏ hẹp của bài chia sẻ Tin Mừng này. Chúng ta cần bàn tới bệnh điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh, mà ai trong chúng ta cũng bị không nhiều thì ít.

Nhiều người thính và tinh tai thể chất, nhưng lại điếc về tinh thần và tâm linh. Họ rất thính tai khi nghe những gì liên quan đến tiền tài, của cải, lạc thú, danh vọng, quyền lực, địa vị, nhưng lại trở nên giống như điếc khi nghe những điều hay lẽ phải, những chân lý đem lại sức mạnh tinh thần hay tâm linh, những lời giúp họ sống yêu thương nhiều hơn. Nhiều người nói năng rất hùng biện về kiến thức, triết lý, khoa học, về đủ mọi đề tài… nhưng lại hành xử như người câm, hoặc cảm thấy rất ngượng nghịu, mắc cỡ khi phải nói lên điều hay lẽ thật, những lời chân thành yêu thương, những lời làm mát lòng người khác, những lời đem lại bình an, hòa thuận, những lời giúp mọi người hiểu ra đường ngay lẽ thật.


  1. Điếc và ngọng trước chân lý

Nhiều người đã trở thành điếc trước những quan niệm mới, những cách nhìn mới hay những cách diễn tả mới về chân lý. Vì họ luôn luôn cho rằng những quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả chân lý mà họ lãnh hội được trước đây chính là chân lý. Mà đã là chân lý thì không bao giờ thay đổi. Thực ra, chân lý thì bất biến, muôn đời không thay đổi, nhưng cách hiểu, sự lãnh hội và cách diễn tả chân lý của con người thì luôn luôn thay đổi tùy theo khả năng nhận thức của họ. Cũng như cơ cấu của vật chất, từ ngàn xưa đến nay không hề thay đổi, nhưng quan niệm, cách nhìn, cách mô tả của con người về cơ cấu vật chất luôn luôn thay đổi: càng về sau, con người càng quan niệm và diễn tả đúng hơn.

Một khi đã coi một quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả nào đó là chân lý bất biến, con người sẽ không còn khả năng chấp nhận những cách diễn tả khác phù hợp với thời đại mới, với nhận thức mới của con người thời đại. Ta đã thấy gương về sự cố chấp này trong Kinh Thánh: Thiên Chúa thì bất biến, nhưng cách diễn tả Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước rất khác nhau. Các kinh sư Do-thái chính vì cố chấp vào cách diễn tả cũ nên họ đã không chấp nhận được Đức Giêsu, với quan niệm mới, cách nhìn mới, cách diễn tả mới mẻ về Thiên Chúa của Ngài. Vì thế, họ đã nhắm mắt bịt tai trước lời của Ngài: lời Ngài có vẻ như không phù hợp với quan niệm rất hạn hẹp của họ. Tâm trí họ giống như một tách trà đã đầy nước, không thể tiếp nhận thêm một giọt nước nào nữa, nếu cứ rót vào, nước trà chỉ có thể tràn ra ngoài thôi.

Một khi đã điếc trước cách diễn tả mới về chân lý, họ cũng trở thành câm hay ngọng đối với cách diễn tả ấy.

  1. Điếc và ngọng trong xã hội và tôn giáo

Trong những xã hội hay tôn giáo độc tài, chỉ có một bè đảng, một phe nhóm hay một giáo phái nào đó được ưu đãi và toàn quyền hành động, thì người dân luôn luôn phải chịu cảnh bất công áp bức. Lúc đó, người dân sẽ trở thành những kẻ điếc và ngọng. Điếc vì họ bị bọn cầm quyền bưng bít không cho nghe những thông tin nào bất lợi cho chúng, khiến cho người dân trở nên bức xúc và đấu tranh. Ngọng hay câm vì họ không thể nói lên được những uất ức, những bực bội, những tư tưởng, những ước muốn của họ. Đương nhiên bị điếc và ngọng thì hết sức bực bội, khổ não, và không hạnh phúc.

Trong những xã hội hay tôn giáo ấy, còn một loại điếc và ngọng khác, đó là bệnh điếc và ngọng của những người theo lý tưởng ngôn sứ. Đó là một lý tưởng cao đẹp tuyệt vời! Lý tưởng này rất cần thiết, đặc biệt trong những xã hội hay tôn giáo đang chịu đầy dẫy bất công áp bức. Lý tưởng đó là «loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, giải phóng những kẻ bị giam cầm, cho người mù được sáng mắt, trả lại công lý cho người bị áp bức» (Lc 4,18). Sách Châm ngôn diễn tả một công việc quan trọng của những người mang lý tưởng đó: «Con hãy mở miệng nói thay cho người câm, và biện hộ cho mọi người bất hạnh. Hãy mở miệng phán xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ» (Cn 31,8-9). Nhưng có rất nhiều người mang danh theo lý tưởng ngôn sứ này, đáng lẽ họ phải nói thay cho người câm hay ngọng, nhưng tiếc thay chính họ dường như cũng bị câm và ngọng luôn! Thay vì sáng mắt thính tai để nghe và thấy tình cảnh khốn cùng của những người chung quanh mình hầu lên tiếng thay cho họ, thì họ cố tình giả điếc làm ngơ, bưng tai bịt mắt để khỏi thấy, hầu có thể câm miệng làm thinh cho yên thân, để «cố đấm ăn xôi» hay «ngậm miệng ăn tiền»!

  1. «Épphatha», hãy mở ra!

Tuy không điếc và ngọng thể lý, nhưng rất có thể chúng ta đang bị điếc và ngọng về tinh thần hay tâm linh. Điếc và ngọng thể lý thì không phải chịu trách nhiệm về căn bệnh. Nhưng điếc hay ngọng về tinh thần hay tâm linh, thì chúng ta sẽ bị quy kết trách nhiệm trước Thiên Chúa và lương tâm của mình. Vì thế, xét về mặt tâm linh, điếc và ngọng tinh thần hay tâm linh nguy hiểm hơn nhiều. Bị căn bệnh tâm linh này, chúng ta cần chữa cho khỏi. Dù là điếc, ngọng hay câm loại nào, Đức Giêsu cũng có thể chữa lành được, miễn là chúng ta tin vào quyền năng của Ngài và quyết tâm cộng tác với Ngài. Chỉ cần Ngài rờ vào cái tai tâm linh và cái miệng tâm linh của ta và truyền cho chúng: «Épphatha, hãy mở ra!» là bệnh điếc, ngọng, câm tâm linh của ta sẽ được chữa lành. Điều quan trọng là chúng ta phải xác định được mình đang thật sự bị điếc và ngọng về tâm linh thì Ngài mới chữa lành ta được! Nếu bị bệnh mà mình lại cứ nói mình chẳng bệnh gì cả, thì Chúa có quyền năng đến đâu Ngài cũng đành bó tay. Hãy nghe Đức Giêsu nói với người Pharisêu: «Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!» (Ga 9,41).

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con cảm thấy con đang bị điếc và câm – hay ít ra là đang giả điếc và giả câm – trước lời mời gọi của Cha. Cha mời con mở to mắt ra để thấy những nỗi cùng khốn của những người chung quanh con, banh lỗ tai ra để nghe những tiếng rên xiết đau thương của họ, đồng thời mở miệng ra để an ủi họ, xoa dịu đau thương cho họ, và nhất là nói dùm họ, tranh đấu cho họ… Nhưng con đang giả mù giả điếc để có thể câm lặng… hầu được an thân, hầu khỏi bị mất mát những gì mà kẻ áp bức đang ban cho con! Xin Cha hãy chữa lành bệnh ấy cho con!

(JK)

Luật Chúa và Vấn Đề Ly Dị

11 Wednesday Nov 2015

Posted by locngocvu in Suy Niệm

≈ Leave a comment

Tags

Luật Chúa, ly dị

HIỂU & SỐNG

TIN MỪNG

 

Chúa Nhật thứ 27 Thường Niên
(Năm B − ngày 4-10-2015)

ĐỌC LỜI CHÚA

  • St 2,18-24: (23) Con người nói: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!» (24) Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, cả hai thành một xương thịt.
  • Dt 2,9-11: (10) Thiên Chúa vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ.
  • TIN MỪNG: Mc 10,2-16

Vấn đề ly dị

 (2) Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: «Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?» Họ hỏi thế là để thử Người. (3) Người đáp: «Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?» (4) Họ trả lời: «Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ». (5) Đức Giêsu nói với họ: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. (6) Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; (7) vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, (8) và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. (9) Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly». (10) Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy. (11) Người nói: «Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; (12) và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

  1. Tại sao luật Môsê lại cho phép vợ chồng ly dị (x. Mt 5,31; Đnl 24,1) còn Đức Giêsu thì không? Luật Môsê có phải là luật của Thiên Chúa không? Phải giải thích sao về sự mâu thuẫn giữa hai thứ luật đều cùng được Giáo Hội coi là luật của Thiên Chúa cả?
  2. Thiên Chúa coi hạnh phúc của con người quan trọng hơn luật của Ngài, hay ngược lại? Ngài lập luật để con người hạnh phúc, hay dựng nên con người để tuân theo luật Ngài? Luật lệ và con người, cái nào là mục đích, cái nào là phương tiện?
  3. Khi áp dụng luật Chúa cho người khác, ta nên có thái độ nào? cứng nhắc hay mềm dẻo? nên vì luật Chúa hay vì hạnh phúc con người hơn?

Suy tư gợi ý:

  1. Bối cảnh của bài Tin Mừng

Các người Pharisêu hỏi Đức Giêsu về vấn đề ly dị không phải vì họ thắc mắc cần được giải đáp, mà vì muốn gài bẫy Ngài. Nếu Ngài đồng ý với việc ly dị, thì Ngài tỏ ra cùng lập trường với người Pharisêu. Và như vậy người Pharisêu có thêm một đồng minh rất có uy tín về vấn đề này để chống lại chủ trương đối lập. Còn nếu Ngài không đồng ý, thì nhiều người trong đám đông không chấp nhận. Quan trọng hơn nữa, Ngài sẽ bị vua Hêrốt thù ghét, vì Ngài tỏ ra cùng phe với Gioan Tẩy giả, là người lên án ông về tội ngoại tình và đã bị ông giết chết (x. Mc 6,17-28). Đây cũng là điều mà bọn Pharisêu mong muốn cho Ngài. Vì thế, Ngài trả lời thế nào cũng đều có lợi cho họ.

Nhưng Đức Giêsu đã lợi dụng cái bẫy này để mặc khải cho con người nền tảng của hôn nhân theo kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa là vợ chồng phải «nhất phu nhất phụ», đồng thời chỉ ra sự sai trái trong chủ trương của người Pharisêu. Người Pharisêu dựa vào câu Kinh Thánh sau đây để biện minh cho sự ly dị: «Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà» (Đnl 24,1). Đức Giêsu đã nhắc đến luật này trong Cựu Ước và đưa ra luật mới ngược lại, Ngài nói: «Luật (Môsê) dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình» (Mt 5,31-32).

  1. Bài học về tính sư phạm của Thiên Chúa

Đức Giêsu chủ trương khác với Môsê, nhưng Ngài không đả kích hay chê bai Môsê, mà cho rằng Môsê đã thích ứng với sự yếu đuối của con người: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông» (Mc 10,5). Vì: nếu ra luật mà người ta yếu đuối quá không thể giữ được, thì lúc đó luật chỉ gây nên mặc cảm tội lỗi. Như vậy, thay vì luật nâng đỡ con người, thì lại làm cho lương tâm họ luôn cắn rứt, mà vì sự yếu đuối, họ chưa thể làm gì tốt hơn được. Những trường hợp như thế, luật trở nên gánh nặng không thể vác nổi cho con người, khiến họ thất vọng đối với sự công chính và quay về hướng tội lỗi. Vì thế, luật Môsê đã tỏ ra nhân nhượng với sự yếu đuối của con người. Về vấn đề này, thánh Phaolô viết: «Nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội» (Rm 5,13). Nghĩa là, theo Phaolô, một điều sai trái, nhưng chưa có luật cấm, thì người làm điều sai trái ấy chưa được kể là đã phạm tội. Ông còn xác định rõ hơn: «Tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật» (1Cr 15,56), nghĩa là càng có nhiều luật, thì sẽ càng có nhiều trường hợp vi phạm luật. Sự nhân nhượng bất đắc dĩ trong lề luật của Môsê vì sự yếu đuối của con người cũng có phần nào hợp lý, bởi luật được lập nên vì con người, chứ không ngược lại (x. Mc 2,27).

Nhưng khi con người đạt được một trình độ tâm linh cao hơn, thì Đức Giêsu đã nâng cấp lề luật lên một bậc để đưa con người lên mức độ thánh thiện và hoàn hảo cao hơn, hợp lý hơn, phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa hơn. Trong các tôn giáo cũng như Kitô giáo, luật lệ cho những người muốn trở nên hoàn hảo, cho những người ở bậc tu trì, bao giờ cũng nghiêm khắc và nhiều chi tiết hơn luật cho những người ở bậc bình thường. Chẳng hạn trong Kitô giáo và Phật giáo, người tu trì phải sống độc thân và giữ nhiều luật lệ khắt khe hơn người bình thường.

Sự nhân nhượng, sự thay đổi và nâng cấp ấy cho chúng ta thấy tính sư phạm của Thiên Chúa. Lề luật, giao ước, mặc khải hay những điều Thiên Chúa dạy dỗ con người không thể là những gì bất biến, mặc dù Thiên Chúa thì bất biến. Tất cả những luật lệ hay lời dạy dỗ ấy không phải vì Thiên Chúa nhưng vì con người, mà con người thì biến đổi, nên chúng phải thích ứng sao cho phù hợp với con người. Khi trình độ hay hoàn cảnh của con người thay đổi, thì lề luật, cũng như những mặc khải hay những điều dạy dỗ của Thiên Chúa đã có trước đó lâu năm sẽ phải thay đổi cho thích ứng với con người thời đại, nhưng đồng thời phải phù hợp với «Đạo» là nguyên lý không thay đổi của Thiên Chúa hơn.

Về lề luật, Đức Giêsu nói: «Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi» (Mt 5,17-18). «Kiện toàn luật Môsê» có nghĩa là thay đổi luật Môsê cho hoàn chỉnh hơn. Điều đó cho thấy trong câu nói này của Đức Giêsu có hai loại luật:

− Trước hết là luật bất biến, không thay đổi, ứng với câu: «trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi». Có thể nói đó là «Đạo của vũ trụ».

− Kế đến là luật có thể thay đổi ứng với câu «Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn», vì kiện toàn chính là thay đổi cho tốt đẹp và hoàn hảo hơn. Đó là loại luật áp dụng cho con người, nó cần thay đổi và sẽ phải thay đổi hoài khi trình độ và hoàn cảnh của con người thay đổi.  Phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật không thay đổi là «Đạo của vũ trụ».

Không nên lẫn lộn giữa hai thứ luật này. Nói theo kiểu toán học thì luật cho con người tương tự như hàm số y=ax. “a” là hằng số hay Luật bất biến của Thiên Chúa. “x” là biến số hay tình trạng của con người vốn thay đổi theo thời gian. Luật cho con người tuy thay đổi nhưng không phải thay đổi sao cũng được, mà phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật bất biến của Thiên Chúa. Đông phương ta có câu: «Dĩ bất biến, ứng vạn biến» (nghĩa là dựa vào cái bất biến để tạo nên hàng vạn cái thay đổi, sao cho phù hợp với cái bá6t biến kia).

Con người thay đổi theo thời gian. Do đó, không thể lấy lề luật cũ áp dụng cho con người mới được: lề luật cũ, mặc khải cũ, giao ước cũ phù hợp với con người cũ (thời xưa) chứ không phù hợp với con người mới (thời nay). Vì thế, cần phải có lề luật mới, mặc khải mới, giao ước mới để phù hợp với con người mới. Điều này được Đức Giêsu nói rất rõ khi các môn đệ của Gioan Tẩy giả hỏi Ngài: «Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay» (Mt 9,14). Đức Giêsu trả lời: « Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ… cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ… rượu mới thì đổ vào bầu mới» (Mt 9,16-17).

Thánh Phaolô có nói đến sự lỗi thời của các giao ước cũ, khi đã có một giao ước mới đến thay thế: «Khi Thiên Chúa nói đến Giao Ước Mới, Người làm cho giao ước thứ nhất hoá ra giao ước cũ; và cái gì cũ kỹ, lỗi thời, thì sẽ tan biến đi» (Dt 8,13). Bất kỳ giao ước nào, lề luật nào, mặc khải nào đang hiện hành đều được tạm thời coi là tuyệt đối, bất biến, muôn đời không thay đổi. Có như thế con người mới đủ xác tín để thực hành. Nhưng khi có giao ước, lề luật, mặc khải mới, thì những thứ cũ đều bị coi là lỗi thời, không cần phải tuân theo nữa. Cụ thể là luật Môsê mà người Do Thái xưa coi là tuyệt đối và bất biến, đã trở nên lỗi thời và được thay thế bởi luật của Đức Giêsu. Và đương nhiên luật của Đức Giêsu cũng là luật cho con người chứ không phải cho Thiên Chúa.

Ta có thể lấy một vài thí dụ cho dễ hiểu. Khi con cái ta còn nhỏ, ta ra luật cấm nó không được sử dụng dao, nghịch lửa, không được tự ý ra ngoài đường có xe chạy… vì những việc làm này rất nguy hiểm cho nó. Nhưng khi nó trưởng thành, ta bãi bỏ tất cả những luật cấm đó, và nó lại phải tuân theo những luật khác phù hợp trình độ trưởng thành của nó. Khi con người thay đổi, thì tiêu chuẩn để đánh giá trị một con người cũng thay đổi. Một em bé được cho là ngoan, là tốt, nếu em biết vâng lời cha mẹ trong mọi sự, nhưng một người lớn cũng vâng lời cha mẹ trong mọi trường hợp, bất kể lệnh của cha mẹ là đúng hay sai, thì không thể được coi là một người tốt. Một thầy giáo, khi dạy tiểu học thì nói với các em học sinh không được lấy số nhỏ trừ số lớn vì điều đó là phi lý, nhưng khi dạy trung học thì cũng thầy giáo đó lại chấp nhận điều mà khi dạy tiểu học ông bảo là phi lý. Hoặc khi dạy trung học, ông không chấp nhận cho một học sinh viết một số âm trong căn hiệu bậc hai vì bình phương của một số không thể là số âm được; nhưng khi dạy đại học về số ảo, thì cũng thầy giáo đó lại coi điều ấy không có gì là phi lý cả. Sự thay đổi hay bất nhất ấy vẫn luôn luôn có tính «nhất quán».

Thế giới con người ngày nay đã thay đổi khác hẳn với thế giới cách đây 100 hay 50 năm trước. Có rất nhiều vấn nạn mới được đặt ra mà trước đây không có. Do đó, không thể «lấy vải mới mà vá áo cũ» hay «đổ rượu mới vào bầu da cũ» được. Những luật lệ phù hợp với con người cách đây 100 năm làm sao có thể phù hợp với con người thời đại được? Chúng ta cần phải nắm vững Luật Bất Biến của Thiên Chúa để thay đổi luật của con người đã thay đổi sao cho phù hợp với Luật Bất Biến ấy.

Một trong những Luật Bất Biến ấy là «Tình Yêu» hay «Đức Ái», và Thiên Chúa, Đấng Bất Biến ấy chính là «Tình Yêu». Thật vậy, Thánh Gioan xác định: «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,16). Chính Thánh Phaolô cũng xác định: «Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cr 13,13). Khi lên thiên đàng, đức tin, đức cậy không còn vì không cần thiết nữa, chỉ riêng «đức mến không bao giờ mất được» (1Cr 13,8). «Tình Yêu» là mẹ của tất cả mọi lề luật. Tất cả mọi lề luật khác đều phải phù hợp với Luật Bất Biến ấy. Thánh Phaolô còn quả quyết: «Yêu thương là chu toàn Lề Luật» (Rm 13,10), và Thánh Augustinô cũng phụ họa theo: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm» (Ama et fac quod vis). Chính vì thế, luân lý Công giáo chủ trương: Luật của Đức Ái là luật tối thượng: giả như có sự xung đột giữa đòi hỏi của đức bác ái với luật của Giáo Hội – hay với bất cứ thứ luật nào khác của con người: luật nhà nước, luật tổ chức… – thì người Kitô hữu buộc phải ưu tiên làm theo luật của lương tâm hay của đức ái. Giáo Hội đã lấy làm khuôn vàng thước ngọc lời của Đức Giêsu: «Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta» (Mt 7,12).

Đức Tin và Đức Ái, cũng như việc tuân giữ lề luật và việc thi hành Đức Ái, đều cần thiết cho phần rỗi, nhưng Đức Ái quan trọng hơn rất nhiều. Thánh Phaolô xác định như vậy: «Giả như tôi… có được đức tin mạnh mẽ đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì» (1Cr 13,2). Khá nhiều nhà giáo dục Kitô giáo quá chú trọng tới đức tin hay sự thống nhất của đức tin, mà không nhấn mạnh đủ tới Đức Ái, hoặc quá chú trọng tới việc phải thi hành nghiêm túc những «luật lệ con», mà không giúp người ta ý thức việc phải ưu tiên tôn trọng và thực thi «Luật Mẹ» hay «Đức Ái», là Luật đẻ ra tất cả những «luật lệ con» kia, thì cũng là một hình thức «lạc đạo». Trong hiến pháp (tức luật mẹ) của các quốc gia thường có lời đại ý như sau: Điều nào trong luật pháp (tức luật con) mà đi ngược lại hiến pháp thì điều luật đó không có giá trị buộc phải tuân hành. Như vậy, tất cả những trường hợp thi hành một điều luật nào trong luật pháp mà trái với tinh thần của hiến pháp, thì không buộc phải giữ điều luật đó.

Về vấn đề mọi luật lệ phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật Bất Biến, Lão Tử viết: «Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường, vọng tác hung. Tri thường dung» (Đạo Đức Kinh, chương 16). Nguyễn Hiến Lê dịch là: «Trở về mệnh là luật bất biến của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động, thì gây hoạ. Biết luật bất biến đó thì bao dung» (Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, www.thienquan.net). Có nắm được cái luật bất biến ấy thì mới có thể thay đổi lề luật phù hợp với luật bất biến ấy được.

Trình độ của con người đã thay đổi, môi trường và hoàn cảnh sống của con người cũng đã thay đổi, vậy thì luật Chúa cho con người cũng cần thay đổi. Vậy, ai có quyền quyết đoán sự thay đổi này? Đức Giêsu đã trao hai thứ quyền «cầm buộc» và «tháo cởi» cho Phêrô và những người kế vị ông (x. Mt 16,19). Vậy thì người có quyền và có trách nhiệm quyết đoán về luật Chúa trong thời đại này chính là người kế vị thánh Phêrô của thời đại. Ta thấy Đức Giáo Hoàng Phanxicô I hiện nay đã có một số tư tưởng mới, và vạch ra một hướng đi mới phù hợp với con người thời đại. Để tránh những phản ứng tiêu cực của những người bảo thủ, ngài phải dè dặt và không được vội vã khi đưa ra những điều mới mẻ.

Ngày xưa, chính Đức Giêsu đã bị những người Pharisêu chụp mũ Ngài là người của ma quỷ, cho rằng Ngài «dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ» (Mt 9,34). Vì thế chúng ta cũng đừng lấy làm lạ khi thấy có những nhân vật bảo thủ trong Giáo Hội chụp mũ tương tự như thế cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi ngài đưa ra những tư tưởng mới, cách ứng xử mới phù hợp với tình trạng của con người thời đại. Các tông đồ ngày xưa đã tuyên bố bãi bỏ luật cắt bì và nhiều luật khác của Môsê (x. Cv 15,19-20.28-29) hầu phù hợp với những người dân ngoại tin theo Chúa Giêsu, bất chấp những người Pharisêu bảo thủ cho rằng những luật ấy không thể thay đổi nên phải đòi buộc mọi người tuân giữ (x. Cv 15,5). Nếu ngày xưa, Thánh Thần đã soi sáng cho các tông đồ thay đổi lề luật cũ cho phù hợp với dân ngoại tin theo Chúa Giêsu, thì ngày nay, Thánh Thần cũng có thể soi sáng cho vị cầm đầu và hướng dẫn Giáo Hội thay đổi lề luật để phù hợp với những nhu cầu mới của con người thời đại. Thiết tưởng chúng ta không nên cản trở Thánh Thần.

  1. Hãy «vì con người, chứ không phải vì lề luật»

Trở lại với bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã cho thấy kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa là: «Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly» (Mc 10,6-9). Đấy là nguyên lý của Thiên Chúa cho hạnh phúc con người, ai sống theo như vậy thì sẽ được hạnh phúc. Thật vậy, trong đời sống vợ chồng, tình yêu và sự hòa hợp là hai yếu tố quan trọng để đời sống hôn nhân được hạnh phúc. Tình yêu cũng là một yếu tố thuận lợi cho sự hòa hợp, và ngược lại. Tuy nhiên, thiếu một trong hai thì đời sống hôn nhân không thể hạnh phúc.

Dẫu vậy, tình yêu là yếu tố quan trọng nhất. Nhưng chỉ có tình yêu đích thực mới đem lại hạnh phúc, mà tình yêu chân thực tất yếu phải là tình yêu duy nhất và chung thủy. Một nhà tâm lý nói: «Đã yêu rồi, lại còn yêu người khác nữa, thì không phải là tình yêu chân thật. Đã yêu, nhưng sau đó lại không yêu nữa, cũng không phải là tình yêu chân thật». Vì thế, hôn nhân Kitô giáo đòi hỏi hai phối ngẫu một tình yêu đích thực, nghĩa là tình yêu duy nhất và trọn đời. Điều đó thật hợp lý và phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Và Giáo Hội không chấp nhận ly dị là điều hợp lý.

Tuy nhiên, việc áp dụng luật của Thiên Chúa cũng như luật Giáo Hội thiết tưởng không nên cứng ngắc. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy: chính Thiên Chúa – qua luật Môsê – cũng đã nhân nhượng sự yếu đuối của con người. Từ nguyên thủy, Thiên Chúa chỉ dựng nên có một người nam và một người nữ, nghĩa là ngay từ đầu, trong kế hoạch của Thiên Chúa, đã có luật «nhất phu nhất phụ» rồi. Nhưng trong luật Môsê, Thiên Chúa đã tạm thời chấp nhận việc ly dị, chỉ vì tâm linh của con người còn quá thấp kém, không thể giữ nổi: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông» (Mc 10,5).

Như thế ta thấy mặc dù Thiên Chúa là Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng rất là nhân bản, Ngài thông cảm với những yếu đuối của con người, và Ngài đã tỏ ra chú trọng đến hạnh phúc của con người nhiều hơn cả việc đòi hỏi con người phải theo đúng kế hoạch của Ngài. Ngài đặt nặng hạnh phúc của con người hơn cả lề luật của Ngài: bởi lề luật được lập nên vì con người, chứ không phải con người được dựng nên vì lề luật (x. Mc 2,27). Lề luật dù có thánh thiêng tới đâu cũng là vì con người, nhằm phục vụ cho lợi ích hay hạnh phúc của con người, chứ không ngược lại. Lề luật là phương tiện, nhưng con người mới là mục đích. Con người thánh thiêng hơn các lề luật rất nhiều, cho dù lề luật có do chính Thiên Chúa lập nên đi nữa, vì «con người là hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,26.27; 9,6), chứ lề luật không phải là hình ảnh của Ngài, dù là luật do chính Ngài thiết lập. Tuy nhiên, luật được lập ra vì hạnh phúc con người, nên con người muốn hạnh phúc, thì cần tuân theo lề luật.

Nhưng mọi luật đều có thể có luật trừ, vì có một số trường hợp đặc biệt, khi việc tuân giữ luật lại trở nên đi ngược lại với mục đích của lề luật, ngược lại với lương tâm, với đức ái, hoặc với hiến pháp hay với luật lớn hơn, thì chỉ trong những trường hợp đó, lương tri cho phép đương sự không phải thi hành điều luật ấy.

Tôi xin đan cử một vài thí dụ để mọi người dễ hiểu. Chẳng hạn một người cha, trước khi ra khỏi nhà, ra lệnh cho đứa con: phải ngồi trong phòng học bài, tuyệt đối không được ra khỏi cửa cho đến khi cha mẹ về. Khi ra lệnh như vậy, ông không nghĩ tới những trường hợp đặc biệt có thể xảy ra. Và chuyện bất ngờ là người hàng xóm rất thân với gia đình gõ cửa, yêu cầu đứa trẻ giúp họ một chuyện khẩn cấp. Trường hợp đặc biệt này, nếu đứa trẻ không ra giúp người hàng xóm chỉ vì vâng lệnh của cha mẹ, thì chắc hẳn khi cha mẹ nó về sẽ rất lấy làm tiếc vì đứa trẻ đã vâng lời cha mẹ một cách nô lệ, thiếu khôn ngoan. Và sự vâng lời của đứa trẻ trong riêng trường hợp này là điều mà cha mẹ nó không muốn.

Một thí dụ khác: Luật Chúa là không được giết người. Nhưng khi thấy một tên khủng bố đang chuẩn bị ném bom vào một chỗ đông người, nếu có thể giết được tên đó mà vì luật không được giết người, khiến tên ấy đã sát hại cả hàng trăm người, thì kẻ giữ luật một cách nô lệ ấy đã hành động trái với mục đích của lề luật là tình thương. Chúa muốn mọi người yêu thương nhau để con người sống hạnh phúc, xã hội có trật tự và bình an, nên ra luật không được giết người. Nhưng trường hợp cá biệt này, chính việc không giết tên khủng bố ấy lại là gián tiếp giết chết hàng trăm người vô tội.

Trong cái thế giới đầy tính tương đối này, mọi luật nêu ra bình thường đều có luật trừ, dù là những định luật của khoa học, huống gì những định luật trong phạm vi ngôn ngữ, văn hóa, xã hội… Chẳng hạn, khi phát biểu “mọi vật nếu thả tự do đều phải rơi xuống đất”. Phát biểu này thường đúng trong hầu hết mọi trường hợp, nhưng không đúng trong trường hợp những quả bóng bay, những khinh khí cầu, những vệ tinh bay vòng quanh trái đất, v.v…

Luân lý Kitô giáo gọi những trường hợp này là «epikeia». Dân gian nước ta cũng có câu: «Chấp kinh thì phải tòng quyền». «Chấp kinh» là tuân theo luật, theo lẽ thường của xã hội. Còn «tòng quyền» là biết biến báo trong hoàn cảnh đặc biệt để chu toàn được mục đích của luật lệ hay lẽ thường. «Chấp kinh» thì dễ, nhưng «tòng quyền» (tức «epikeia») thì không phải ai cũng có thể xét đoán được. Ta nên hỏi ý kiến những người đạo đức, biết phán đoán theo lương tri.

Chúa Giêsu đã trao quyền xét đoán này cho những người đại diện Ngài ở trần gian khi Ngài nói với Phêrô: «Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy» (Mt 16,19). Như vậy Ngài cho các vị đại diện Ngài hai quyền: quyền cầm buộc và quyền tháo cởi. Nhưng dường như có những vị đại diện Ngài chỉ biết thi hành có một quyền duy nhất là quyền cầm buộc, vì nghĩ rằng cứ cầm buộc theo luật là chắc ăn, là mình yên lương tâm hơn, mà không hề nghĩ tới cái thế kẹt của người khác. Việc cầm buộc một cách thiếu lương tri là một hành vi lỗi bác ái.

Vì thế, các mục tử, khi áp dụng luật Chúa cho giáo dân của mình, thiết tưởng cũng phải biết sử dụng một cách có trách nhiệm cả hai quyền mà Chúa trao. Nếu chỉ chuyên «cầm buộc» mà không biết «tháo cởi», thì tội nghiệp cho «con chiên» của mình! Xin hãy cân nhắc một cách sáng suốt giữa hai sức nặng cần phải tôn trọng: hạnh phúc của con người và luật của Thiên Chúa. Có những trường hợp đặc biệt phải hy sinh luật Chúa cho hạnh phúc của con người! Chẳng hạn Đức Giêsu đã không giữ luật Sabat khi chữa bệnh vào ngày đó cho những người cần được chữa (x. Mt 12,9-14; Lc 13,10-17; 14,1-6; Ga 5,1-18; 9,13-14). Đó cũng là sự mềm dẻo trong việc áp dụng luật cho người khác, một đặc tính phải có của tình thương. Thiên Chúa còn mềm dẻo và nhân nhượng trong việc áp dụng luật đối với con người, tại sao con người lại quá hà khắc với nhau?

Trước khi kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện vì việc áp dụng luật Chúa một cách máy móc, phi nhân bản. Tôi có một người bà con ở ngoài Bắc tên T. lập gia đình lúc 18 tuổi vào năm 1953. Vừa lấy vợ và sinh được một đứa con trai thì được tin có cuộc di cư vào Nam để tị nạn cộng sản. Ông T. liền đưa vợ con đến Hải Phòng để chuẩn bị lên tàu vào Nam, bất chấp sự phản đối của cha mẹ ông. Vì nhà giàu có nên cha mẹ ông muốn giữ ông ở lại để cai quản tài sản, bèn lập mưu nhắn vợ ông về để đưa cho ông một số tiền lớn hầu hộ thân. Ông bèn cho vợ bồng con về. Nhưng cha mẹ ông đã giữ vợ ông lại không cho vào Nam, hy vọng ông sẽ phải về nhà với vợ. Vì quá biết sự tàn ác của cộng sản, nên ông quyết tâm vào Nam, hy vọng một vài năm sau sẽ đoàn tụ lại được. Nhưng không ngờ sự việc không xảy ra như thế, vì mãi đến 21 năm sau, tức năm 1975 hai miền Bắc Nam mới giao thương lại.

Với tuổi chưa đầy 20 khi xa cách nhau, nên cả hai vợ chồng ông T. không chờ được nhau, vì thế khoảng 10 năm sau, người vợ ở ngoài Bắc và người chồng ở trong Nam đều lập gia đình, và cả hai đều có hai ba đứa con còn là vị thành niên. Sau 1975, ông T. được một vài linh mục tư vấn buộc lương tâm ông phải từ bỏ người vợ ở trong Nam (vì là vợ bất hợp pháp theo luật Giáo Hội) để về kết hợp với người vợ ở ngoài Bắc (là người vợ đã có phép hôn phối). Bà vợ ngoài Bắc cũng được một vài linh mục buộc phải bỏ người chồng đã sống hòa thuận với mình hàng chục năm để trở về với chồng cũ là người mới sống với mình được hơn một năm nhưng cách đây 20 năm. Ông T. bèn đem đưa con lớn nhất trong Nam về Bắc để kết hợp với vợ cũ. Và người vợ cũ bèn cùng với 2 đứa con còn nhỏ về sống với ông T. Sự chia tay của cả hai người với gia đình hiện tại lúc đó thật đau đớn, nhất là người vợ của ông T. ở trong Nam từ nay phải một mình lo cho các con còn quá nhỏ, nhưng vì luật Chúa mà ông T. đành chấp nhận. Nhưng sự việc không đơn giản: do xa cách nhau quá lâu lại sống trong hai xã hội rất khác biệt nhau, nên tâm tính hai vợ chồng không hòa hợp được với nhau, cuộc sống chung trở nên rất nặng nề, đau khổ, nhưng đành cắn răng chịu đựng vì luật Chúa buộc.

Với lương tri của tôi, tôi cảm thấy việc áp dụng luật Chúa một cách máy móc như thế là không đúng với mục đích hay tinh thần của lề luật. Các vị linh mục liên quan đến trường hợp này đã quan niệm luật Chúa cho con người như một hằng số (y=a chứ không phải y=ax), nên con người chỉ có thể «chấp kinh» chứ không thể «tòng quyền» được! Tôi cảm thấy thật tội nghiệp cho những nạn nhân của tinh thần vị luật này!

CẦu nguyỆn

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng con người thánh thiêng hơn lề luật, và lề luật được lập nên vì hạnh phúc của con người. Lề luật chỉ là phương tiện, con người mới là mục đích. Xin đừng để con quá «vị luật» đến nỗi lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh con người cho việc áp dụng lề luật. Xin cho con biết nhân ái và bao dung khi áp dụng luật Chúa cho tha nhân. (Nguyễn Chính Kết)

← Older posts
Newer posts →

Categories

  • Ẩm Thực
  • Chính Trị
  • Gia Đình
  • Giáo Dục
  • Giáo Huấn GHCG
  • Giải Trí
  • Hôn Nhân
  • HBT/TNTTW
  • Hiểu và Sống Tin Mừng
  • Kỹ Thuật
  • Lộc Vũ
  • Linh Tinh
  • Nhạc
  • PT Cursillo-BTU
  • QGHC
  • Sống Khỏe
  • Suy Niệm
  • Tâm Linh
  • Tôn Giáo
  • Thần Học
  • Thơ
  • Tranh Ảnh
  • Triết Lý
  • Tưởng Nhớ ÔB Vinh Quang
  • Uncategorized
  • Văn Hóa
  • Điều Cần Biết
  • ĐS16

Blog at WordPress.com.

  • Subscribe Subscribed
    • locnvu.blog
    • Already have a WordPress.com account? Log in now.
    • locnvu.blog
    • Subscribe Subscribed
    • Sign up
    • Log in
    • Report this content
    • View site in Reader
    • Manage subscriptions
    • Collapse this bar