Tags
God Not the President is the Center of the Debate
08 Saturday Dec 2018
08 Saturday Dec 2018
24 Thursday May 2018
13 Friday Nov 2015
Posted in Suy Niệm
Did You See God?
One day a 6 year old girl was sitting in a classroom. The teacher was going to explain evolution to the children. The teacher asked a little boy:
Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Tommy, do you see the grass outside?
TOMMY: Yes.
TEACHER: Go outside and look up and see if you can see the sky.
TOMMY: Okay. (He returned a few minutes later) Yes, I saw the sky.
TEACHER: Did you see God up there?
TOMMY: No.
TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.
A little girl spoke up and wanted to ask the boy some questions.
The teacher agreed and the little girl asked the boy:
Tommy, do you see the tree outside?
TOMMY: Yes.
LITTLE GIRL: Tommy do you see the grass outside?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Did you see the sky?
TOMMY: Yessssss!
LITTLE GIRL: Tommy, do you see the teacher?
TOMMY: Yes
LITTLE GIRL: Do you see her brain?
TOMMY: No
LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!
”FOR WE WALK BY FAITH, NOT BY SIGHT” (II CORINTHIANS 5:7)
Don’t forget to pass this on! I love this one. Everyone should
send this to everyone they know, especially today with prayer restricted in schools.
(Source: Email of Rev. Đòan Đình Bảng, Tuyên Úy Ngành Nghĩa Sĩ TNTT)
My own comments on this issue: “Did You See God?”
TEACHER: That’s my point. We can’t see God because he isn’t there. Possibly he just doesn’t exist.
(Cô giáo: Đó là điều tôi muốn nói. Chúng ta không thể nhìn thấy Chúa vì ngài không có ở đó. Rất có thể là Chúa không hiện hữu).
Lời bàn #1: Điều gì mà mắt chúng ta không nhìn thấy thì chưa hẳn là điều đó không hiện hữu.
Mặt khác, một tóan thiên văn gia quốc tế thuộc National Science Foundation, trong thập niên qua, đã khám phá ra hơn 160 hành tinh quay quanh các ngôi sao bên ngòai thái dương hệ của chúng ta (beyond our solar system). Nhờ kỹ thuật mới gọi là “gravitational microlensing”, họ khám phá ra một hành tinh “OGLE-20025-BLG-390Lb” cách xa 20000 năm ánh sáng, gần trung tâm của giải ngân hà (the Milky Way) (x. The Orange Register, Jan. 26-2006, News 14).
Một tóan thiên văn gia khác ở Pasadena, California, loan báo ngày Feb. 8, 2006 rằng họ đã tìm thấy dấu vết của hai thái dương hệ cực lớn (two mega solar systems). Đó là những ngôi sao vĩ đại bao quanh bởi các đĩa bụi không gian khổng lồ có hình dáng hành tinh. Các ngôi sao này lớn gấp từ 30 đến 70 lần mặt trời của chúng ta. Kết quả khám phá này sẽ được đăng trên số báo ngày Feb. 10 của tạp chí Astrophysical Journal Letters (x. The Orange county Register, Feb. 9, 2006, News 5).
LITTLE GIRL: Then according to what we were taught today in school, she possibly may not even have one!
(Vậy căn cứ theo điều mà chúng ta đã được dạy ở trường học hôm nay, thì cô giáo có thễ không có bộ óc!)
Lời bàn #2: Qủa là gậy ông đập lưng ông!
Cứ theo diễn tiến của câu chuyện vể thuyết tiến hóa (evolution) nói trên, cô giáo dùng lối quan sát thực nghiệm để hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và Thiên Chúa, để rồi đi đến kết luận là Thiên Chúa có thể không hiện hữu vì trò Tommy đã không nhìn thấy Thiên Chúa trên bầu trời. Để phản ứng lại lối kết luận dựa vào quan sát thực nghiệm này của cô giáo, cô học trò nhỏ 6 tuổi cũng hỏi trò Tommy về cây, cỏ, bầu trời và cô giáo, để đi đến kết luận là cô giáo có nhẽ không có óc (brain) vì trò Tommy nhìn thấy cô giáo nhưng đã không nhìn thấy óc của cô giáo.
Thực ra, cô học trò nhỏ biết chắc rằng cô giáo có đầu và có cả óc! Nhưng cô học trò chắc có ý muốn nói rằng cô giáo đã không biết xử dụng trí óc mà Chúa ban cho, để suy luận rằng nếu có cây, cỏ, bầu trời thì phải có Đấng tạo ra các thứ đó. Chứ các thứ đó không thể tự nhiên mà có được như thuyết tiến hóa chủ trương.
Nếu qủa cô học trò nhỏ này có ý muốn nói như vậy thì thâm ý của tác giả câu chuyện này nhằm bài bác thuyết tiến hóa đang được dạy trong các trường học công của Mỹ, và đồng thời chê cô giáo là thiển cận, vì chỉ nhìn biết sự vật bên ngòai mà không nhận biết các sự vật bên trong hoặc bên trên các sự vật hữu hình.
Đây qủa là bài học chua chát và đắng cay cho cô giáo vì bị lâm vào cảnh “gậy ông lại đập lưng ông”. Câu chuyện này cũng là một lời cảnh giác cho các phụ huynh có con em đang theo học các trường học nơi thuyết tiến hóa đang được nhồi nhét vào đầu óc non dại của con em họ như một môn khoa học. Còn đối với độc giả như tôi, đây là một câu chuyện rất thú vị và đầy ý nghĩa: thú vị vì tôi hiểu dụng ý của tác giả khi dùng một cô học trò mới 6 tuổi, cở lớp 1 hoặc lớp 2 tiểu học (the first or second grader) mà biết dùng chính những câu hỏi của cô giáo để bài bác lối kết luận hồ đồ của cô giáo, dù cô học trò nhỏ đó chưa chắc đã hiểu thuyết tiến hóa là gì. Hơn nữa, câu chuyện này rất có ý nghĩa vì câu chuyện cũng khiến tôi phải thận trọng suy nghĩ chín chắn trước khi giải thích cho ngay cả trẻ con về một điều gì, để tránh gặp phải cảnh “gậy ông đập lưng ông” như cô giáo trong câu chuyện này.
Lời bàn #3: Con người được tạo dựng hoặc tự tiến hóa?
(Creation vs. Evolution)
Cuộc tranh luận về việc bằng cách nào lòai người đã xuất hiện trên trái đất này đã xảy ra ngay từ sau khi ông Charles Darwin, một tác giả người Anh cho xuất bản cuốn sách nhan đề “On the Origin of Species by Means of Natural Selection” năm 1859, trong đó ông chủ trương rằng các sinh vật trên trái đất này tăng triển là do sự tiến hóa (evolution). Theo thuyết tiến hóa này, lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, nhưng Thiên Chúa đã không tham dự vào sự tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, but God had no part in this action).
Trước khi thuyết tiến hóa ra đời, những người có tín ngưỡng tin vào thuyết tạo dựng (Creation). Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người với hình dạng hiện nay như đã được diễn tả trong Thánh Kinh (God created human beings in their present forms as described in the Bible).
Giữa hai thuyết tạo dựng và tiến hóa, có một thuyết khác được mệnh danh là “Intelligent Design” (tạm dịch là Bộ Óc Siêu Việt). Thuyết này mới xuất hiện gần đây và chủ trương rằng lòai người đã tiến hóa trên hàng triệu năm từ các dạng khác của sự sống, và Thiên Chúa đã chỉ đạo tiến trình tiến hóa này (Human beings have evolved over millions of years from other forms of life, and God guided this process).
Theo kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến vào ngày Sept. 8-11 năm 2005 của CNN/USA Today/Gallup, 58% dân chúng Mỹ tin vào thuyết tạo dựng so với 55% tin vào thuyết tiến hóa và 31% tin vào thuyết Intelligent Design. Ngòai ra, đa số dân chúng Mỹ muốn thuyết tiến hóa (61%) và tạo dựng (54%) nên được dậy trong các trường công lập, trong khi đó chỉ có 43% đồng ý cho thuyết Intelligent Design được dậy.
Tiến trình tranh luận và kiện tụng về thuyết tiến hóa và tạo dựng:
Năm 1925: John Sopes, một giáo sư trung học, bị tố cáo tội vi phạm luật tiểu bang Tennessee về việc trình bầy thuyết tiến hóa của Darwin trong trường công lập.
Năm 1942: Một cuộc thăm dò 3000 giáo sư trung học cho thấy không tới một nửa dậy thuyết tiến hóa cho học sinh.
Năm 1968: Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng luật tiểu bang cấm dậy thuyết tiến hóa nơi nhà trường là vi phạm điều “tự do tôn giáo” của Tu Chính Án Thứ Nhất (the “freedom of religion” clause of the First Amendment).
Năm 1995: Hội Đồng Giáo Dục Tiểu Bang Alabama đòi hỏi các sách giáo khoa đề cập đến thuyết tiến hóa phải kèm theo một câu rằng sự tiến hóa “nên được coi như một giả thuyết, chứ không phải một sự kiện” (evolution “should be considered as theory, not fact”).
Năm 1998: Học Viện Quốc Gia Khoa Học (The National Academy of Science) ban hành một văn kiện kêu gọi thuyết tiến hóa được các nhà khoa học chấp thuận phải được dậy trong các trường công lập.
Năm 2003: Đạo luật “The No Child Left Behind Act” đề nghị rằng các học sinh nên được dậy về các vấn đề tranh cãi liên quan đến sự tiến hóa.
Năm 2004: Hội đồng giáo dục ở Dover, Penn., đòi hỏi các lớp sinh vật học trung học phải dậy intelligent design cùng với thuyết tiến hóa.
Năm 2005: Nhiều hội đồng giáo dục ở Hoa Kỳ đòi hỏi rằng intelligent design phải được dậy kèm theo sự tiến hóa hoặc các sự phê bình về thuyết tiến hóa phải được nêu rõ ra (Nguồn: The Orange County Register, Oct. 18, 2005, News 2).
Lời bàn #4: Ngoài Thánh Kinh, làm sao chúng ta biết có Thiên Chúa? (Other than the Bible, how do we know God exists?)
Thánh Kinh đã mặc khải cho chúng ta biết có Thiên Chúa tòan năng, Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ và con người. Ngài không ngừng mời gọi con người tìm kiếm Ngài để được sống sung mãn và tìm được hạnh phúc thật. Nhưng ngòai Thánh Kinh, làm sao chúng ta nhận biết có Thiên Chúa?
Muốn nhận biết Thiên Chúa, con người phải nỗ lực tìm kiếm bằng trí tuệ, bằng sự ngay thẳng của ý chí, bằng “một tấm lòng thành”, và cũng cần có chứng từ của những người khác để dạy con người biết tìm kiếm Ngài (GLCG đ. 30).
Về chứng từ ngòai Thánh Kinh, một đại giáo phụ của Giáo Hội là thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 (1224-1274) đã nói rằng chỉ dùng lý trí không thôi, con người cũng có thể nhận biết được Thiên Chúa. Trong bộ sách Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica, Part 1, Question 2, Article 3), thánh nhân đã đưa ra 5 luận chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa (Five Ways, Quinque Viae) như sau:
Luận chứng #1: liên quan đến sự chuyển động và thay đổi trong vũ trụ càn khôn. Bất cứ vật gì chuyển động được tức phải có một động lực nào khác làm cho nó chuyển động.
Luận chứng #2: bàn về nguyên nhân và hiệu quả (cause and effect); bởi vì trong thiên nhiên không có có vật nào tự nó cấu tạo thành mà phải có một nguyên lý khởi đầu là Thiên Chúa.
Luận chứng #3: lập luận rằng phải có Thiên Chúa trong mọi sự vật vì mọi sự vật được xuất phát từ Thiên Chúa.
Luận chứng #4: đề cập đến những mức độ hòan hảo hay tốt lành khác nhau của các sự vật. Mọi vật đều tốt lành hoặc hòan hảo ở những mức độ khác nhau nhưng chỉ có một điều tuyệt đối hòan hảo và đúng thực là Thiên Chúa.
Luận chứng #5: liên quan đến mục đích tối hậu và cùng đích của mọi vật; người ta có thể tìm thấy Thiên Chúa qua sự nhìn nhận rằng trong sự trật tự của vũ trụ phải có sự điều hướng hay mục đích, và mục đích hay điều hướng này chính là Thiên Chúa.
Từ 5 luận chứng này, thánh Tôma đi đến kết luận rằng tất phải có một Động Lực Chính (a Prime Mover), một hữu thể hòan hảo (a perfect being), một động lực bất biến (an unmoved mover), đó là nguyên ủy của tất cả tạo vật và là nguyên nhân nhờ đó chúng ta được hiện hữu trên trái đất này. (Nguồn: Matthew Bunson, Enclyclodia of Catholic History, Our sunday Visitor, Inc., Hunting, Indiana, USA, 1995, pp. 700-701).
Thánh Kinh cũng có những đọan ca ngợi Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn như sau:
Lời bàn #5: Hiện hữu, hiện diện và hiện thực
Nhân câu chuyện nêu trên liên quan đến việc Chúa có hiện hữu không, tôi muốn bàn thêm về vấn đề hiện thực: sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong phép Thánh Thể (the real presence of Jesus Christ in the Eucharist). Đây là vấn đề đã được đặt ra từ thời Chúa Giêsu Kitô và vẫn còn tranh luận cho đến ngày nay.
Để có thể hiểu vấn đề hiện thực này, chúng ta cần tìm hiểu và phân biệt các danh từ thường hay được sử dụng liên quan đến vấn đề hiện thực như hiện hữu và hiện diện.
Một hữu thể thì luôn luôn hiện hữu dù không một ai biết đến nó. Sở dĩ người ta không biết đến hữu thể đó vì nó không được nhận diện (vì không ai biết đến nó), và vì nó không được nhận diện nên nó không hiện diện (coi như không có mặt) đối với người ta, và vì nó không hiện diện nên người ta coi như nó không hiện hữu (không có thực). Chẳng hạn một hòan đảo ngòai đại dương xa xăm mà chưa ai biết đến thì hòn đảo này có thực không? Chắc chắn là nó có thực (hiện hữu) mặc dù chúng ta chưa có dịp nhìn thấy tận mắt mà thôi. Cho đến khi người ta tìm ra hòn đảo đó thì hòn đảo đó dù vẫn hiện hữu nhưng nay mới trở thành hiện diện vì đã được người ta nhận diện.
Như vậy, một hữu thể chỉ hiện diện khi nó thiết lập được mối tương quan đối với các hữu thể khác. Một hòn đảo là một vật thể có thực (hữu thể) nhưng chỉ được người ta coi là có thực (hiện thực) khi người ta tìm ra nó (nhận diện), và do đó hòn đảo này mới hiện diện đối với người ta, mặc dù nó đã hiện diện đối với cỏ cây, mây nước và dã thú trên đảo từ lâu rồi.
Một số nhà thần học công giáo thời nay cố gắng dùng hiện tượng luận (phenomenology) (ý niệm hữu thể, hiện hữu, hiện diện) để giải thích sự hiện diện thực sự (hiện thực) của Chúa Giêsu Kitô trong phép Thánh Thể.
Đối với họ, mối tương quan cá vị và thiêng liêng thì thực hơn là mối tương quan vật lý và thể chất. Vì vậy, họ nhìn bánh và rượu trong phép Thánh Thể trong ánh sáng của mối liên hệ đối với Chúa và đối với con người.
Tự bản chất của một hữu thể là mang ý nghĩa nào đó cho một người nào đó, và vì vậy ý nghĩa nguyên thủy của hữu thể nằm ở trong thực tại của chính hữu thể đó, nên nếu một hữu thể không mang một ý nghĩa nào đó đối với một người nào đó thì nó không phải là nó nữa [In their own being, things have a meaning for someone (God, man), an original meaning which belongs to the reality itself, since, without this “having meaning for,” something is not what it is) (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, pp. 112-113]. Chẳng hạn, hột đậu nành (soybean) trước đây chỉ được dùng làm thực phẩm (sữa đậu nành, đậu phụ) thì nay cũng được dùng làm nhiên liệu chạy xe (biodiesel) thay cho xăng dầu (petroleum diesel). Theo nguồn tin của Bộ Năng Lượng Hoa Kỳ, nhiên liệu đậu nành là một lọai nhiên liệu thay thế đang phát triển nhanh nhất ở Mỹ. Số tiêu thụ năm ngóai đã tăng gấp ba tức 75 triệu gallons. Trên thị trường hiện có bán lọai nhiên liệu đậu nành chạy xe hơi với nhãn hiệu “BioWillie” mang tên B20, pha trộn của 80 % xăng dầu và 20 % nhiên liệu chế từ đậu nành (Nguồn tin: The Orange County Register Feb. 9, 2006).
Vậy ý nghĩa của mối tương quan hỗ tương giữa đậu nành và ngừơi sử dụng thay đổi (đậu nành dùng làm thực phẩm hay nhiên liệu) thì bản chất của nó cũng thay đổi (thực phẩm đậu nành hay nhiên liệu đậu nành).
Ngòai mối tương quan do cách sử dụng ấn định, cũng có những mối tương quan do con người có thẩm quyền quyết định; trong những trường hợp này, bản chất thực sự của một hữu thể là do người có thẩm quyền quyết định. Chẳng hạn trường hợp của lá quốc kỳ Việt Nam. Đó chỉ là một mảnh vải màu vàng với ba sọc đỏ do một họa sĩ vẽ ra, và được Vua Bảo Đại quyết định chọn làm lá cờ tượng trưng cho Quốc Gia Việt Nam. Khi đó nó không còn là miếng vải thường nữa mà mang một ý nghĩa hòan tòan khác. Dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi nhưng ý nghĩa mới của nó là biểu tượng cho hồn thiêng sông núi, hồn thiêng dân tộc. Miếng vải có được ý nghĩa mới này là do sự thay đổi về mối tương quan đối với quốc dân Việt Nam. Khi mà mối tương quan thay đổi thì bản chất của miếng vải củng hòan tòan biến đổi.
Trong trường hợp của Thánh Thể cũng vậy. Bánh và rượu khi được truyền phép đã trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Theo quan niệm của thánh Tôma Aquinô ở thế kỷ 13 dựa trên ý niệm triết học về “bản thể và phó thể” (substance and accident) của triết gia Aristote, bản thể của bánh và rượu đã biến đổi thành bản thể của Mình và Máu Chúa Kitô. Công Đồng Tridentô năm 1551 gọi sự biến đổi này là biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation).
Phần lớn các nhà thần học hiện đại không còn dùng ý niệm bản thể của Aristote để giải thích sự biến thể mà dùng ý niệm tương quan của bánh rượu đối với Thiên Chúa và người tín hữu. Bánh rượu sau khi được truyền phép có một ý nghĩa mới. Ý nghĩa mới này không do con người ấn định, nhưng do Con Thiên Chúa. Mối tương quan do Con Thiên Chúa ấn định mang lại ý nghĩa tuyệt đối và ấn định bản thể là Thánh Thể đối với tín hữu. Còn những ai không tin, và do đó không nhìn theo khía cạnh này, họ tự đặt mình ra ngòai một thực tại hiện diện một cách khách quan [In the case of the Eucharist too, a new meaning is given to the bread and wine, not by any man, but by the Son Of God. The relationship which is brought about by the Son of God is, because it is divine, binding in the absolute sense and determines the being of the Eucharist for the believer. Anyone who does no believe, and consequently does not see it in this way, places himself outside the reality which is objectively present – he is outside the order of being (x. Edward Schillebeecks, The Eucharist, 7th edition, Burns & Oates, London, Great Britian, p. 113].
Xưa kia tại Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời cảm tạ rồi phán bảo các môn đệ: “Này là Mình Thầy, hiến tặng vì các con. Các con hãy cầm lấy mà ăn”. Rồi Người cầm lấy chén rượu, cũng dâng lời cảm tạ rồi phán: “Này là Máu Thầy, máu giao ước mới sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội. Các con hãy cầm lấy mà uống. Các con hãy làm việc này mà nhớ đếnThầy” (Lc 22:19-20).
Bánh rượu là thực phẩm nuôi sống con người về mặt thể chất. Nhưng khi Chúa Giêsu phán “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì bánh rượu không còn là thực phẩm vật chất nữa, mà đã trở nên Mình và Máu của Chúa Giêsu để nuôi linh hồn chúng ta.
Sự thay đổi bản thể của bánh và rượu là do ý muốn và quyền năng của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa tòan năng. Ngài đã phán một lời là có vũ trụ và muôn lòai, nên Ngài cũng có thể phán một lời để biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Ngài (x. GLCG đ. 1375).
Còn đối với các tín hữu tin vào Chúa Kitô là Ngôi Lời thì cảm nhận rằng khi họ rước bánh và rượu đã được truyền phép thì họ rước chính Mình và Máu Chúa Kitô. Đối với các tín hữu này, bánh và rượu nay có một ý nghĩa hòan toàn khác, dù mầu sắc và hình dáng bên ngòai không thay đổi, nhưng bản chất đã thay đổi do sự thay đổi trong mối tưởng quan cá vị (inter-personal relationship) giữa bánh rượu và người thụ hưởng. Tương quan ý nghĩa thay đổi thì bản chất của bánh và rượu cũng thay đổi. Sự thay đổi về ý nghĩa của mối tương quan này là cốt lõi (radical) hơn cả sự thay đổi thể lý đơn thuần (purely physical). Sự thay đổi này có thể được gọi là sự thay đổi bản thể (substantial change). Thay đổi bản thể thì sâu xa và tận căn hơn là thay đổi thể chất (E. Schillebeecks, the Eucharist, trang 130-151).
Ngày nay, tuân theo lệnh truyền của Chúa Giêsu là “Các con hãy làm việc ày mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:20), khi linh mục đại diện cho Giáo Hội, cử hành thánh lễ misa, và lập lại lời truyền phép: “Này là Mình Thầy … Này là Máu Thầy” thì lập tức bánh và rượu cũng trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu do quyền năng của Lời Chúa và do tác động của Chúa Thánh Thần (GLCG đ. 1375). Đây là sự biến đổi bản thể hay biến thể (transubstantiation) mà Công đồng Tridentô đã định tín ngày 11 tháng 10 năm 1551: dù hình dáng và mầu sắc bên ngòai không có gì thay đổi nhưng bản chất của bánh và rượu đã biến thành Mình và Máu Chúa Giêsu sau lời truyền phép.
Tuân theo tín điều biến thể của Công Đồng Tridentô, Giáo Hội ngày nay vẫn còn xác tín sự hiện diện bản thể (substantial presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đđ. 1374, 1376), và khi người tín hữu rước lễ là rước chính Mình và Máu Chúa Giêsu. Mặt khác, Giáo Hội ngày nay cũng nhìn nhận rằng phép Thánh Thể còn là một bí tích, nghĩa là một dấu chỉ bề ngòai (sign) để thể hiện hoặc tiềm ẩn một ý nghĩa hay một ơn ích bên trong (what it signified). Dấu chỉ bề ngòai đó là lời truyền phép trên bánh rượu để biến bánh rượu trở thành tặng phẩm của Chúa Kitô là chính Ngài, nghĩa là quà tặng cũng chính là người tặng. Tặng phẩm đây không phải là tấm bánh mà là chính Chúa Giêsu đã hiến tế vì anh em (Object is not bread but Christ); và khi rước lễ, chúng ta lãnh nhận được ơn ích, đó là chính sự sống thần linh của Chúa Giêsu. Bánh là biểu tượng của sự sống (symbol of life), và rượu là biểu tượng cho niềm vui của cuộc sống (symbol of joy of life). Vậy khi Chúa Kitô cầm lấy bánh mà phán: “Này là mình Ta, hiến tặng vì anh em… Này là máu Ta sẽ đổ ra vì anh em” (1 Cor 11:24) thì lời này cũng đồng nghĩa với “Này là sự sống của Ta hiến tặng vì anh em”. Do đó, khi rước lễ là lãnh nhận chính sự sống của Chúa Kitô. qua và trong hình bánh và rượu, chúa Kitô cũng trao tặng cho Giáo Hội món quà tuyệt vời, đó là chính người tặng, chính Chúa Kitô. Đó là sự hiện diện bí tích (sacramental presence) của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu (GLCG đ. 1380).
Dù Chúa Giêsu hiện diện bản thể hay hiện diện bí tích, phép Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin, và vì vậy chúng ta chỉ có thể cảm nhận được bằng đức tin mà thôi dưới sự soi sáng và linh ứng của Chúa Thánh Thần (GLCG Đ. 1381).
Lộc Vũ