Chúa Giêsu Chữa Người Vừa Điếc Vừa Ngọng

Tags

,

HIỂU & SỐNG

TIN MỪNG

 

Chúa Nhật
thứ 23 Thường Niên
(Năm B − ngày 06-09-2015)

ĐỌC LỜI CHÚA

  • Is 35,4-7a: (4) Hãy nói với những kẻ nhát gan: «Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày Thiên Chúa báo phục, ngày thưởng công, phạt tội. Người sẽ đến cứu anh em». (5) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được.
  • Gc 2,1-5: (3) Nếu anh em kính cẩn nhìn người ăn mặc lộng lẫy và nói: «Xin mời ông ngồi vào chỗ danh dự này», còn với người nghèo, anh em lại nói: «Đứng đó!» hoặc: «Ngồi dưới bệ chân tôi đây!», (4) thì anh em đã chẳng tỏ ra kỳ thị và trở thành những thẩm phán đầy tà tâm đó sao?
  • TIN MỪNG: Mc 7,31-37

Đức Giêsu chữa người
vừa điếc vừa ngọng

 (31) Đức Giêsu lại bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xiđôn, đến biển hồ Galilê vào miền Thập Tỉnh. (32) Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giêsu, và xin Người đặt tay trên anh. (33) Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. (34) Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói: «Épphatha», nghĩa là: hãy mở ra! (35) Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. (36) Đức Giêsu truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. (37) Họ hết sức kinh ngạc, và nói: «Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được».

Câu hỏi gợi ý:

  1. Chúng ta vẫn gặp được những người điếc, ngọng, câm thể chất, họ chiếm một tỉ lệ thấp trong xã hội. Thế còn những người điếc, ngọng, câm tinh thần và tâm linh thì sao? tỉ lệ của họ cao hay thấp trong xã hội và Giáo Hội? Bản thân ta có bị bệnh điếc, ngọng, câm tinh thần hay tâm linh này không?
  2. Điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh nghĩa là gì? Đó là bệnh cá nhân hay xã hội? một xã hội hay giáo hội có thể bị điếc và ngọng không?
  3. Có ai bị điếc và ngọng đối với chân lý không? Tại sao họ lại bị điếc và ngọng trong lãnh vực này?

Suy tư gợi ý:

  1. Các thứ bệnh điếc và ngọng:
    thể chất, tinh thần, tâm linh,
    nơi cá nhân, xã hội và giáo hội

Trong xã hội con người, có rất nhiều người bị bệnh: bệnh thể chất, bệnh tinh thần, và bệnh tâm linh. Đó là nói về bệnh cá nhân. Ngoài ra, một xã hội cũng có thể có nhiều chứng bệnh: bệnh thể lý như dịch tễ, bệnh tinh thần như sự bất công, áp bức, các tệ nạn xã hội (đĩ điếm, ma túy), bệnh tâm linh như vô tín, đạo đức xuống dốc, tình trạng tội lỗi… Một cộng đoàn tôn giáo có thể bị những bệnh như: cơ cấu làm tê liệt thần khí, hình thức bên ngoài làm mất đi tinh thần bên trong, quyền bính bị lạm dụng, chia rẽ không hiệp nhất, trên dưới không nghe nhau, khô khan nguội lạnh, thỏa hiệp với kẻ ác…

Đức Giêsu đến trần gian để chữa chủ yếu những bệnh tinh thần và tâm linh của con người, của xã hội và giáo hội, nhưng Ngài cũng chữa cả những bệnh thể lý như dấu chỉ khả năng chữa lành tinh thần và tâm linh. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Ngài chữa lành «một người vừa điếc vừa ngọng» thể lý, là dấu chỉ của loại bệnh «vừa điếc vừa ngọng» tinh thần hay tâm linh. Điếc là không nghe được, hoặc không nghe rõ. Ngọng là không nói được, hoặc nói không rõ, khó nghe. Số người điếc, ngọng, câm thể lý chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ trong xã hội. Nhưng số người điếc, ngọng, câm về tinh thần và tâm linh chiếm một tỉ lệ rất cao. Thậm chí có cả bệnh «câm điếc xã hội», nghĩa là có những xã hội bị điếc, ngọng và câm nữa. Nếu Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay có thể chữa lành bệnh điếc và ngọng thể lý, thì Ngài còn có thể chữa lành một cách hữu hiệu hơn nữa bệnh điếc và ngọng về tinh thần, tâm linh, nơi cá nhân cũng như trong xã hội và giáo hội. Người ta sẽ được chữa lành, miễn là người ta để cho Ngài chữa bằng cách cộng tác với Ngài, tương tự như anh chàng điếc và ngọng kia đã chấp nhận để cho Ngài «kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh» (Mc 7,33).

  1. Điếc, ngọng về tinh thần và tâm linh

Điếc và ngọng về thể chất thì ai cũng biết, thiết tưởng chúng ta không cần đề cập tới trong khuôn khổ nhỏ hẹp của bài chia sẻ Tin Mừng này. Chúng ta cần bàn tới bệnh điếc và ngọng về tinh thần và tâm linh, mà ai trong chúng ta cũng bị không nhiều thì ít.

Nhiều người thính và tinh tai thể chất, nhưng lại điếc về tinh thần và tâm linh. Họ rất thính tai khi nghe những gì liên quan đến tiền tài, của cải, lạc thú, danh vọng, quyền lực, địa vị, nhưng lại trở nên giống như điếc khi nghe những điều hay lẽ phải, những chân lý đem lại sức mạnh tinh thần hay tâm linh, những lời giúp họ sống yêu thương nhiều hơn. Nhiều người nói năng rất hùng biện về kiến thức, triết lý, khoa học, về đủ mọi đề tài… nhưng lại hành xử như người câm, hoặc cảm thấy rất ngượng nghịu, mắc cỡ khi phải nói lên điều hay lẽ thật, những lời chân thành yêu thương, những lời làm mát lòng người khác, những lời đem lại bình an, hòa thuận, những lời giúp mọi người hiểu ra đường ngay lẽ thật.


  1. Điếc và ngọng trước chân lý

Nhiều người đã trở thành điếc trước những quan niệm mới, những cách nhìn mới hay những cách diễn tả mới về chân lý. Vì họ luôn luôn cho rằng những quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả chân lý mà họ lãnh hội được trước đây chính là chân lý. Mà đã là chân lý thì không bao giờ thay đổi. Thực ra, chân lý thì bất biến, muôn đời không thay đổi, nhưng cách hiểu, sự lãnh hội và cách diễn tả chân lý của con người thì luôn luôn thay đổi tùy theo khả năng nhận thức của họ. Cũng như cơ cấu của vật chất, từ ngàn xưa đến nay không hề thay đổi, nhưng quan niệm, cách nhìn, cách mô tả của con người về cơ cấu vật chất luôn luôn thay đổi: càng về sau, con người càng quan niệm và diễn tả đúng hơn.

Một khi đã coi một quan niệm, cách nhìn hay cách diễn tả nào đó là chân lý bất biến, con người sẽ không còn khả năng chấp nhận những cách diễn tả khác phù hợp với thời đại mới, với nhận thức mới của con người thời đại. Ta đã thấy gương về sự cố chấp này trong Kinh Thánh: Thiên Chúa thì bất biến, nhưng cách diễn tả Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước rất khác nhau. Các kinh sư Do-thái chính vì cố chấp vào cách diễn tả cũ nên họ đã không chấp nhận được Đức Giêsu, với quan niệm mới, cách nhìn mới, cách diễn tả mới mẻ về Thiên Chúa của Ngài. Vì thế, họ đã nhắm mắt bịt tai trước lời của Ngài: lời Ngài có vẻ như không phù hợp với quan niệm rất hạn hẹp của họ. Tâm trí họ giống như một tách trà đã đầy nước, không thể tiếp nhận thêm một giọt nước nào nữa, nếu cứ rót vào, nước trà chỉ có thể tràn ra ngoài thôi.

Một khi đã điếc trước cách diễn tả mới về chân lý, họ cũng trở thành câm hay ngọng đối với cách diễn tả ấy.

  1. Điếc và ngọng trong xã hội và tôn giáo

Trong những xã hội hay tôn giáo độc tài, chỉ có một bè đảng, một phe nhóm hay một giáo phái nào đó được ưu đãi và toàn quyền hành động, thì người dân luôn luôn phải chịu cảnh bất công áp bức. Lúc đó, người dân sẽ trở thành những kẻ điếc và ngọng. Điếc vì họ bị bọn cầm quyền bưng bít không cho nghe những thông tin nào bất lợi cho chúng, khiến cho người dân trở nên bức xúc và đấu tranh. Ngọng hay câm vì họ không thể nói lên được những uất ức, những bực bội, những tư tưởng, những ước muốn của họ. Đương nhiên bị điếc và ngọng thì hết sức bực bội, khổ não, và không hạnh phúc.

Trong những xã hội hay tôn giáo ấy, còn một loại điếc và ngọng khác, đó là bệnh điếc và ngọng của những người theo lý tưởng ngôn sứ. Đó là một lý tưởng cao đẹp tuyệt vời! Lý tưởng này rất cần thiết, đặc biệt trong những xã hội hay tôn giáo đang chịu đầy dẫy bất công áp bức. Lý tưởng đó là «loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, giải phóng những kẻ bị giam cầm, cho người mù được sáng mắt, trả lại công lý cho người bị áp bức» (Lc 4,18). Sách Châm ngôn diễn tả một công việc quan trọng của những người mang lý tưởng đó: «Con hãy mở miệng nói thay cho người câm, và biện hộ cho mọi người bất hạnh. Hãy mở miệng phán xử thật công minh, biện hộ cho những kẻ nghèo nàn khốn khổ» (Cn 31,8-9). Nhưng có rất nhiều người mang danh theo lý tưởng ngôn sứ này, đáng lẽ họ phải nói thay cho người câm hay ngọng, nhưng tiếc thay chính họ dường như cũng bị câm và ngọng luôn! Thay vì sáng mắt thính tai để nghe và thấy tình cảnh khốn cùng của những người chung quanh mình hầu lên tiếng thay cho họ, thì họ cố tình giả điếc làm ngơ, bưng tai bịt mắt để khỏi thấy, hầu có thể câm miệng làm thinh cho yên thân, để «cố đấm ăn xôi» hay «ngậm miệng ăn tiền»!

  1. «Épphatha», hãy mở ra!

Tuy không điếc và ngọng thể lý, nhưng rất có thể chúng ta đang bị điếc và ngọng về tinh thần hay tâm linh. Điếc và ngọng thể lý thì không phải chịu trách nhiệm về căn bệnh. Nhưng điếc hay ngọng về tinh thần hay tâm linh, thì chúng ta sẽ bị quy kết trách nhiệm trước Thiên Chúa và lương tâm của mình. Vì thế, xét về mặt tâm linh, điếc và ngọng tinh thần hay tâm linh nguy hiểm hơn nhiều. Bị căn bệnh tâm linh này, chúng ta cần chữa cho khỏi. Dù là điếc, ngọng hay câm loại nào, Đức Giêsu cũng có thể chữa lành được, miễn là chúng ta tin vào quyền năng của Ngài và quyết tâm cộng tác với Ngài. Chỉ cần Ngài rờ vào cái tai tâm linh và cái miệng tâm linh của ta và truyền cho chúng: «Épphatha, hãy mở ra!» là bệnh điếc, ngọng, câm tâm linh của ta sẽ được chữa lành. Điều quan trọng là chúng ta phải xác định được mình đang thật sự bị điếc và ngọng về tâm linh thì Ngài mới chữa lành ta được! Nếu bị bệnh mà mình lại cứ nói mình chẳng bệnh gì cả, thì Chúa có quyền năng đến đâu Ngài cũng đành bó tay. Hãy nghe Đức Giêsu nói với người Pharisêu: «Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn!» (Ga 9,41).

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, con cảm thấy con đang bị điếc và câm – hay ít ra là đang giả điếc và giả câm – trước lời mời gọi của Cha. Cha mời con mở to mắt ra để thấy những nỗi cùng khốn của những người chung quanh con, banh lỗ tai ra để nghe những tiếng rên xiết đau thương của họ, đồng thời mở miệng ra để an ủi họ, xoa dịu đau thương cho họ, và nhất là nói dùm họ, tranh đấu cho họ… Nhưng con đang giả mù giả điếc để có thể câm lặng… hầu được an thân, hầu khỏi bị mất mát những gì mà kẻ áp bức đang ban cho con! Xin Cha hãy chữa lành bệnh ấy cho con!

(JK)

Luật Chúa và Vấn Đề Ly Dị

Tags

,

HIỂU & SỐNG

TIN MỪNG

 

Chúa Nhật thứ 27 Thường Niên
(Năm B − ngày 4-10-2015)

ĐỌC LỜI CHÚA

  • St 2,18-24: (23) Con người nói: «Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!» (24) Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, cả hai thành một xương thịt.
  • Dt 2,9-11: (10) Thiên Chúa vì muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, đã làm một việc thích đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ.
  • TIN MỪNG: Mc 10,2-16

Vấn đề ly dị

 (2) Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu và hỏi rằng: «Thưa Thầy, chồng có được phép rẫy vợ không?» Họ hỏi thế là để thử Người. (3) Người đáp: «Thế ông Môsê đã truyền dạy các ông điều gì?» (4) Họ trả lời: «Ông Môsê đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ». (5) Đức Giêsu nói với họ: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông. (6) Còn lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; (7) vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, (8) và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. (9) Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly». (10) Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Người về điều ấy. (11) Người nói: «Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; (12) và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

  1. Tại sao luật Môsê lại cho phép vợ chồng ly dị (x. Mt 5,31; Đnl 24,1) còn Đức Giêsu thì không? Luật Môsê có phải là luật của Thiên Chúa không? Phải giải thích sao về sự mâu thuẫn giữa hai thứ luật đều cùng được Giáo Hội coi là luật của Thiên Chúa cả?
  2. Thiên Chúa coi hạnh phúc của con người quan trọng hơn luật của Ngài, hay ngược lại? Ngài lập luật để con người hạnh phúc, hay dựng nên con người để tuân theo luật Ngài? Luật lệ và con người, cái nào là mục đích, cái nào là phương tiện?
  3. Khi áp dụng luật Chúa cho người khác, ta nên có thái độ nào? cứng nhắc hay mềm dẻo? nên vì luật Chúa hay vì hạnh phúc con người hơn?

Suy tư gợi ý:

  1. Bối cảnh của bài Tin Mừng

Các người Pharisêu hỏi Đức Giêsu về vấn đề ly dị không phải vì họ thắc mắc cần được giải đáp, mà vì muốn gài bẫy Ngài. Nếu Ngài đồng ý với việc ly dị, thì Ngài tỏ ra cùng lập trường với người Pharisêu. Và như vậy người Pharisêu có thêm một đồng minh rất có uy tín về vấn đề này để chống lại chủ trương đối lập. Còn nếu Ngài không đồng ý, thì nhiều người trong đám đông không chấp nhận. Quan trọng hơn nữa, Ngài sẽ bị vua Hêrốt thù ghét, vì Ngài tỏ ra cùng phe với Gioan Tẩy giả, là người lên án ông về tội ngoại tình và đã bị ông giết chết (x. Mc 6,17-28). Đây cũng là điều mà bọn Pharisêu mong muốn cho Ngài. Vì thế, Ngài trả lời thế nào cũng đều có lợi cho họ.

Nhưng Đức Giêsu đã lợi dụng cái bẫy này để mặc khải cho con người nền tảng của hôn nhân theo kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa là vợ chồng phải «nhất phu nhất phụ», đồng thời chỉ ra sự sai trái trong chủ trương của người Pharisêu. Người Pharisêu dựa vào câu Kinh Thánh sau đây để biện minh cho sự ly dị: «Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà» (Đnl 24,1). Đức Giêsu đã nhắc đến luật này trong Cựu Ước và đưa ra luật mới ngược lại, Ngài nói: «Luật (Môsê) dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình» (Mt 5,31-32).

  1. Bài học về tính sư phạm của Thiên Chúa

Đức Giêsu chủ trương khác với Môsê, nhưng Ngài không đả kích hay chê bai Môsê, mà cho rằng Môsê đã thích ứng với sự yếu đuối của con người: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông» (Mc 10,5). Vì: nếu ra luật mà người ta yếu đuối quá không thể giữ được, thì lúc đó luật chỉ gây nên mặc cảm tội lỗi. Như vậy, thay vì luật nâng đỡ con người, thì lại làm cho lương tâm họ luôn cắn rứt, mà vì sự yếu đuối, họ chưa thể làm gì tốt hơn được. Những trường hợp như thế, luật trở nên gánh nặng không thể vác nổi cho con người, khiến họ thất vọng đối với sự công chính và quay về hướng tội lỗi. Vì thế, luật Môsê đã tỏ ra nhân nhượng với sự yếu đuối của con người. Về vấn đề này, thánh Phaolô viết: «Nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội» (Rm 5,13). Nghĩa là, theo Phaolô, một điều sai trái, nhưng chưa có luật cấm, thì người làm điều sai trái ấy chưa được kể là đã phạm tội. Ông còn xác định rõ hơn: «Tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật» (1Cr 15,56), nghĩa là càng có nhiều luật, thì sẽ càng có nhiều trường hợp vi phạm luật. Sự nhân nhượng bất đắc dĩ trong lề luật của Môsê vì sự yếu đuối của con người cũng có phần nào hợp lý, bởi luật được lập nên vì con người, chứ không ngược lại (x. Mc 2,27).

Nhưng khi con người đạt được một trình độ tâm linh cao hơn, thì Đức Giêsu đã nâng cấp lề luật lên một bậc để đưa con người lên mức độ thánh thiện và hoàn hảo cao hơn, hợp lý hơn, phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa hơn. Trong các tôn giáo cũng như Kitô giáo, luật lệ cho những người muốn trở nên hoàn hảo, cho những người ở bậc tu trì, bao giờ cũng nghiêm khắc và nhiều chi tiết hơn luật cho những người ở bậc bình thường. Chẳng hạn trong Kitô giáo và Phật giáo, người tu trì phải sống độc thân và giữ nhiều luật lệ khắt khe hơn người bình thường.

Sự nhân nhượng, sự thay đổi và nâng cấp ấy cho chúng ta thấy tính sư phạm của Thiên Chúa. Lề luật, giao ước, mặc khải hay những điều Thiên Chúa dạy dỗ con người không thể là những gì bất biến, mặc dù Thiên Chúa thì bất biến. Tất cả những luật lệ hay lời dạy dỗ ấy không phải vì Thiên Chúa nhưng vì con người, mà con người thì biến đổi, nên chúng phải thích ứng sao cho phù hợp với con người. Khi trình độ hay hoàn cảnh của con người thay đổi, thì lề luật, cũng như những mặc khải hay những điều dạy dỗ của Thiên Chúa đã có trước đó lâu năm sẽ phải thay đổi cho thích ứng với con người thời đại, nhưng đồng thời phải phù hợp với «Đạo» là nguyên lý không thay đổi của Thiên Chúa hơn.

Về lề luật, Đức Giêsu nói: «Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi» (Mt 5,17-18). «Kiện toàn luật Môsê» có nghĩa là thay đổi luật Môsê cho hoàn chỉnh hơn. Điều đó cho thấy trong câu nói này của Đức Giêsu có hai loại luật:

− Trước hết là luật bất biến, không thay đổi, ứng với câu: «trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi». Có thể nói đó là «Đạo của vũ trụ».

− Kế đến là luật có thể thay đổi ứng với câu «Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn», vì kiện toàn chính là thay đổi cho tốt đẹp và hoàn hảo hơn. Đó là loại luật áp dụng cho con người, nó cần thay đổi và sẽ phải thay đổi hoài khi trình độ và hoàn cảnh của con người thay đổi.  Phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật không thay đổi là «Đạo của vũ trụ».

Không nên lẫn lộn giữa hai thứ luật này. Nói theo kiểu toán học thì luật cho con người tương tự như hàm số y=ax. “a” là hằng số hay Luật bất biến của Thiên Chúa. “x” là biến số hay tình trạng của con người vốn thay đổi theo thời gian. Luật cho con người tuy thay đổi nhưng không phải thay đổi sao cũng được, mà phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật bất biến của Thiên Chúa. Đông phương ta có câu: «Dĩ bất biến, ứng vạn biến» (nghĩa là dựa vào cái bất biến để tạo nên hàng vạn cái thay đổi, sao cho phù hợp với cái bá6t biến kia).

Con người thay đổi theo thời gian. Do đó, không thể lấy lề luật cũ áp dụng cho con người mới được: lề luật cũ, mặc khải cũ, giao ước cũ phù hợp với con người cũ (thời xưa) chứ không phù hợp với con người mới (thời nay). Vì thế, cần phải có lề luật mới, mặc khải mới, giao ước mới để phù hợp với con người mới. Điều này được Đức Giêsu nói rất rõ khi các môn đệ của Gioan Tẩy giả hỏi Ngài: «Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay» (Mt 9,14). Đức Giêsu trả lời: « Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũcũng không đổ rượu mới vào bầu da cũrượu mới thì đổ vào bầu mới» (Mt 9,16-17).

Thánh Phaolô có nói đến sự lỗi thời của các giao ước cũ, khi đã có một giao ước mới đến thay thế: «Khi Thiên Chúa nói đến Giao Ước Mới, Người làm cho giao ước thứ nhất hoá ra giao ước cũ; và cái gì cũ kỹ, lỗi thời, thì sẽ tan biến đi» (Dt 8,13). Bất kỳ giao ước nào, lề luật nào, mặc khải nào đang hiện hành đều được tạm thời coi là tuyệt đối, bất biến, muôn đời không thay đổi. Có như thế con người mới đủ xác tín để thực hành. Nhưng khi có giao ước, lề luật, mặc khải mới, thì những thứ cũ đều bị coi là lỗi thời, không cần phải tuân theo nữa. Cụ thể là luật Môsê mà người Do Thái xưa coi là tuyệt đối và bất biến, đã trở nên lỗi thời và được thay thế bởi luật của Đức Giêsu. Và đương nhiên luật của Đức Giêsu cũng là luật cho con người chứ không phải cho Thiên Chúa.

Ta có thể lấy một vài thí dụ cho dễ hiểu. Khi con cái ta còn nhỏ, ta ra luật cấm nó không được sử dụng dao, nghịch lửa, không được tự ý ra ngoài đường có xe chạy… vì những việc làm này rất nguy hiểm cho nó. Nhưng khi nó trưởng thành, ta bãi bỏ tất cả những luật cấm đó, và nó lại phải tuân theo những luật khác phù hợp trình độ trưởng thành của nó. Khi con người thay đổi, thì tiêu chuẩn để đánh giá trị một con người cũng thay đổi. Một em bé được cho là ngoan, là tốt, nếu em biết vâng lời cha mẹ trong mọi sự, nhưng một người lớn cũng vâng lời cha mẹ trong mọi trường hợp, bất kể lệnh của cha mẹ là đúng hay sai, thì không thể được coi là một người tốt. Một thầy giáo, khi dạy tiểu học thì nói với các em học sinh không được lấy số nhỏ trừ số lớn vì điều đó là phi lý, nhưng khi dạy trung học thì cũng thầy giáo đó lại chấp nhận điều mà khi dạy tiểu học ông bảo là phi lý. Hoặc khi dạy trung học, ông không chấp nhận cho một học sinh viết một số âm trong căn hiệu bậc hai vì bình phương của một số không thể là số âm được; nhưng khi dạy đại học về số ảo, thì cũng thầy giáo đó lại coi điều ấy không có gì là phi lý cả. Sự thay đổi hay bất nhất ấy vẫn luôn luôn có tính «nhất quán».

Thế giới con người ngày nay đã thay đổi khác hẳn với thế giới cách đây 100 hay 50 năm trước. Có rất nhiều vấn nạn mới được đặt ra mà trước đây không có. Do đó, không thể «lấy vải mới mà vá áo cũ» hay «đổ rượu mới vào bầu da cũ» được. Những luật lệ phù hợp với con người cách đây 100 năm làm sao có thể phù hợp với con người thời đại được? Chúng ta cần phải nắm vững Luật Bất Biến của Thiên Chúa để thay đổi luật của con người đã thay đổi sao cho phù hợp với Luật Bất Biến ấy.

Một trong những Luật Bất Biến ấy là «Tình Yêu» hay «Đức Ái», và Thiên Chúa, Đấng Bất Biến ấy chính là «Tình Yêu». Thật vậy, Thánh Gioan xác định: «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,16). Chính Thánh Phaolô cũng xác định: «Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cr 13,13). Khi lên thiên đàng, đức tin, đức cậy không còn vì không cần thiết nữa, chỉ riêng «đức mến không bao giờ mất được» (1Cr 13,8). «Tình Yêu» là mẹ của tất cả mọi lề luật. Tất cả mọi lề luật khác đều phải phù hợp với Luật Bất Biến ấy. Thánh Phaolô còn quả quyết: «Yêu thương là chu toàn Lề Luật» (Rm 13,10), và Thánh Augustinô cũng phụ họa theo: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm» (Ama et fac quod vis). Chính vì thế, luân lý Công giáo chủ trương: Luật của Đức Ái là luật tối thượng: giả như có sự xung đột giữa đòi hỏi của đức bác ái với luật của Giáo Hội – hay với bất cứ thứ luật nào khác của con người: luật nhà nước, luật tổ chức… – thì người Kitô hữu buộc phải ưu tiên làm theo luật của lương tâm hay của đức ái. Giáo Hội đã lấy làm khuôn vàng thước ngọc lời của Đức Giêsu: «Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta» (Mt 7,12).

Đức Tin và Đức Ái, cũng như việc tuân giữ lề luật và việc thi hành Đức Ái, đều cần thiết cho phần rỗi, nhưng Đức Ái quan trọng hơn rất nhiều. Thánh Phaolô xác định như vậy: «Giả như tôi… có được đức tin mạnh mẽ đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì» (1Cr 13,2). Khá nhiều nhà giáo dục Kitô giáo quá chú trọng tới đức tin hay sự thống nhất của đức tin, mà không nhấn mạnh đủ tới Đức Ái, hoặc quá chú trọng tới việc phải thi hành nghiêm túc những «luật lệ con», mà không giúp người ta ý thức việc phải ưu tiên tôn trọng và thực thi «Luật Mẹ» hay «Đức Ái», là Luật đẻ ra tất cả những «luật lệ con» kia, thì cũng là một hình thức «lạc đạo». Trong hiến pháp (tức luật mẹ) của các quốc gia thường có lời đại ý như sau: Điều nào trong luật pháp (tức luật con) mà đi ngược lại hiến pháp thì điều luật đó không có giá trị buộc phải tuân hành. Như vậy, tất cả những trường hợp thi hành một điều luật nào trong luật pháp mà trái với tinh thần của hiến pháp, thì không buộc phải giữ điều luật đó.

Về vấn đề mọi luật lệ phải thay đổi sao cho phù hợp với Luật Bất Biến, Lão Tử viết: «Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường, vọng tác hung. Tri thường dung» (Đạo Đức Kinh, chương 16). Nguyễn Hiến Lê dịch là: «Trở về mệnh là luật bất biến của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động, thì gây hoạ. Biết luật bất biến đó thì bao dung» (Nguyễn Hiến Lê, Lão Tử Đạo Đức Kinh, www.thienquan.net). Có nắm được cái luật bất biến ấy thì mới có thể thay đổi lề luật phù hợp với luật bất biến ấy được.

Trình độ của con người đã thay đổi, môi trường và hoàn cảnh sống của con người cũng đã thay đổi, vậy thì luật Chúa cho con người cũng cần thay đổi. Vậy, ai có quyền quyết đoán sự thay đổi này? Đức Giêsu đã trao hai thứ quyền «cầm buộc» và «tháo cởi» cho Phêrô và những người kế vị ông (x. Mt 16,19). Vậy thì người có quyền và có trách nhiệm quyết đoán về luật Chúa trong thời đại này chính là người kế vị thánh Phêrô của thời đại. Ta thấy Đức Giáo Hoàng Phanxicô I hiện nay đã có một số tư tưởng mới, và vạch ra một hướng đi mới phù hợp với con người thời đại. Để tránh những phản ứng tiêu cực của những người bảo thủ, ngài phải dè dặt và không được vội vã khi đưa ra những điều mới mẻ.

Ngày xưa, chính Đức Giêsu đã bị những người Pharisêu chụp mũ Ngài là người của ma quỷ, cho rằng Ngài «dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ» (Mt 9,34). Vì thế chúng ta cũng đừng lấy làm lạ khi thấy có những nhân vật bảo thủ trong Giáo Hội chụp mũ tương tự như thế cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô khi ngài đưa ra những tư tưởng mới, cách ứng xử mới phù hợp với tình trạng của con người thời đại. Các tông đồ ngày xưa đã tuyên bố bãi bỏ luật cắt bì và nhiều luật khác của Môsê (x. Cv 15,19-20.28-29) hầu phù hợp với những người dân ngoại tin theo Chúa Giêsu, bất chấp những người Pharisêu bảo thủ cho rằng những luật ấy không thể thay đổi nên phải đòi buộc mọi người tuân giữ (x. Cv 15,5). Nếu ngày xưa, Thánh Thần đã soi sáng cho các tông đồ thay đổi lề luật cũ cho phù hợp với dân ngoại tin theo Chúa Giêsu, thì ngày nay, Thánh Thần cũng có thể soi sáng cho vị cầm đầu và hướng dẫn Giáo Hội thay đổi lề luật để phù hợp với những nhu cầu mới của con người thời đại. Thiết tưởng chúng ta không nên cản trở Thánh Thần.

  1. Hãy «vì con người, chứ không phải vì lề luật»

Trở lại với bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã cho thấy kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa là: «Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly» (Mc 10,6-9). Đấy là nguyên lý của Thiên Chúa cho hạnh phúc con người, ai sống theo như vậy thì sẽ được hạnh phúc. Thật vậy, trong đời sống vợ chồng, tình yêu và sự hòa hợp là hai yếu tố quan trọng để đời sống hôn nhân được hạnh phúc. Tình yêu cũng là một yếu tố thuận lợi cho sự hòa hợp, và ngược lại. Tuy nhiên, thiếu một trong hai thì đời sống hôn nhân không thể hạnh phúc.

Dẫu vậy, tình yêu là yếu tố quan trọng nhất. Nhưng chỉ có tình yêu đích thực mới đem lại hạnh phúc, mà tình yêu chân thực tất yếu phải là tình yêu duy nhất và chung thủy. Một nhà tâm lý nói: «Đã yêu rồi, lại còn yêu người khác nữa, thì không phải là tình yêu chân thật. Đã yêu, nhưng sau đó lại không yêu nữa, cũng không phải là tình yêu chân thật». Vì thế, hôn nhân Kitô giáo đòi hỏi hai phối ngẫu một tình yêu đích thực, nghĩa là tình yêu duy nhất và trọn đời. Điều đó thật hợp lý và phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa. Và Giáo Hội không chấp nhận ly dị là điều hợp lý.

Tuy nhiên, việc áp dụng luật của Thiên Chúa cũng như luật Giáo Hội thiết tưởng không nên cứng ngắc. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy: chính Thiên Chúa – qua luật Môsê – cũng đã nhân nhượng sự yếu đuối của con người. Từ nguyên thủy, Thiên Chúa chỉ dựng nên có một người nam và một người nữ, nghĩa là ngay từ đầu, trong kế hoạch của Thiên Chúa, đã có luật «nhất phu nhất phụ» rồi. Nhưng trong luật Môsê, Thiên Chúa đã tạm thời chấp nhận việc ly dị, chỉ vì tâm linh của con người còn quá thấp kém, không thể giữ nổi: «Chính vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê mới viết điều răn đó cho các ông» (Mc 10,5).

Như thế ta thấy mặc dù Thiên Chúa là Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng rất là nhân bản, Ngài thông cảm với những yếu đuối của con người, và Ngài đã tỏ ra chú trọng đến hạnh phúc của con người nhiều hơn cả việc đòi hỏi con người phải theo đúng kế hoạch của Ngài. Ngài đặt nặng hạnh phúc của con người hơn cả lề luật của Ngài: bởi lề luật được lập nên vì con người, chứ không phải con người được dựng nên vì lề luật (x. Mc 2,27). Lề luật dù có thánh thiêng tới đâu cũng là vì con người, nhằm phục vụ cho lợi ích hay hạnh phúc của con người, chứ không ngược lại. Lề luật là phương tiện, nhưng con người mới là mục đích. Con người thánh thiêng hơn các lề luật rất nhiều, cho dù lề luật có do chính Thiên Chúa lập nên đi nữa, vì «con người là hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,26.27; 9,6), chứ lề luật không phải là hình ảnh của Ngài, dù là luật do chính Ngài thiết lập. Tuy nhiên, luật được lập ra vì hạnh phúc con người, nên con người muốn hạnh phúc, thì cần tuân theo lề luật.

Nhưng mọi luật đều có thể có luật trừ, vì có một số trường hợp đặc biệt, khi việc tuân giữ luật lại trở nên đi ngược lại với mục đích của lề luật, ngược lại với lương tâm, với đức ái, hoặc với hiến pháp hay với luật lớn hơn, thì chỉ trong những trường hợp đó, lương tri cho phép đương sự không phải thi hành điều luật ấy.

Tôi xin đan cử một vài thí dụ để mọi người dễ hiểu. Chẳng hạn một người cha, trước khi ra khỏi nhà, ra lệnh cho đứa con: phải ngồi trong phòng học bài, tuyệt đối không được ra khỏi cửa cho đến khi cha mẹ về. Khi ra lệnh như vậy, ông không nghĩ tới những trường hợp đặc biệt có thể xảy ra. Và chuyện bất ngờ là người hàng xóm rất thân với gia đình gõ cửa, yêu cầu đứa trẻ giúp họ một chuyện khẩn cấp. Trường hợp đặc biệt này, nếu đứa trẻ không ra giúp người hàng xóm chỉ vì vâng lệnh của cha mẹ, thì chắc hẳn khi cha mẹ nó về sẽ rất lấy làm tiếc vì đứa trẻ đã vâng lời cha mẹ một cách nô lệ, thiếu khôn ngoan. Và sự vâng lời của đứa trẻ trong riêng trường hợp này là điều mà cha mẹ nó không muốn.

Một thí dụ khác: Luật Chúa là không được giết người. Nhưng khi thấy một tên khủng bố đang chuẩn bị ném bom vào một chỗ đông người, nếu có thể giết được tên đó mà vì luật không được giết người, khiến tên ấy đã sát hại cả hàng trăm người, thì kẻ giữ luật một cách nô lệ ấy đã hành động trái với mục đích của lề luật là tình thương. Chúa muốn mọi người yêu thương nhau để con người sống hạnh phúc, xã hội có trật tự và bình an, nên ra luật không được giết người. Nhưng trường hợp cá biệt này, chính việc không giết tên khủng bố ấy lại là gián tiếp giết chết hàng trăm người vô tội.

Trong cái thế giới đầy tính tương đối này, mọi luật nêu ra bình thường đều có luật trừ, dù là những định luật của khoa học, huống gì những định luật trong phạm vi ngôn ngữ, văn hóa, xã hội… Chẳng hạn, khi phát biểu “mọi vật nếu thả tự do đều phải rơi xuống đất”. Phát biểu này thường đúng trong hầu hết mọi trường hợp, nhưng không đúng trong trường hợp những quả bóng bay, những khinh khí cầu, những vệ tinh bay vòng quanh trái đất, v.v…

Luân lý Kitô giáo gọi những trường hợp này là «epikeia». Dân gian nước ta cũng có câu: «Chấp kinh thì phải tòng quyền». «Chấp kinh» là tuân theo luật, theo lẽ thường của xã hội. Còn «tòng quyền» là biết biến báo trong hoàn cảnh đặc biệt để chu toàn được mục đích của luật lệ hay lẽ thường. «Chấp kinh» thì dễ, nhưng «tòng quyền» (tức «epikeia») thì không phải ai cũng có thể xét đoán được. Ta nên hỏi ý kiến những người đạo đức, biết phán đoán theo lương tri.

Chúa Giêsu đã trao quyền xét đoán này cho những người đại diện Ngài ở trần gian khi Ngài nói với Phêrô: «Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy» (Mt 16,19). Như vậy Ngài cho các vị đại diện Ngài hai quyền: quyền cầm buộcquyền tháo cởi. Nhưng dường như có những vị đại diện Ngài chỉ biết thi hành có một quyền duy nhất là quyền cầm buộc, vì nghĩ rằng cứ cầm buộc theo luật là chắc ăn, là mình yên lương tâm hơn, mà không hề nghĩ tới cái thế kẹt của người khác. Việc cầm buộc một cách thiếu lương tri là một hành vi lỗi bác ái.

Vì thế, các mục tử, khi áp dụng luật Chúa cho giáo dân của mình, thiết tưởng cũng phải biết sử dụng một cách có trách nhiệm cả hai quyền mà Chúa trao. Nếu chỉ chuyên «cầm buộc» mà không biết «tháo cởi», thì tội nghiệp cho «con chiên» của mình! Xin hãy cân nhắc một cách sáng suốt giữa hai sức nặng cần phải tôn trọng: hạnh phúc của con người và luật của Thiên Chúa. Có những trường hợp đặc biệt phải hy sinh luật Chúa cho hạnh phúc của con người! Chẳng hạn Đức Giêsu đã không giữ luật Sabat khi chữa bệnh vào ngày đó cho những người cần được chữa (x. Mt 12,9-14; Lc 13,10-17; 14,1-6; Ga 5,1-18; 9,13-14). Đó cũng là sự mềm dẻo trong việc áp dụng luật cho người khác, một đặc tính phải có của tình thương. Thiên Chúa còn mềm dẻo và nhân nhượng trong việc áp dụng luật đối với con người, tại sao con người lại quá hà khắc với nhau?

Trước khi kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện vì việc áp dụng luật Chúa một cách máy móc, phi nhân bản. Tôi có một người bà con ở ngoài Bắc tên T. lập gia đình lúc 18 tuổi vào năm 1953. Vừa lấy vợ và sinh được một đứa con trai thì được tin có cuộc di cư vào Nam để tị nạn cộng sản. Ông T. liền đưa vợ con đến Hải Phòng để chuẩn bị lên tàu vào Nam, bất chấp sự phản đối của cha mẹ ông. Vì nhà giàu có nên cha mẹ ông muốn giữ ông ở lại để cai quản tài sản, bèn lập mưu nhắn vợ ông về để đưa cho ông một số tiền lớn hầu hộ thân. Ông bèn cho vợ bồng con về. Nhưng cha mẹ ông đã giữ vợ ông lại không cho vào Nam, hy vọng ông sẽ phải về nhà với vợ. Vì quá biết sự tàn ác của cộng sản, nên ông quyết tâm vào Nam, hy vọng một vài năm sau sẽ đoàn tụ lại được. Nhưng không ngờ sự việc không xảy ra như thế, vì mãi đến 21 năm sau, tức năm 1975 hai miền Bắc Nam mới giao thương lại.

Với tuổi chưa đầy 20 khi xa cách nhau, nên cả hai vợ chồng ông T. không chờ được nhau, vì thế khoảng 10 năm sau, người vợ ở ngoài Bắc và người chồng ở trong Nam đều lập gia đình, và cả hai đều có hai ba đứa con còn là vị thành niên. Sau 1975, ông T. được một vài linh mục tư vấn buộc lương tâm ông phải từ bỏ người vợ ở trong Nam (vì là vợ bất hợp pháp theo luật Giáo Hội) để về kết hợp với người vợ ở ngoài Bắc (là người vợ đã có phép hôn phối). Bà vợ ngoài Bắc cũng được một vài linh mục buộc phải bỏ người chồng đã sống hòa thuận với mình hàng chục năm để trở về với chồng cũ là người mới sống với mình được hơn một năm nhưng cách đây 20 năm. Ông T. bèn đem đưa con lớn nhất trong Nam về Bắc để kết hợp với vợ cũ. Và người vợ cũ bèn cùng với 2 đứa con còn nhỏ về sống với ông T. Sự chia tay của cả hai người với gia đình hiện tại lúc đó thật đau đớn, nhất là người vợ của ông T. ở trong Nam từ nay phải một mình lo cho các con còn quá nhỏ, nhưng vì luật Chúa mà ông T. đành chấp nhận. Nhưng sự việc không đơn giản: do xa cách nhau quá lâu lại sống trong hai xã hội rất khác biệt nhau, nên tâm tính hai vợ chồng không hòa hợp được với nhau, cuộc sống chung trở nên rất nặng nề, đau khổ, nhưng đành cắn răng chịu đựng vì luật Chúa buộc.

Với lương tri của tôi, tôi cảm thấy việc áp dụng luật Chúa một cách máy móc như thế là không đúng với mục đích hay tinh thần của lề luật. Các vị linh mục liên quan đến trường hợp này đã quan niệm luật Chúa cho con người như một hằng số (y=a chứ không phải y=ax), nên con người chỉ có thể «chấp kinh» chứ không thể «tòng quyền» được! Tôi cảm thấy thật tội nghiệp cho những nạn nhân của tinh thần vị luật này!

CẦu nguyỆn

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng con người thánh thiêng hơn lề luật, và lề luật được lập nên vì hạnh phúc của con người. Lề luật chỉ là phương tiện, con người mới là mục đích. Xin đừng để con quá «vị luật» đến nỗi lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh con người cho việc áp dụng lề luật. Xin cho con biết nhân ái và bao dung khi áp dụng luật Chúa cho tha nhân. (Nguyễn Chính Kết)

Tật Giữ Luật Một Cách Hình Thức

Tags

HIỂU & SỐNG

TIN MỪNG

 

Chúa Nhật
thứ 22 Thường Niên
(Năm B − ngày 30-8-2015)

ĐỌC LỜI CHÚA

  • Đnl 4,1-2.6-8: (2) Anh em đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, mà tôi truyền cho anh em.
  • Gc 1,17-18.21b-22.27: (21) Hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. (22) Hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.
  • TIN MỪNG: Mc 7,1-8.14-15.21-23

Tật giữ luật một cách hình thức

 (1) Có những người Pharisêu và kinh sư tụ họp quanh Đức Giêsu. Họ là những người từ Giêrusalem đến. (2) Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. (3) Thật vậy, người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; (4) thức gì mua ngoài chợ về cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. (5) Vậy, người Pharisêu và kinh sư hỏi Đức Giêsu: «Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?» (6) Người trả lời họ: «Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, ông viết: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta. (7) Chúng có thờ phượng Ta cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. (8) Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm».

Cái gì làm cho con người ra ô uế?

 (14) Sau đó, Đức Giêsu lại gọi đám đông tới mà bảo: «Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: (15) Không có gì từ bên ngoài vào trong lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ trong xuất ra mới làm con người ra ô uế. (21) Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, (22) ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. (23) Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra, và làm con người ra ô uế».

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

  1. Nhiều người quan niệm: càng giữ luật cho nhiệm nhặt, thậm chí đến từng chi tiết, thì càng nên công chính thánh thiện. Quan niệm như thế có đúng không? Người quan niệm như thế thường gặp những nguy hiểm nào?
  2. Đức Giêsu thánh thiện hơn các kinh sư Do-thái rất nhiều, nhưng Ngài có giữ luật Thiên Chúa nhiệm nhặt hơn họ không? Tại sao vậy? Ngài quan niệm việc giữ lề luật Thiên Chúa như thế nào?
  3. Hành động bên ngoài tự nó có giá trị không? Hay nó còn tùy thuộc vào cái tâm ở bên trong? vào động cơ thúc đẩy ta thực hiện hành động ấy? Vậy: phải có những hành động tốt hay phải làm sao có cái tâm cho tốt?

Suy tư gợi ý:

  1. Quan niệm của các kinh sư Do-thái về sự công chính

Đọc bốn sách Tin Mừng, tôi phải nể phục sự nghiêm túc giữ luật của các kinh sư Do-thái: họ giữ luật Môsê cẩn thận từng chi tiết, cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Ngoài những điều khoản của lề luật, họ còn giữ cả những chi tiết nhỏ mọn trong truyền thống Do-thái giáo. Bài Tin Mừng hôm nay cho biết: «Người Pharisêu cũng như mọi người Do thái đều giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng». Họ hành động như vậy vì họ cho rằng sự công chính và thánh thiện hệ tại việc giữ luật và tuân theo truyền thống tôn giáo cho thật cẩn thận. Càng giữ luật kỹ lưỡng đến từng chi tiết nhỏ nhặt thì càng công chính hay thánh thiện.

Chắc chắn trong họ có những người nghĩ và thực hành như vậy một cách rất chân thành, với mục đích rất tốt lành là nên công chính hay nên thánh. Họ nghĩ rằng tất cả những ai thánh thiện thì đều phải giữ luật như họ. Nếu có ai thánh thiện hơn họ, ắt người ấy phải giữ luật và những tập tục truyền thống một cách nhiệm nhặt và chi ly hơn họ. Chính vì thế, họ ngạc nhiên khi thấy các môn đệ của một thầy dạy đạo như Đức Giêsu lại không giữ luật và truyền thống như họ. Họ hỏi Ngài: «Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa?»

  1. Sự công chính và thánh thiện theo quan niệm của Đức Giêsu

Nhưng Đức Giêsu đã cho họ – và cả chúng ta nữa – thấy rằng sự thánh thiện không hệ tại việc giữ luật một cách chi tiết như thế, hay giữ theo hình thức bên ngoài, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều. Cái đó ở trong nội tâm, chứ không phải ở bên ngoài. Người ta vẫn nói: «Đạo tại tâm!» Cái tâm đó chính là cái quan trọng nhất trong lề luật, là cốt tủy của lề luật.

Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những chi tiết hay những hình thức bên ngoài của lề luật, thì lại thường coi nhẹ cái cốt tủy của lề luật. Đức Giêsu đã tố giác điều ấy: «Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình ! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng (=tức những điều phụ thuộc), mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ» (Mt 23,23). Như vậy, theo Đức Giêsu, ba điều quan trọng nhất trong lề luật, tức tinh thần của lề luật, hay cốt tủy của sự thánh thiện, chính là chân lý, công lý và tình thương.

Thiết tưởng người Kitô hữu không nên đi vào vết xe đổ của người Do-thái là cứ quan trọng hóa những điều phụ thuộc, mang tính bên ngoài, như giữ cho thật kỹ lưỡng đến từng chi tiết luật này luật nọ, mà coi nhẹ cốt tủy của lề luật, vốn là tinh thần ở bên trong. Điều thiết yếu là phải có tinh thần hay cốt tủy đó ở bên trong đã, rồi tinh thần đó sẽ tự nhiên thúc đẩy ta thể hiện nó ra bên ngoài thành thái độ hay hành động.

  1. Hãy nắm vững cái cốt tủy và ưu tiên thực hiện cốt tủy ấy trước

Nếu chỉ có những hành động giữ luật bên ngoài mà không có tinh thần cốt tủy bên trong, thì việc giữ luật đó sẽ ít giá trị trước Thiên Chúa. Còn những người mà luật Chúa thì không giữ, lại chỉ lo giữ những tập tục tôn giáo truyền thống, chẳng hạn một số thói quen quen được gọi là «việc đạo đức», hay những nghi thức do con người sáng tạo như việc rước sách đình đám… thì việc giữ những tập tục ấy lại càng ít giá trị hơn. Nên nhớ: tất cả những tập tục này đều tốt, nhưng không phải là cốt tủy: thực hiện được thì tốt mà không thực hiện được cũng chẳng sao. Đức Giêsu đã chỉ cho những người này thấy cái sai của họ: «Ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân(Is 29,13). Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm» (Mc 7,6-8).

Tôi thấy trong nhiều hội nghị Kitô hữu, người ta thường tuân thủ những qui ước minh nhiên (= được qui định rõ ràng) hoặc mặc nhiên (= tự nhiên phải hiểu, phải biết, không cần nói ra). Chẳng hạn như: vấn đề thuộc phạm vi của người nào thì chính người ấy phải nêu lên để bàn. Tuân thủ những qui định ấy là điều rất tốt để bảo vệ trật tự trong hội nghị. Nhưng có những trường hợp mà những vấn đề rất quan trọng có liên quan đến lương tâm của cả hội nghị thì lại không được đem ra bàn, lý do là người có trách nhiệm chính  vì một lý do nào đó không chịu đưa ra bàn. Những người khác tuy bị lương tâm thúc giục phải đưa vấn đề ra, nhưng lại vị nể hay quá tôn trọng quyền ưu tiên của người có trách nhiệm chính, nên cuối cùng vấn đề lương tâm cần thiết phải bàn lại bị cho «chìm xuồng», vì thế công ích bị thiệt hại nặng nề. Khi vị nể hay tôn trọng qui ước kiểu ấy phải chăng người ta đã coi qui ước của phàm nhân quan trọng hơn cả luật của lương tâm, cũng là luật của Thiên Chúa? Đạo đức kiểu đó là đạo đức gì?

  1. «Đạo tại tâm». Đúng rồi! nhưng coi chừng… tâm giả!

Tuy nhiên, nhiều người lại đi đến một thái cực khác là không thèm làm những thể hiện tốt đẹp bên ngoài. Họ ngụy biện rằng «Đạo tại tâm». Họ cho rằng họ đã có cái cốt tủy của lề luật ở bên trong, nên đủ giá trị trước Thiên Chúa rồi. Nhưng thánh Giacôbê tố cáo họ: «Đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,17.26). Nếu tinh thần cốt tủy kia không được thể hiện ra thành những hành động bên ngoài, thì đó là một nghịch lý, mâu thuẫn. Hãy coi chừng cốt tủy kia chỉ là cốt tủy giả hay tâm giả.

  1. Điều quan trọng là bên trong chứ không phải bên ngoài

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: «Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình… Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế» (Mc 7,21-23). Ngài cho thấy: yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bên ngoài. Chính ý hướng ở bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có giá trị hay không. Nhiều người có những hành động rất tốt nhưng lại làm vì những động lực ích kỷ hay gian ác, thì hành động ấy trở nên xấu. Chẳng hạn những hành động giả nhân giả nghĩa nhằm được một lợi lộc nào đó, như bố thí thật nhiều để được khen, để có tiếng là đạo đức hầu lừa đảo người khác, hay làm việc tích cực chỉ nhằm để được lên chức, để nắm được quyền hành hầu thao túng lũng đoạn tập thể. Ngược lại, có những trường hợp «tình ngay mà lý gian», hành động thì có vẻ như xấu, bị kết án, nhưng ý hướng thì tốt lành, nhằm ích lợi cho tha nhân. Họ tuy bị người đời kết án, nhưng lại được Thiên Chúa chúc lành.

Vì thế, trong đời sống tâm linh, người ta phải tu dưỡng cái «tâm» ở bên trong trước: phải có tâm ngay thẳng, thành thật, luôn tôn trọng sự công bằng, biết yêu thương mọi người không phân biệt sang hèn tốt xấu. Khi đã có tâm tốt thật sự, những việc làm của người ấy sẽ tự nhiên đẹp lòng Chúa. Thánh Âu Tinh nói: «Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm!». Khi tâm đã quanh quéo, ích kỷ, sẵn sàng hại người, thì bất kỳ việc làm do tâm ấy thúc đẩy – dù bên ngoài có tốt lành đến đâu – cũng đều mang dấu ấn của tâm ấy, nên không mấy giá trị trước Thiên Chúa.

CẦu nguyỆn

Lạy Cha, xin cho chúng con hiểu rằng sự thánh thiện hệ tại tình trạng tốt đẹp tâm hồn hơn là tại những hành động bên ngoài. Xin cho chúng con biết quan tâm đến việc tu tâm dưỡng tánh, nghĩa là có một tâm hồn ngay thẳng, luôn thành thật, luôn tôn trọng và bênh vực công lý, luôn yêu thương mọi người. Tâm tốt lành ấy mới chính là điều cốt yếu làm nên sự công chính thánh thiện của chúng con, hơn là việc gữ luật lệ một cách chi tiết hay việc làm cho thật nhiều những hành động tốt.

(Nguyễn Chính Kết)

Những Lời Thách Đố được Trả Lời

Tags

,

Những Lời Thách Đố được Trả Lời ??
1-  John Lennon, ca sĩ của ban nhạc The Beatles, Anh quốc. Trong lúc được tạp chí American Magazine phỏng vấn, John Lennon nói:  “Thiên Chúa Giáo sẽ không còn, sẽ biến mất. Tôi không có gì phải tranh cãi về điều đó. Tôi chắc chắn như thế.  Ông Giêsu thì được, nhưng những kẻ theo Ông thì quá ngây ngô (ý muốn nói là bị Ông Giêsu lừa gạt).  Ngày nay, chúng tôi, ban nhạc The Beatles nổi tiếng hơn Ông Giêsu.”  (1966)
Sau khi John Lennon tuyên bố lời trên đây, hắn bị bắn sáu lần. Không biết sau khi bị bắn sáu lần, John Lennon có ăn năn hay không? Nhưng mọi người đã biết ‘The Beatles’ đã chết.
 
2-  Tancredo Neves, người Ba tây (Brazil). Trong lúc vận động tranh cử tổng thống, hắn tuyên bố: “Nếu tôi có được 500,000 người trong đảng bầu cho, thì ngay cả Thượng Đế cũng không thể đẩy tôi ra khỏi chức vụ tổng thống.”
Tancredo Neves được số phiếu hắn muốn, nhưng một ngày trước ngày nhận chức tổng thống, hắn lăn ra chết mà không ai biết lý do tại sao.
 
3-  Cazuza, viết nhạc, ca sĩ, nhà thơ. Trong một buổi trình diễn ở Canecio (Rio de Janeiro), lúc hút thuốc lá, hắn thổi khói thuốc vào không khí và nói: “Thượng Đế, phần đó cho ngươi.”
Hắn bị bịnh liệt kháng (Aids), chết ở tuổi 32, trong tình trạng cực kỳ đau đớn và rên siết mãi mới chết được.
 
4-  Một nhà báo hỏi người thiết lập chiếc tàu Titanic, về sự an toàn của chiếc tàu, thì kẻ thiết lập chiếc tàu, nói: “Ngay cả Thượng Đế cũng không thể đánh chìm được nó.”
Kết quả ra sao, mọi người đã biết.
 
5-  Marilyn Monroe, diễn viên điện ảnh. Trong một xuất trình diễn, được Billy Graham đến thăm.  Bill Graham nói: Chúa Thánh Thần sai ông đến để nói với cô. Nghe xong, Marilyn Monroe, nói: “Tôi không cần Giêsu của ông”. Một tuần sau, người ta thấy xác Marilyn chết cô đơn trong một chung cư.
 
6-  Bon Scott, ca sĩ của ban nhạc  AC/DC.  Một bản nhạc hắn ca vào năm 1979, có câu: “Đừng ngăn cản tôi. Tôi đang đi xuống tận cùng; xuống con đường cao tốc đến hỏa ngục.”
Ngày 19/2/1980, Bon Scott chết vì nghẹt thở, do cơn ói mửa của hắn.
 
7-  Năm 2005, thành phố Campinas, Ba tây (Brazil), có một nhóm bạn lái xe đến đón một cô bạn của họ… Người mẹ cùng đi với cô con gái đến chiếc xe.  Người mẹ lo lắng khi thấy bạn của con gái bà say rượu. Bà nắm tay đứa con gái, lúc đó đã ngồi vào xe:
“Con gái của mẹ. Con hãy xin Chúa cùng đi với con và xin Ngài che chở con.”
Đứa con gái trả lời: “Ông Ta có đi thì vào cốp xe, trong xe không còn chỗ cho Ông ta.” 
Ít giờ sau, tin tức cho biết chiếc xe bị tai nạn, không người nào sống sót. Chiếc xe bị hư hại đến độ, không ai có thể nhận biết đó là xe loại gì, nhưng có một điều làm cho những người cảnh sát hết sức ngạc nhiên, là cốp xe không bị hư hỏng; theo họ, điều đó không thể xảy ra trong một tai nạn khủng khiếp như thế; và có một điêù làm cho mọi người càng ngỡ ngàng hơn, là trong cốp xe có một hộp trứng, nhưng không một quả trứng nào bị vỡ.
 
8-  Christine Hewitt (người Jamaica ), là nhà báo và hoạt náo viên. Cô nói: 
 “Thánh Kinh là quyển sách tồi tệ nhất thế giới đã được viết.”
Tháng sáu năm 2006,  cô bị cháy rụi trong khi cô lái chiếc xe của cô.
 
9-  Năm 1954, sau khi chiếm Miền Bắc, một toán công an Cộng sản vào nhà dòng kín Bùi Chu lục soát. Khi đến Nhà Nguyện, lúc các nữ tu chầu Mình Thánh, một tên công an cộng sản lớn tiếng la lối: “Chúa của các ngươi ở đâu?” Nữ tu chỉ Nhà Tạm trên bàn thờ, tên công an này lấy súng mang trên người nhắm Nhà Tạm, bắn, làm chén thánh và Mình Thánh Chúa đổ ra vương vãi. Bắn xong, hắn vẫn đứng yên, chỉa súng vào Nhà Tạm như muốn bắn tiếp. Các nữ tu vô cùng đau lòng vì Mình Thánh Chúa bị xúc phạm, nên quỳ xuống, van xin anh đừng bắn nữa; nhưng khi chạm đến anh, mới biết linh hồn anh lià xác từ lúc nào rồi.
 
10-  Năm 1963, sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị một số tướng tá phản bội lật đổ, một số người bên lương tràn vào tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên, Huế, đập phá “tàn tích gia đình trị”. Khi thấy bức tượng Thánh Gioan Tẩy Giả, Quan Thầy của Tổng Thống Diệm, một thanh niên trèo lên vác búa đập vỡ mặt mũi bức tượng, nhưng hắn bị trật chân ngã xuống và chết ngay lập tức. Sự kiện này xẩy ra trước mắt nhiều người chứng kiến.
 
11-  Voltaire là kẻ chống Thiên Chúa và đánh phá Hội Thánh Công Giáo rất quyết liệt. Không một lời gian dối và vu oan nào mà ông không làm.  Ông chiêu tập một nhóm lấy tên là “Beelzebub” ( tên của tướng quỷ ). Năm 1753 ông đã lên án Thiên Chúa: “20 năm nữa Thiên Chúa về hưu, vì không còn ai phục vụ Ngài.”
20 năm sau, năm 1773, Voltaire tắt thở trong cái chết thê thảm. Ông thấy những hình ảnh làm ông run sợ, ông hét lên: “Một bàn tay đang kéo tôi đến với Thiên Chúa…Qủy bắt tôi…Tôi trông thấy hỏa ngục.”  Ông tru tréo như thú vật hung dữ. Ông lấy móng tay cấu xé thịt mình ra từng miếng. Một bà gìa thường giúp người hấp hối; sau khi chứng kiến cái chết của Voltaire, đã nói: “Khi ấy tôi ở gần giường của Voltaire đang hấp hối, tôi không muốn nhìn thấy một người vô đạo chết nữa.”
Một người khác cũng chứng kiến cái chết của Voltaire, nói: “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ như Voltaire.”
Nguồn: Posted by: Sang Nguyen <sangnguyen_240@yahoo.com>

Tất Cả Là Do Con Người Gạt Gẫm Nhau

Tags

,

Tất Cả Là Do Con Người Gạt Gẫm Nhau

Image

Khi tứ đại tan rã, hệ thần kinh ngừng hoạt động, thần thức đã ra khỏi thân xác để đi sanh sang cõi khác. Những trò hề hộ niệm được vãng sanh hiện nay cũng khá phổ biến, bởi do con người không hiểu rõ chánh pháp, dễ bị gạt gẫm.

Đạo Phật dạy rằng xác thân chỉ là sự duyên hợp của vật chất, gọi là tứ đại, bao gồm: đất, nước, gió, lửa. Sau khi chết, những thứ này lại trở về với đất, nước, gió, lửa.

Con người ai ai cũng phải chết, và đi đầu thai qua kiếp khác, hoặc thiên đàng hay địa ngục, đều do nghiệp thiện hoặc nghiệp ác, con người đã làm ra khi sanh tiền. Chính con người quyết định kiếp sau đầu thai chốn nào, cõi nào, lành hay dữ, tịnh độ hay ác đạo, chứ không phải do thượng đế hay thần linh nào khác – cũng không do các ban hộ niệm cầu vãng sanh tào lao hiện nay rất nhiều.

Con người quyết định đời sống kiếp này và kiếp sau bằng các hành động qua thân, khẩu, ý hàng ngày, hàng giờ, hàng phút trong cuộc sống hiện tại. Do lòng thương yêu và sự hiếu hạnh – nhưng không học hiểu chánh pháp – khiến cho con người không còn sáng suốt, theo tà pháp, nên nghe quí thầy, quí cô trong chùa, bảo sao làm vậy chứ không có suy nghĩ chín chắn. Quí thầy quí cô này cũng ngu dốt, u mê, đời trước bảo sao, đời sau làm vậy, chẳng rõ chánh tà khác nhau ra sao. Các tăng ni không học hành dẫn dắt theo bao nhiêu người khác đọa lạc – tai hại vô cùng là chỗ này. Đầu tàu lạc đường, hay trật đường rầy, cả đoàn tàu không đến được mục tiêu mong muốn. Bởi vậy bọn trọc đầu đọa lạc dưới địa ngục nhiều hơn người có tóc, chính là nghĩa đó vậy.

Image

Sự tin tưởng thiếu thực tế, không trí tuệ của một số người đã làm giàu cho các chùa và biến các chùa thành một nơi sinh hoạt mê tín chứ không còn là nơi chốn tu hành của tăng ni và cư sĩ nữa. Chùa nào hiện giờ cũng xây tháp hài cốt, khi có thân nhân chết, người ta đem thiêu xác, gửi vào chùa. Khi gửi nắm tro tàn như vậy thì phải tốn bao nhiêu tiền đóng vào và còn phải cúng dường tiền cho chùa rất nhiều hằng năm. Nếu thân nhân không cúng dường tiền thì hũ hài cốt ấy sẽ bị dẹp vào chỗ khuất lấp. Còn ai cúng dường tiền nhiều thì hũ hài cốt sẽ được để trên chỗ sang trọng trong tháp. Nhiều chùa hiện giờ lấy hài cốt làm con tin, để làm tiền người thân một cách phi nhân nghĩa, thiếu đạo đức. Tháp hài cốt là núi tiền, các lễ trai đàn bạt độ mê tín là những mẫu ruộng mầu mỡ xài hoài không hết.

Có nhiều thầy chùa cạo tóc có tiếng là đi tu, nhưng không học hiểu chánh pháp, không rành giáo lý, chỉ lo mua bằng thượng tọa, trèo lên hòa thượng, học tổ chức các lễ trai đàn bạt độ, các lễ vớt vong trên sông trên biển như vớt bèo, các lễ phóng sanh nhưng hại vật, các lễ rải tro trên sông cho người chết được giải thoát. Các loại lễ cúng này hét ra bạc, khạc ra vàng. Thiệt là các trò gạt gẫm của bọn giặc thầy chùa.

Thầy chùa nào biết luyện giọng, biết làm lễ mang màu sắc linh thiêng huyền bí, bẻ tay giậm chân, mặc y áo như kép cải lương rực rỡ xanh đỏ tím vàng, la la, hét hét, ợ ợ, ngáp ngáp, trợn trợn, chui vô màn vô mùng, đứng trên bục cao quơ quơ, rắc rắc, thì người ngu u mê càng tin tưởng và cúng tiền càng nhiều, bởi lẽ ai ai cũng có người thân đã qua đời. Mọi người đều thấy tệ nạn lừa đảo hiện giờ trong các chùa rất lộ liễu, kể cả các hàng gọi là lãnh đạo cao cấp của các giáo hội trong và ngoài nước. Nhà chùa vô hình, vô tình đã biến nơi tu hành thành nơi nhà mồ nghĩa địa, nơi thực hiện sự mê tín của dân gian, gạt gẫm, lừa đảo bá tánh u mê.

Trong lúc con người còn sống mà còn chưa hiểu biết được Cực Lạc, Thiên Đàng ở đâu? Có hay không có? Huống là người chết, nằm trong hũ tro còn nghe thấy được những gì? Nếu người chết rồi quả thật nghe kinh và được sanh về Cực Lạc Thiên Đàng, thì người sống tu hành làm gì cho cực khổ. Khi còn sống, con người cứ lo tạo nhiều tiền nhiều của, bất chấp thiện ác. Khi chết, người đó dặn thân nhân, thỉnh mời hàng trăm thầy chùa, hàng trăm ông cha đến cầu siêu, cầu hồn thì khoẻ quá. Sống ngon chết tốt như vậy ai mà không ham chớ.

Đó là những tệ nạn trong chùa – không phải chính là Phật Giáo – mọi người nên cảnh giác các mánh khoé lừa đảo này. Phật giáo là những giáo lý dạy NGƯỜI SỐNG, ăn hiền ở lành, tu tâm dưỡng tánh, giác ngộ giải thoát, quay đầu hướng thiện (đáo bỉ ngạn) – chứ không dạy con người đợi đến lúc nằm trên giường bệnh mới biết niệm Phật, đợi nằm trong quan tài, trong nấm mồ, trong lò thiêu, hay nằm trong hủ tro, mới chịu nghe kinh kệ. Tất cả đã quá muộn màng. Tất cả là do con người gạt gẫm nhau thôi …..

BBTPHTQ CANADA

Nguồn: Thomas Pham <tvpham48@gmail.com>

Cõi Tạm

Tags

Một cặp vợ chồng già đã trên 80 tuổi mà vẫn khỏe mạnh. Họ ăn uống kiêng khem và tập thể dục hàng ngày. Không may hai cụ qua đời do một tai nạn xe buýt, họ lên thiên đàng và được thánh Phêrô đón tiếp nồng hậu. Thánh Phêrô đưa hai người đi coi nhà bếp khổng lồ, hồ bơi, phòng tắm hơi, sân chơi golf… Lóa mắt vì sự sang trọng của ngôi nhà, cụ ông hỏi thánh Phêrô.
“Chúng tôi có phải trả tiền cho những thứ này không?”
“Tất cả đều miễn phí, đây là thiên đàng mà!”
Đến giờ ăn, thánh Phêrô đưa hai cụ đến môt phòng ăn sang trọng, thức ăn ê hề. Cụ ông hỏi.
“Thưa Ngài, tất cả các món ăn này cũng miễn phí cả sao?”
“Tất nhiên!”
Cụ ông lại rụt rè hỏi tiếp.
“Chúng tôi có thể ăn tùy thích, không phải lo ngại dư mỡ, đường, cholesterol chứ ạ?”
“Không, tôi đã bảo là cụ đang ở trên thiên đường cơ mà! Cụ có thể ăn uống no say tùy thích mà không sợ bị mập phì, đái đường hay nhồi máu cơ tim gì cả.”
Bỗng nhiên mặt cụ ông trở nên đỏ gay, quay sang cụ bà quát to.
“Tất cả do lỗi của bà! Nếu bà không ép tôi phải ăn uống kiêng cữ và tập thể dục hàng ngày thì tôi đã lên đây sớm hơn mười năm rồi!”
Nguồn: ds16group@yahoogroups.com,
Bill Nguyen <bill.ng84@gmail.com>

Nước mắt em làm ướt áo một linh mục

Tags

,

NƯỚC MẮT EM LÀM ƯỚT ÁO MỘT LINH MỤC

Phó Tế Nguyễn Mạnh San

Hầu hết mọi người đều biết, một khi vị tu sĩ nào đã được thụ phong chức Linh Mục rồi, thì vị Linh Mục đó tuyệt đối phải tuân hành các giáo điều của Giáo Hôi Công Giáo truyền dạy.

Mà một trong các giáo điều đó là tất cả các Linh Mục phải duy trì tình trạng độc thân và không được phép luyến ái với bất cứ một người phụ nữ nào sau khi đã được thụ phong chức Linh Mục. Nếu vị Linh Mục nào muốn lập gia đình hoặc vì một lý do gì lỡ vi phạm vào 2 giáo điều vừa kể trên, bắt buộc vị Linh Mục đó phải tự mình tình nguyện nạp đơn lên Giáo Quyền, xin phép đưọc từ bỏ thiên chức Linh Mục của mình, để trở thành một thường dân ngoài đời, không còn năng quyền của một Linh Mục, để cử hành những phép bí tích trong Nhà Thờ, tại những nơi thờ phượng hay tại tư gia nữa; ngoại trừ trường hợp chỉ có một số rất ít, những vị Mục Sư đã lập gia đình rồi, thuộc vài giáo phái Tin Lành, nạp đơn xin được phép chuyển nhập vào Giáo Hội Công Giáo và đơn xin sẽ được Giáo Quyền Tối Cao trong Giáo Hội Công Giáo cứu xét và nếu đơn xin được chấp thuận, thì những vị Mục Sư này sẽ trở thành những vị Linh Mục trong hàng ngũ Linh Mục của Giáo Hội Công Giáo, hoặc có một số ít các Thầy Phó Tế Vĩnh Viễn đã có gia đình rồi, nhưng chẳng may người vợ qua đời sớm và theo nội quy của Giáo Hội Công Giáo, một khi người chồng đã được chịu chức Phó Tế Vĩnh Viễn (Permanent Deacon) rồi, thì sau khi vợ qua đời, không được phép lấy vợ khác, nhưng được Giáo Quyền ban cho một đặc ân, như trong trường hợp các con đã tới tuổi trưởng thành và chúng nó đã có thể tự lập được cuộc sống, thì những Phó Tế nằm trong tình trạng độc thân này, đều có thể nạp đơn xin trở thành Linh Mục lên Giáo Quyền cứu xét và nếu đơn xin được chấp thuận, thì chỉ phải học thêm môn Thần Học từ 1 cho đến 2 năm nữa, là hội đủ điều kiện chịu chức Linh Mục nếu muốn. Sau đây chúng tôi xin tường thuật lại một câu chuyện có thật của một vị Linh Mục giải thích cho chúng tôi nghe về lý do tại sao Ngài không còn là Linh Mục nữa và Ngài đã được Giáo Quyền cho phép cởi bỏ áo tu sĩ, để có một cuộc sống ngoài đời bình thường như trăm ngàn giáo dân khác và Ngài đã lập gia đình. Câu chuyện của cựu Linh Mục này do chính Ngài tâm sự với chúng tôi như sau:

Cứ mỗi năm Tết đến, khi tôi còn là Linh Mục, tôi đều về Việt Nam nghỉ phép thường niên 3 tuần lễ, với mục đích duy nhất là chỉ để thăm viếng thân mẫu của tôi đã già yếu, mà người Công Giáo thường xưng hô với thân phụ mẫu của một Linh Mục là Ông Bà Cụ Cố nếu lớn tuổi hoặc Ông Bà Cố nếu còn trẻ tuổi. Năm đầu tiên tôi về thăm thân mẫu của tôi và một hôm, có một cặp vợ chồng quen thân với Bà Cố tức Mẹ tôi, họ nghe được tin tôi từ Hoa Kỳ về thăm Bà Cố, nên họ đến thăm chào hỏi tôi và bà vợ của ông chồng này, tình cờ kể lại cho tôi nghe một câu chuyện khá thương tâm, về một thiếu phụ bị chồng bỏ, ở cùng trong xứ đạo với Mẹ tôi, chị ta rất ngoan đạo, Mẹ tôi củng biết rõ chị này không bao giờ bỏ Lễ ngày Chủ Nhật. Chị đang phải nuôi 2 đứa con trai, đứa lớn 11 tuổi, đứa nhỏ 9 tuổi, chồng của chị bỏ nhà ra đi, không một lời từ biệt với vợ và 2 con, biệt tăm tích đã gần một năm nay rồi, để đi theo tiếng gọi của tình yêu mới với một cô gái trẻ đẹp, kém chị ta cả chục tuổi. Hàng ngày chị phải dậy thật sớm thổi mấy nồi xôi đậu xanh và đậu đen, để cùng với đứa con trai lớn mang xôi ra chợ bán, đến gần xế trưa 2 Mẹ con mới trở về nhà, vội vàng ăn uống xong xuôi đâu đấy, rồi 2 Mẹ con lại cùng với đứa con trai út, rời nhà để đi ra chợ làm phu khuân vác, dọn dẹp sạch sẽ cho các sập bán hàng lẻ ở ngoài chợ, 3 Mẹ con làm tới tối mịt mới quay trở về nhà. Ngày nào cũng như ngày ấy, cả 3 Mẹ con không được nghi ngơi, ngoại trừ sáng sớm ngày Chủ Nhật, 3 Mẹ con đi dự Thánh Lễ xong, lại ra chợ tiếp tục làm những công việc hàng ngày mà 3 Mẹ con vẫn làm và kể từ khi chồng chị bỏ nhà ra đi, 2 đứa con chị phải nghỉ học ở nhà giúp đỡ Mẹ những công việc lao động vừa được kể trên, mới kiếm được đủ tiền nuôi sống 3 Mẹ con cho đến ngày hôm nay.

Tôi vừa nghe kể xong câu chuyện này, động lòng thương xót và tội nghiệp cho 2 đứa trẻ nhỏ không được đi học, nên tôi liền yêu cầu cặp vợ chồng này, hãy dẫn tôi đến thăm 3 Mẹ con chị ta ở tại nhà chị ta, để tôi nói cho người Mẹ biết là tôi sẵn sàng giúp đỡ chị, bằng cách bảo trợ tài chánh cho 2 đứa con chị được tiếp tục cắp sách đi học trở lại, cho tới khi chúng học xong bậc trung học. Sau khi chị nghe tôi nói thế, chị tỏ ra rất xúc động, chị nói: Con xin hết lòng đội ơn Cha, những điều Cha nói làm con cứ ngỡ là con đang nằm chiêm bao, vì đây là điều ước mong duy nhất của con, mà hàng ngày con cầu xin Chúa ban xuống cho con cách riêng, để làm sao con có thể đưa 2 con của con trở lại trường học, như trước kia hàng ngày, chồng của con vẫn đưa 2 con đến trường, khi anh ấy vẫn còn ở nhà với con. Giờ đây thật là sung sướng hạnh phúc biết bao cho con và 2 con của con, vì Cha đã thay mặt Thiên Chúa đến đây để đáp ứng lời cầu nguyện của con từ bấy lâu nay.

Nhờ vào số tiền hàng năm của tôi gửi về cho chị và chị coi tôi như là người Bố đỡ đầu tinh thần cho 2 con của chị, để giúp đỡ cho 2 cháu được tiếp tục đi học, như tôi đã hứa và sau khi chị trang trải tiền học phí, tiền mua sách vở cho 2 con, chị cho tôi biết vẫn còn dư thừa chút đỉnh, nên 2 cháu không cần phải làm bất cứ một công việc gì nặng nhọc, để phụ giúp chị như trước kia nữa, mà chúng chỉ biết vùi đầu vào sách vở, đến cuối năm cả 2 cháu đều được lãnh nhận phần thưởng danh dự, là 2 học sinh giỏi nhất lớp, được nhà trường khen thưởng và mỗi cháu còn nhận được một trăm Mỹ kim của tôi với tư cách là Bố đỡ đầu tinh thần của chúng từ Hoa Kỳ gửi về, để tưởng thưởng cho chúng học giỏi. Như đã nói ở phần trên, mỗi năm tôi về Việt Nam một lần, để thăm nom sức khoẻ của thân mẫu tôi, mỗi lần về như thế, tôi đều có ghé nhà chị ta để đón 2 đứa con của chị về nhà Mẹ của tôi ăn cơm vài ba lần và để thăm hỏi sức khoẻ của chúng, đồng thời cũng để kiểm điểm lại sự học hành của chúng xem chúng học hành tới đâu. Lẽ dĩ nhiên, những lần tôi đến đón chúng về nhà Mẹ tôi, thì không bao giờ có Mẹ chúng đi theo chúng.

Qua những kinh nghiệm trong công tác Tông Đồ Mục Vụ của tôi là một Linh Mục cho tôi biết, việc gì phải đến thì nó sẽ đến, ngoại trừ Thiên Chúa hay Thượng Đế ra, không ai có thể biết trước được việc gì sẽ xẩy đến cho mình. Tất cả 6 lần trong 6 năm liên tục, tôi về Viêt Nam để thăm viếng thân mẫu tôi và cũng như mọi năm, trong thời gian 3 tuần lễ tôi ở nhà Mẹ tôi, tôi đều có đến đón 2 đứa con tinh thần của tôi về nhà Mẹ tôi ăn cơm và trò chuyện với chúng vài tiếng đồng hồ, xong rồi tôi lại lái xe đưa chúng về nhà Mẹ của chúng, thả chúng xuống trước cửa nhà, mà tôi không cần phải xuống xe để dẫn chúng vào nhà, lúc đón cũng như lúc đưa chúng về, chỉ có một lần Mẹ chúng thấy tôi tới, thì chị vội vàng chạy ra chỗ xe tôi đang đậu để chờ chúng, chị mời tôi vào nhà uống trà, có 2 đứa con cũng ngồi cùng cả đấy, chúng tôi trao đổi với nhau vài ba câu chuyện xã giao, kéo dài khoảng 15 phút, thì tôi đứng dậy xin cáo biệt chị ra về, vì còn phải chở Mẹ tôi đưa tôi đến thăm Cha Chánh Xứ họ đạo Nhà Thờ Tân Định, như đã có hẹn trước với Ngàì.

Năm nay tôi về VN là lần thứ 6 như mọi năm, để thăm Me tôi. Cũng như thường lệ, tôi lái xe đến đón 2 đứa con tinh thần, luôn luôn chúng nó đã đứng chờ sẵn ở trước cửa nhà, khi xe tới, chẳng cần phải nói lời nào, tự động chúng mở cửa xe phía sau và leo lên xe ngay. Nhưng lần này, khác hẳn những lần trước, chỉ thấy Mẹ chúng đang đứng chờ trước cửa nhà và khi xe của tôi vừa chạy tới, thi chị chạy vội ra, mời tôi vào trong phòng khách ngồi chờ 2 cháu, chị cho biết là 2 cháu còn đang mắc bận thay áo quần trong phòng tắm. Trong lúc tôi ngồi trong phòng khách đợi 2 cháu, thì chị ngồi trên chiếc ghế cách xa, đối diện với tôi và nói : Thưa Cha, con hết lòng tạ ơn Cha đã giúp đỡ cho 2 đứa con của con được đi học liên tục gần 6 năm qua, ơn trời biển bao la này của Cha dành cho 2 con của con, tất cả chúng con không biết đến bao giờ mới có thể đền đáp lại ơn này cho Cha, nhưng chúng con sẽ luôn luôn ghi tạc ơn này tận đáy lòng chúng con, cho tới khi chúng con lìa đời. Hôm nay con dám mạnh dạn, để xin Cha cho phép con được bầy tỏ sự thầm kín chân thành nhất từ đáy lòng của riêng con với Cha, là xin Cha bảo lãnh cho 2 đứa con của con được sang Hoa Kỳ tiếp tục sự học của chúng, để chúng nó có một cơ hội tiến thân trên con đường học vấn và nhờ đó, chúng nó sẽ có thể trở thành những nhân tài nổi danh trên thế giới mai sau, góp phần làm vẻ vang cho dân tộc Việt Nam ở quốc ngoại. Để có thể thực hiện được ý nguyện thầm kín này của con, con xin Cha vì tấm lòng nhân từ bác ái của Cha, xin Cha hãy bằng lòng làm giấy hôn thú giả với con một cách kín đáo, chỉ có Cha và con biết chuyện này mà thôi và khi sang tới Hoa Kỳ, con và 2 con của con sẽ cư trú tại một tiểu bang khác, cách xa tiểu bang nơi Cha đang ở, để tránh sự dòm ngó dị nghị của mọi người chung quanh, không làm phương hại đến thanh danh của Cha là một Linh Mục thánh thiện, rồi gắng đợi đến 2 năm sau, Cha mới làm giấy ly dị con, tới lúc đó chúng con đã trở thành thường trú nhân hợp pháp tại Hoa Kỳ rồi, chúng con không còn sợ bị trục xuất trả về VN nữa. Tôi cố gắng ngồi yên lặng để nghe chị nói hết lời, chứ thực ra, vừa nghe chị nói đến câu làm giấy hôn thú giả, thì tôi đã hết hồn, cảm tưởng như có quân khủng bố đang đặt trái bom dưới nệm ghế tôi ngồi và tôi cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, để giải thích cho chị hiểu rõ rằng: Đối với Luật Công Giáo, không bao giờ cho phép một Linh Mục làm một điều gì dối trá trước mặt Chúa và hơn thế nữa, đối với luật pháp Hoa Kỳ lại càng chết tươi, ăn năn tội chẳng kịp, hành động giả vờ lấy nhau làm vợ làm chồng, không chóng thì muộn cũng sẽ bị chính quyền phát giác, tới lúc đó người phối ngẫu ở Hoa Kỳ, sẽ được mời đi nghỉ mát nhiều năm trong trại tù và có thể cộng thêm một số tiền phạt vạ nữa; còn người phối ngẫu từ nước ngoài tới, thì ở trong tư thế sẵn sàng khăn gói quả mướp, chờ ngày lên đường bị tống xuất trở về quê cũ. Vì mới cách đây vài năm taị tiểu bang California, chính quyền tiểu bang hợp tác với chính quyền liên bang, đã khám phá ra cùng một lúc, nhiều cặp vợ chồng giả vờ lấy nhau (Fraud Marriage), nhưng không hề ăn ở với nhau một ngày nào và để áp dụng đúng theo Luật Di Trú Hoa Kỳ (US Immigration Law) đã quy định, thì tất cả những người phạm pháp này, đều bị truy tố ra Toà Án Di Trú (US Immigration Court) xét xử. Nếu can phạm ở đây có quốc tịch, thì chỉ lãnh bản án đi nghỉ mát nhiều năm trong nhà tù, còn nếu can phạm chỉ là thường trú nhân thôi, thì sau khi đã mãn hạn thời gian nghỉ mát ở tù về, thì có thể sẽ bị Sở Di Trú trục xuất đương sự trả về nguyên quán, riêng những can phạm từ nước ngoài vào, thì bị tạm giam để chờ ngày lên đường về quê cha đất tổ.

Tôi vừa mới nói tới đây, chưa kịp giải thích thêm, thì chị đã chạy nhào tới ôm chặt lấy tôi trong vòng tay của chị, ngả đầu lên vai tôi, khóc nức nở, làm ướt đẫm chiếc áo chùng thâm của tôi đang mặc trên người và lần này không còn phải là trái bom nổ chậm đặt dưới nệm ghế tôi đang ngồi nữa, mà hình như có ai đang chích mũi thuốc mê vào người tôi, đưa tôi vào thế mê hồn trận, nên tôi không còn biết trời trăng mây nước ra sao nữa, rồi chị cứ vừa khóc vừa tỉ tê kể lể tràng giang đại hải bên tai tôi, nào là em đã thương yêu Cha từ nhiều năm nay rồi, em biết rõ có một số Linh Mục đã được Giáo Quyền cho phép cởi áo tu sĩ ra ngoài đời lập gia đình có sao đâu, lấy vợ đâu có phải là một hành động xấu xa gì, trái lại hành động này là một hành động can đảm, đáng phục, vì dám công khai thú nhận một sự thật tình yêu công chính, không việc gì phải sợ sệt, dấu diếm trước giáo hội và trước giáo dân của mình. Như thế, rõ ràng trường hợp của Cha, nếu Cha bằng lòng lấy em làm vợ, là vì lòng nhân từ bác ái của Cha, để cứu giúp một thiếu phụ với 2 đứa con còn nhỏ dại vượt trùng dương hàng ngàn dặm, để đến được bến bờ tự do hạnh phúc, chứ đâu có phải vì Cha ham mê sắc dục hay vì mê gái 2 con trông mòn con mắt của em đâu, mà đến nỗi làm Cha phải xin từ bỏ chiếc áo chùng thâm để lấy em và nếu sự việc này cho rằng Cha phạm tội trước mặt Chúa, thì hoàn toàn lỗi tại em vì em đã cám dỗ Cha, chứ Cha đâu có cám dỗ em, Chúa biết rõ từng sợi tóc trên đầu của mỗi người, nên Chúa sẽ hiểu rõ việc làm này của Cha, vì con người ta chỉ có thể che mắt thế gian, chứ không thể nào che mắt Chúa được v.v….. Mà thôi, đúng là ma đưa lối quỷ đưa đường, cứ tìm những phút dặm trường mà đi, sự thể đã ra nông nỗi này rồi, biết nói gì hơn, một khi đôi con tim của hai kẻ đã cùng nhau hoà chung một điệp khúc tình ca bất hủ, mà những ai thương yêu nhau vẫn còn nhớ câu hát: Thương Nhau Cởi Áo Cho Nhau, Về Nhà Mẹ Hỏi Qua Cầu Gió Bay. Thế là tôi đành phải nhắm mắt đưa chân, để thề hứa với chị, là sau khi tôi được giáo quyền cho phép cởi bỏ chiếc áo chùng thâm này ra, thì tôi sẽ quay trở về VN cưới chị làm vợ chính thức và đem 3 Mẹ con chị sang đoàn tụ với tôi ở Hoa Kỳ.

Đúng 1 năm sau, sau khi tôi được Giáo Quyền cho phép tôi trở thành thương dân, tôi đã giữ đúng như lời thề hứa trước kia với chị và tôi đã trở về VN cưới chị làm vợ và đã đưa cả 3 Mẹ con chị sang Hoa Kỳ chung sống với tôi. Đến lúc này, tôi mới hiểu rõ rằng, trong mỗi một cuộc sống của con người trên trần thế, dù lập gia đình hay sống độc thân, trong mọi hoàn cảnh khác biệt nhau và trong mọi môi trường sinh sống khác biệt nhau, mỗi người đều phải trả cho cái giá đắt hoặc rẻ của nó, mà mỗi người đã tự chọn lựa môi trường cho cuộc sống của mình. Nhưng ngay bây giờ, nếu ai hỏi tôi : Nên Lập Gia Đình hay Nên Đi Tu, thì tôi thực tâm sẽ trả lời họ rằng: Nên Đi Tu thì hơn, như người ta thường nói Tu Là Cõi Phúc, Tình Là Giây Oan. Vì tôi là người đã có diễm phúc được từng trải nhiều năm sống trong 2 môi trường khác biệt nhau này, mà nhờ đó, tôi mới biết rõ đời sống vợ chồng không đơn giản như tôi nghĩ khi tôi còn đang trong thiên chức Linh Mục. Quả thật đúng như câu nói: Có nằm trong chăn mới biết chăn có rận và giờ đây, làm tôi nhớ lại những lời nhắn nhủ chân thành của một Linh Mục lớn tuổi, mà tôi kính trọng Ngài như người Anh Cả của tôi, đã nói với tôi trước ngày tôi về VN lần đầu: Tôi biết Cha có một đời sống rất thánh thiện ( Religious life) với lòng tự tin mãnh liệt (Strongly self-confident) vào Đấng Quyền Năng Tối Cao sáng tạo ra trời đất và con người chúng ta, đó là 2 yếu tố tiên quyết, cần phải có đối với những vị tu hành thuộc bất cứ tôn giáo nào, mà Cha đã có, nhưng trên thực tế, nếu có 2 yếu tố này vẫn chưa đủ sức lực, để chống chọi lại những cạm bẫy cám dỗ của đồng tiền và tình dục, mà chúng ta luôn luôn cần phải ý thức và tự cảnh giác lòng mình trước những cạm bẫy cám dỗ này, kẻo không, chúng ta sẽ bị rơi vào cạm bẫy, rồi tới lúc đó lại đổ vạ cho ma quỷ cám dỗ chúng ta. Vậy xin Cha hãy ghi nhớ 2 câu nói sau đây trong đời sống tu hành của chúng ta là: Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh và Lúa Chín Đầy Đồng, Nhưng Thợ Gặt Thì Ít, chứ không Thiếu như nhiều người tưởng lầm. Nhiều lúc ngồi một mình thầm lặng để suy ngẫm lại những lời nhắn nhủ này, tôi mới cảm thấy thấm thía cho cuộc đời hiện tại của tôi.

Phó Tế Nguyễn Mạnh San
Cựu Phụ Tá Trưởng Phòng Tố Tụng
Đặc Trách Luật Sư Đoàn Liên Bang và Nhập Tịch
Toà Án Liên Bang Hoa Kỳ

Oklahoma City, Oklahoma

Nguồn: ds16group@yahoogroups.com,
lien cao <lienthicao@yahoo.com>