Tags
Về Nguồn
* Vũ Ngọc Lộc / ĐS16
Trong dịp đầu năm Bính Tuất (2006), ca khúc “Bonjour Vietnam” (Thương Chào Việt Nam) được gửi đến địa chỉ điện thư (email address) của tôi, kèm theo địa chỉ trang nhà của bài hát http://www.visualgui.com/motion/BonjourVietnam.html
với lời lẽ như sau: “Mến gởi những hình ảnh đẹp về quê hương cùng với ca khúc Bonjour Vietnam do ca sĩ Phạm Quỳnh Anh trình bầy, một ca sĩ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại Bỉ. Bài hát thật ý nghĩa”.
Bài hát tiếng Pháp, nỗi lòng người Việt:
Đây là một bài hát bằng tiếng Pháp của ca nhạc sĩ nổi tiếng ngườI Pháp Marc Lavoine, nhưng lại do một giọng ca nữ ngườI Việt mới 19 tuổi trình bầy. Nghe xong bài hát và xem các hình ảnh đẹp về quê hương kèm theo để minh họa cho nội dung của bài hát, tôi xúc động đến ứa lệ vì thổn thức với nỗi lòng hoài vọng cố hương của người hát, một giọng ca tươi trẻ, thanh thoát nhưng rất trầm ấm và truyền cảm. Tuy giọng ca không mang sắc thái và âm hưởng của giọng nói Việt Nam, nhưng khi cô hát lên tiếng “Vietnam” trong lời ca “Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam” (Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam), tôi nhận được ngay đó là giọng nói của người Việt thuần túy với giọng ca trìu mến về quê hương của mình.
Nỗi Niềm Hoài Vọng Cố Hương:
Bài hát diễn tả tâm trạng hoài vọng cố hương Việt Nam của một người trẻ mang trong huyết quản dòng máu Việt Nam (… mà tôi đã đeo mang tự thưở chào đời … đã cưu mang tôi tự thuở chào đời …). Vì được sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc, nên cô chỉ biết về quê hương VN qua hình ảnh chiến tranh trên phim ảnh. Vì thế người trẻ này muốn tìm hiểu về quê hương mà cô đọc được trong sách báo về những hình ảnh thân thương như làn da, mái tóc và đôi mắt xếch của mình, cũng như cuộc sống lam lủ của người dân trên cánh đồng ruộng, những phiên chợ nổi trên sông với những chiếc thuyền tam bản bằng gỗ, những chùa chiền, tượng Phật, những đền đài, lăng tẩm, những căn nhà và con đường quê hương hoang tàn dổ nát trong chiến tranh … NgườI trẻ này mong muốn và hứa sẽ trở về Việt Nam: “Về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha”, để chào hỏi Viêt Nam, chào hỏi hồn Việt mà cô coi là “hồn tôi” tức hồn mình.
Ước Nguyện Về Nguồn:
Vì niềm xúc cảm do bài hát gây ra trong tâm tưởng tôi, tôi đã chuyển gửi bài hát này tới các con cháu, anh chị em tôi và cả bạn bè quen biết. Tôi cũng thu vào đĩa để nghe đi nghe lại trên đường lái xe đi làm và từ sở về nhà. Càng nghe tôi càng cảm thấy thấm thía tình tự dân tộc và cảm thông sâu xa với nỗi lòng nhớ nhung quê cha đất tổ của những con dân Việt đang tha hương trên toàn thế giới. Họ cũng như tôi đều mong có dịp về thăm quê nhà để nhìn lại tận mắt những di tích còn sót lại sau cuộc chiến, để biết cuộc sống hiện nay của con dân Việt ở lại quê nhà sau 30 năm chấm dứt chiến tranh. Hơn thế nữa, họ muốn về nguồn để tìm lại nguồn gốc của mình, tìm lại hồn Việt mà cũng chính là hồn mình mà cô gái Việt đã cảm nhận qua bài hát Bonjour Vietnam nói trên.
Nào chúng ta hãy về nguồn để sống lại những đặc tính của dân tộc đã được hun đúc và lưu truyền hơn bống ngàn năm văn hiến.
- Về với truyền thống tương thân kết đoàn của dân tộc mà Lạc Long Quân đã nhắn nhủ Âu Cơ khi chia tay: “Dù lên rừng, xuống biển nhưng khi có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau”. Đó chính là Hiến Chương Lập Quốc đã giữ cho dòng giống Lạc Hồng trường tồn trong dòng lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dù bị nô lệ phương Bắc hơn một ngàn năm và ngót một trăm nô lệ phương Tây.
- Về với đạo nghĩa dân tộc: thể hiện bằng luân thường đạo lý qua lối cư xử đầy tình ngườI và tôn tri trật tự: Nghĩa, hiếu, lễ, đễ, tín.
Nghĩa giữa vợ chồng,
Hiếu với cha mẹ,
Lễ với ngườI trên,
Đễ (nhường nhịn) giữa anh em,
Tín với bạn bè.
(Theo Kinh Điển Việt Nam của triết gia Kim Định)
Đạo nghĩa dân tộc còn biểu lộ qua lòng nhân ái và hiếu sinh ngay cả với quân thù:
Lấy chí nhân mà thay cường bạo,
Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn.
(Trích bài Bình Ngô ĐạI Cáo của Nguyễn TrảI)
- Về với tinh thần Hội Nghị Diên Hồng mà toàn dân hội nghị, nhất trí một lòng đánh đuổi quân Mông Cổ ba lần ra khỏi bờ cõi đất Việt dướI thờI nhà Trần. Tinh thần Diên Hồng
là tinh thần dân chủ, với ý dân là ý Trời, và “thuận thiên gỉa tồn, nghịch thiên giả vong”.
- Về với hiếu đạo của dân tộc thể hiện trong ca dao tục ngữ dân gian:
Con ngườI có tổ có tông,
Như cây có cội như sông có nguồn.
hoặc:
Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu
Người ta nguồn gốc từ đâu
Có cha có mẹ rồi sau có mình.
Hiếu với ông bà tổ tiên không những là tưởng nhớ, cúng giỗ gia tiên và quốc tổ mà còn
tiếp tục duy trì và phát triển các di sản do tổ tiên để lại như bảo tồn gian san gấm vóc, phát huy nền Việt Đạo. Việt Đạo là đạo sống của Việt tộc đã được hun đúc và tôi luyện trong dòng sinh mệnh của dân tộc, và đã chứng tỏ khả năng mang lại an vui thái hòa cho con dân Việt. Nền Việt Đạo này được lưu lạI bằng những hình vẽ trên các trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ, và tiềm ẩn trong huyền sử và các truyện huyền thọai dân tộc được ghi lại trong các sách như Lĩnh Nam Trích Quái và Việt Điện U Linh. Trống đồng và huyền sử, huyền thọai dân tộc tiềm ẩn triết lý Tam Tài và triết lý Thái Hòa của Việt tộc.
Tam Tài là Thiên-Địa-Nhân. Đó là triết lý diễn tả mối tương quan giữa con người vớI TrờI và Đất. Con ngườI là kết tinh của Trời với Đất; con ngườI đứng giữa Trời Đất, đầu đội Trời, chân đạp đất; con người được trờI che và đất chở. Triết lý Tam Tài bao hàm nhân chủ tính vì đặt trọng tâm vào con ngườI, và được thể hiện rõ nét trong bài vịnh “Tam Tài” của nhà cách mạng Trần Cao Vân:
Trời Đất sinh Ta có ý không?
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh
Trời Đất in Ta một chữ đồng
Đất nứt, Ta ra, Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che, Đất chở, Ta thong thả
Trời, Đất, Ta đây đủ hóa công.
Triết lý Tam Tài dẫn tới triết lý Thái Hòa: con người do Trời Đất sinh ra, nên được TrờI che và Đất chở để sống an vui thái hòa vì rằng con ngườI tự bản chất có tự do và bình đẳng vì là đồng bào (cùng một bọc trăm trứng), và sống hòa hợp với thiên nhiên (Đất), sống thuận theo đạo lý của Trời (thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong), và sống hài hòa với nhau trong tình người (xem sách “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” và “Văn Lang Vũ Bộ” của triết gia Kim Định).
- Về với tình tự dân tộc: thắm đượm lòng bao dung và hòa hợp giữa người với người.
Có đi nhiều nơi, sống ở nhiều nước, sau bao năm xa quê hương, con dân Việt ở hải ngoại mới cảm thấy nỗi niềm hoài vọng cố hương:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
(Ca dao)
Đến nay đếm lại thời gian
Tha hương lưu lạc đã ngoài ba mươi
Ba mươi năm ở xứ người
Mà sao lòng vẫn nhớ hoài cố hương
Thắp hương khẩn nguyện Ơn Trời
Cho quê hương sớn an vui thái hòa
Cho tôi sớm được trở về
Về thăm Quê Mẹ, thăm nhà Việt Nam.
(Trích bài thơ “Việt Nam – Quê Hương Tôi” của Hồng Ân)
Về nhà vì không đâu bằng nhà:
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Trâu ta ăn cỏ đồng ta,
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ quê.
(Ca dao)
Về nhà để sống tình yêu thương đùm bọc của người trong một nước:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
(Ca dao)
– Về với truyền thống xã thôn:
Truyền thống văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa đã được xuất phát và bảo tồn trong thôn xã. Tiêu biểu cho xã thôn là cái đình làng. Đình làng là nơi dân làng hội họp bầu ra các hương chức cai quản việc làng, là nơi bàn công việc làng nước, nơi cấp phát công điền công thổ cho dân làng, là nơi cúng Thần Hoàng, nơi tổ chức các hội hè đình đám. Xem thế, đình làng là trung tâm sinh hoạt của xã thôn. Xã thôn là một cộng đồng tương thân tương trợ, gắn bó với nhau bằng tình làng xóm. Làng xã xét như cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, bao bọc dân làng trong tình nghĩa đồng bào trên căn bản tự do, bình đẳng và bình sản. Vì vậy, làng xã Viêt Nam xưa là chế độ tạo được nhiều hạnh phúc cho con ngườI hơn cả (xem “Triết lý Cái Đình” và “Văn Lang Vũ Bộ” của Kim Định).
Ca dao dân gian đã diễn tả trọn vẹn tâm tình người Việt đối với xóm làng:
Mải tham lợi, bỏ quê quán tổ
Đất nước người, dù có: như không!
Có ai về tới Đàng Trong
Nhắn nhe bố đỏ liệu trông đường về.
Vui là vui gượng qua thì
Xóm làng xa vắng, vui gì mà vui.
Nhà quê: có họ, có hàng
Có làng, có xóm, lỡ làng có nhau.
(Ca dao)
Về nguồn để cùng nhau múa điệu Văn Lang Vũ Bộ mà tổ tiên Lạc Việt đã khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ xa xưa, để sống đời an vi bên đồng ruộng, và ngủ yên trong chiếc nôi Lạc Việt:
Em sẽ múa điệu Văn Lang Vũ Bộ
Nhịp trống đồng gọi màu nắng ca dao
Đời an vi bên ruộng lúa rì rào
Ru em ngủ trong lòng nôi Lạc Việt.
(trích bài thơ “Cõi Bình An” của Ngọc Danh)
Về để nối lại nhịp cầu Nam-Bắc, để nối lại lòng người:
Để tôi nối lại bờ sông Bến Hải
Nối lòng ngườI vời vợi các xa nhau.
(Trích bài thơ “Giấc Mơ Nhỏ Của Tôi” của Trần Trung Đạo)
Về để tìm lại nguồn gốc của mình, để sống trọn vẹn là ngườI Việt Nam thuần túy:
Nay về thăm lại quê tôi
Cố tìm cho được mảnh đời đã qua
Cuối cùng tôi đã nhận ra
Tự hào hãnh diện mình là Việt Nam.
(Trích bài thơ “Về Lại Quê Nhà” của Hồng Ân)
Về để xây dựng một nước Việt Nam phú cường ở vùng Đông Nam Á:
Việt Nam, dòng giống Tiên Rồng
Việt Nam, truyền thống oai hùng đấu tranh
Việt Nam, tài trí giỏi giang
Việt Nam, mãi mãi trường tồn vinh quang
Việt Nam, nước VIỆT phương NAM
Việt Nam, siêu VIỆT trong vùng Đông NAM.
(Trích bài thơ “Việt Nam – Con Rồng Cháu Tiên“ của Hồng Ân)
Về Nguồn: Từ Ươc Mơ Đến Hiện Thực:
Người Việt Nam xa quê hương ai mà chẳng mong ước được về quê để sống lại những tình tự dân tộc và để xây dựng một nước Việt Nam phú cường. Nhưng trên thực tế, con dân Việt ở hải ngoại về bằng cách nào đây?
Nghìn trùng xa cách:
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nước nhà thống nhất, nhưng hơn một triệu người lại bỏ nước ra đi, lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Thế giớI biết đến ngườI Việt qua hình ảnh can trường của những người tỵ nạn vượt biển mà họ gọi là “Boat people”. Người Việt Nam hải ngoại nay được coi là một loại “Do Thái da vàng”. Sau 30 năm lưu vong, một thế hệ trẻ Việt Nam đã lớn lên ở hải ngoại. Họ cũng thắc mắc về quê hương, về nguồn gốc của cha ông mình. Họ cũng ước nguyện về nguồn. Nhưng về như thế nào khi lòng người Việt bị phân cách, không phải bởI con sông Bến Hải, cũng không phải bởi đại dương ngàn trùng xa cách, mà chính bởi đại dương ý thức hệ đối nghịch Quốc – Cộng.
Về nguồn trên căn bản hồn Việt:
Làm sao bắc được nhịp cầu cảm thông qua một đại dương cách biệt về ý thức hệ bao la như vậy. Chắc chỉ còn cách là về nguồn dân tộc. NgườI Việt trong nước và Việt kiều hải ngoại, cả hai cùng “về nguồn”: về cội nguồn dân tộc để thực sự thống nhất lòng ngườI, thống nhất dân tộc Việt trong tâm trí. Ước nguyện này có thể thực hiện được không? Hẳn là được vì con dân Việt tộc có cùng một mẫu số chung là hồn Việt, không những thể hiện qua làn da, màu tóc, vóc dáng Việt Nam, dòng máu Lạc Hồng, mà sâu xa hơn nữa là tâm hồn Việt Nam mà chúng ta gọi là hồn nước, hồn thiêng sông núi, là “hồn nhất trí siêu tuyệt đã từng bao phen phất cờ chống Bắc xâm, mở đường Nam Tiến, đoàn tụ tâm trí muôn con dân trong nước như một linh hồn, nhờ đó mà nước tồn tại đến ngày nay” (trích cuốn “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” của Kim Định, Saigon, 1967).
Về nguồn vì tương lại của Việt tộc:
Hiện nay vì hoàn cảnh đất nước, vì vận nước đổi thay mà con dân Việt phảI chia ly cách biệt, kẻ ở người đi. Nhưng vì vận mệnh của dân tộc, vì tương lai của các thế hệ con cháu mai sau, ngườI Việt trong và ngoài nước cùng về nguồn dân tộc để thống nhất dân tộc Việt, để chấn hưng đất nước còn quá nghèn nàn lạc hậu so với đà tiến bột vượt bực về kinh tế và kỹ thuật của các nước láng giềng trong vùng Đông Nam Á, để hàn gắn những vết thương do cuộc chiến để lại về các mặt giáo dục, văn hóa và xã hội: để không còn thấy cảnh những thiếu nữ Việt Nam hiền lành chất phác bị đem bán như nô lệ sang các nước lân bang dưới hình thức cô dâu, công nhân; để phục hồi tinh thần và lẽ sống cho giới trẻ Viêt Nam đang lạc hướng trong các tệ nạn nghiện ngập ma túy, phóng đãng tình dục gây ra bệnh Aids tràn lan; để tránh cảnh đầu tư ngoại quốc bóc lột sức lao động của công nhân Việt Nam; để tạo cho mỗi con dân Việt có cơ hôi học hành và làm việc theo khả năng và sở nguyện; để phục hồi phẩm giá con người trong nền văn hóa nhân bản tâm linh với luân thường đạo lý và hiếu đạo của dân tộc Việt. Về nguồn để đừng bao giờ tái diễn cảnh vượt biên hãi hùng trên biển cả: con dân Việt bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, quẳng xuống biển, và đốt phá tầu để phi tang. Chúng ta hãy nghe những vần thơ nghẹn ngào, đau thương, tủi nhục và uất ức của hai em gái Việt mất cha mẹ và anh chị em trên đường vượt biển tìm tự do:
Bé Thùy Linh 9 tuổi kể lại rằng:
….
Chúng phá nát chiếc ghe bé nhỏ
rồi bỏ đi sau khi đắc thắng cười
Mẹ khóc, ôm xác ba nóng hổi
Em rẩy run, nức nở, kinh hoàng
Sao ba lại bỏ em với mẹ.
….
Từ đó,
Em không còn cả ba và mẹ
Nhìn bạn bè mà thèm lắm thầy ơi!
Có nhiều đêm em hỏi ông trời
Mẹ trên đó có nhớ em không hở??
Thầy cho em tạm dừng, dang dở
Nhớ mẹ rồI, em đang khóc thầy ơi!
từ hôm nay và suốt cuộc đời
em sẽ chẵng còn ba mẹ nữa …!
(Trích bài thơ “Bài Văn Về Mẹ” của Thùy Linh & Vi Kha
từ trang nhà http://www.nolaviet.com/me/thotlvk.htm )
Bé gái Việt Nam mới chừng lên sáu lên năm kể lại rằng:
….
Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đã sống sót sau sáu tuần trên biển
Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tầu
chị của em hải tặc bắt đi
Sóng cuốn mất ngườI em trai một tuổI
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Ðã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt
Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại
….
Nơi cha chết không tiếng kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu.
(Trích bài thơ “Em Bé Việt Nam và Viên Sỏi” của Trần Trung Đạo
từ gia trang http://www.trantrungdao.com/me/ttdthome30.htm)
Về Nguồn: Niềm Tin và Hy Vọng
Về nguồn để chấn hưng đất nước như trên là cả một công trình vá biển lấp trời mà chỉ cả hai bên hợp tâm hợp lực trên nền tảng tình dân tộc mới mong có thể thực hiện được. Chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng như vậy vì “khi nguồn sức mạnh của ý chí quật cường và lương tri tổng hợp của dân tộc được khơi dậy sẽ không có một thế lực chính trị nào dù bạo ngược tới đâu có thể cưỡng lại được.” (trích bút ký “Tôi Phải Sống”, trang 602, của Lm. Nguyễn Hữu Lễ).
Môt bằng chứng lịch sử là dân tộc Do Thái, sau bao ngàn năm lưu lạc mất nước, thế mà họ vẫn tái lập được quốc gia Do Thái từ năm 1948 nhờ tinh thần quốc gia được gợI lên trong cuốn sách “Quốc Gia Do Thái” của một người Do Thái lưu vong. Về nguồn là con đường dài đầy chông gai mạo hiểm, nhưng Nguyễn Bá Học đã nhắc nhở con dân Việt đừng ngại khổ sợ khó vì “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại nhúi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc không ai làm nổi, đó là nhờ có gan mạo hiễm”.
Nếu con dân Việt chúng ta không ngại núi e sông, không sợ mạo hiểm, chúng ta có thể về nguồn dân tộc được vì hiện nay chúng ta có sẵn những điều kiện thuận lợi cơ bản sau đây.
- Việt Nam ta có sẵn di sản tinh thần của tổ tiên để lại. Đó là cơ sở cho việc thống nhất dân tộc. Nhưng di sản đó hầu hết lại là sách không lời, là kinh vô tự, đã có quá lâu đời và bị vùi lấp trong các làn sóng phế hưng của lịch sử chống ngoại xâm. Nên rất ít người nhận thức được và đa số tưởng như không có. Như vậy thì nay chỉ còn vấn đề là khai quật di sản đó lên và dùng những khoa học nghiên cứu tân tiến như khảo cổ, uyên tâm (tâm lý miền sâu) và cơ cấu luận để “đọc ra” được nội dung của các kinh vô tự đó, và làm cho hợp với cảm quan con ngườI thời đại về nội dung cũng như cách diễn đạt nền đạo lý của tổ tiên dựa trên nhân chủ tâm linh này. (xem cuốn “Hưng Việt” của Kim Định)
- May mắn thay, triết gia Kim Định đã tiên phong khai phá con đường về nguồn dân tộc từ hơn năm chục năm nay, ngay từ khi còn ở quê nhà, bằng công trình khảo cứu và biện tập các bộ sách về nguồn như Việt Nho, Việt Triết và triết lý An Vi, tổng cộng gồm 34 quyền. Triết gia tin tưởng là con đường phục hưng Việt Đạo này sẽ “đặt nền tảng sâu xa cho sự thống nhất của dân tộc và có khả thể đem lại hạnh phúc đích thực cho con người”
(Phần kết luận trong cuốn sách “Hưng Việt” của Kim Định).
- Ngoài bộ sách về nguồn trên, triết gia Kim định cũng đã cổ xúy và thành lập phong trào nghiên cứu và phổ biến Việt Nho, Việt Triết và triết lý An Vi tại nhiều nơi có đông người Việt định cư như tại Mỹ, Canada, Úc Châu, Anh, Pháp, Đức v.v.
- Ngoài công trình đóng góp trên của triết gia Kim Định, trên mạng lưới điện toán toàn cầu (Internet), người ta cũng tìm thấy nhiều bài nghiên cứu về triết lý, tư tưởng, văn hóa, lịch sử, văn chương và nghệ thuật Việt Nam trên các gia trang (websites) như Mạng Lưới Dũng Lạc (dunglac.net), Tư Tưởng Việt (www.dunglac.net/tutuongviet), VietCatholic.net, Vietnam4all.net, Viện Triết Đạo (http://members.cox.net/vientrietdao),
Viện Việt Học (www.viethoc.net), Việt Nam Net (www.vn.net), Du Ca Việt Nam (www.ducavn.com), Thư Viện Việt Nam (www.thuvienvietnam.com), Việt Nam Thư Quán (http://vnthuquan.net), Việt Nam Style (http://vn-style.com), v.v.
- Vấn đề còn lại là chúng ta tiếp tục công trình phục hưng nền Việt Đạo bằng cách thu thập và hệ thống hóa di sản tinh thần của tổ tiên thành bộ kinh điển Việt tộc mà triết gia Kim Định đề nghị đặt tên là Ngũ Kinh Việt Tộc: Kinh Hùng, Kinh Ước, Kinh Ngữ, Kinh Nghĩa và Kinh Lạc.
Kinh Hùng: gồm 15 truyện đầu trong quyển “Lĩnh Nam Trích Quái” do Trần Thế Pháp thâu thập vào thế kỷ 15 và sau đó Vũ Quỳnh hiệu đính vào năm 1492. Các truyện huyền thoạI này nói về bản chất nước Văn Lang vào giai đoạn nguyên sơ của nước nhà.
Kinh Ước: sẽ mô thức hóa những nét đặc trưng của văn hóa Việt tộc là nét song trùng hay là lưỡng hợp tính (dual unit), và được biểu hiện bằng vật biểu “Tiên Rồng” mà sau này Nho Giáo gọi là “âm dương” làm nên kinh dịch. Đó là nền tảng của văn hóa Việt Nho. Huyền thoại nói Hùng Vương có “sách ước” thì chính là chỉ kinh dịch đặt nền tảng trên âm dương mà khởi đầu là nét song trùng hay lưỡng hợp. Vì vậy toàn thể Kinh Ước có thể tóm vào ba chữ Tiên-Rồng-Hùng, còn kinh dịch gọi là âm-dương-hòa.
Kinh Ngữ: là bản thâu tóm các lời tự phát của dân gian gồm ca dao, tục ngữ, đồng giao, phương ngôn. Đó là văn hóa của dân Việt.
Kinh Nghĩa: bao gồm đạo lý chung của Việt tộc về cách đối xử giữa người với người trên căn bản tình người, và được thể hiện qua ngũ thường là nghĩa, hiếu, lễ, đễ, tín và các lễ nghĩa khác như quan, hôn, tang, tế.
Kinh Lạc: bao gồm nền ca vũ nhạc phong phú của dân Lạc Việt để diễn ta những mốI cảm xúc như vui, thương, mừng mà trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ chỉ ghi lại được một phần nếp sống an lạc của dân Việt xưa.
(xem bài “Kinh Điển Việt Nam” của triết gia Kim Định).
- Song song với công trình biên khảo lâu dài này, chúng ta cần truyền bá truyền thống văn hóa dân tộc cho thế hệ con em từ trong gia đình cho đến các trung tâm Việt Ngữ, các trung tâm sinh hoạt văn hóa của các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, các phong trào và đoàn thể trẻ như Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể, hướng đạo Việt Nam trên toàn thế giới. Càng nhiều người Việt tìm hiểu và đóng góp vào bộ kinh Việt tộc này, ý thức về nguồn càng gia tăng và chúng ta càng có triển vọng về nguồn để phục hưng Việt Đạo, đem lại thống nhất dân tộc, và mưu cầu hạnh phúc đích thực cho con dân Việt.
Giờ đây chúng ta hãy lắng nghe lời Mẹ Việt Nam tha thiết mời gọi con dân Việt trở về với cội nguồn của Việt tộc để yêu Mẹ, thương nhau:
“Lũ con lạc lối đường xa
Có con nào nhớ mẹ ta thì về”
….
“Về đây xây đắp mối tình
Mối tình Việt Nam
Yêu mẹ già
Thương mẹ ta
Đàn con nhỏ
Nhớ yêu nhau
Đàn con nhỏ
Nhớ thương nhau.”
(trích trường ca “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy”)
Để đáp lại lời Mẹ gọi về, mời các bạn cùng với tôi vào trang nhà của ca khúc Bonjour Vietnam
http://www.visualgui.com/motion/BonjourVietnam.html để cùng với người con gái Việt, Phạm Quỳnh Anh, cất tiếng hát về nguồn: “Về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha”, và để chào hỏi hồn Việt Nam.
Bonjour Vietnam
Sáng tác: Marc Lavoine
Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née.
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je ne sais de toi que des images de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère …
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam .
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui me portent depuis que je suis née.
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les marchés flottants et les sampans de bois.
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère …
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher mon âme, mes racines, ma terre…
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).
Thương Chào Việt Nam
Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi
mà tôi đã đeo mang tự thuở chào đời.
Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi,
Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thốt.
Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola (*), [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người.
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam.
Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang tôi tự thuở chào đời.
Hãy kể tôi nghe về căn nhà, con đường, hãy kể tôi nghe những điều chưa biết,
Về những phiên chợ nổi trên sông và những con thuyền tam bản bằng gỗ.
Tôi chỉ biết quê hương qua những hình ảnh của chiến tranh,
Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi.
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam.
Chào hỏi giùm những người cha của tôi, những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá,
Chào hỏi giùm những bà mẹ của tôi, những phụ nữ đang cong lưng trên ruộng lúa,
Trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh,
tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha…
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi
Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam (2 lần)
(Bản dịch của anh Đào Hùng – Pháp – trên diễn đàn của Silicon Band)
(*) Francis Ford Coppola là đạo diễn Mỹ thực hiện bộ phim kinh điển về chiến tranh Việt Nam Apocalypse Now (Ngày Tận Thế).